Trong ngày cuối cùng trước khi lên đường ra đi, Sanya đến Tổng cục đường hàng không Bắc cực và tòa soạn báo “Sự thật”. Ở đâu anh cũng lưu lại số điện thoại riêng của tôi. Khi anh nói cho tôi biết việc ấy, tôi phát hoảng lên.
- Sao anh lại làm thế? Nếu họ gọi điện hỏi em là ai thì em biết trả lời thế nào?
- Em cứ trả lời rằng tôi là Katerina Ivanovna Tatarinova Grigorieva, – Sanya nói giọng nghiêm trang.
Tôi ngỡ rằng anh đùa. Nhưng sau khi anh đi chưa được ba ngày đã có người gọi điện đến hỏi Katerina Ivanovna Tatarinova Grigorieva thật.
- Vâng, tôi đây!
- Chúng tôi ở tòa báo “Sự thật”.
Một nhà báo tôi thường gặp trên tờ “Sự thật” nói rằng bài báo của Sanya đã gây một tiếng vang khá lớn, thậm chí cả Viện nghiên cứu Bắc cực cũng cử người đến tìm hiểu bài báo và tác giả của nó.
- Chị hãy chúc mừng thành công của chồng chị đi!
Tôi muốn cải chính rằng anh ấy chưa phải là chồng của tôi. Nhưng không hiểu sao cuối cùng tôi lại chẳng nói được lời nào.
- Nghe nói chị là con gái của thuyền trưởng Tatarinov phải không?
- Đúng thế ạ.
- Chị còn giữ được những tài liệu về cuộc đời và hoạt động của ba chị không?
Tôi trả lời rằng có, nhưng rất tiếc là nếu chưa được sự đồng ý của Aleksandr Ivanovich – lần đầu tiên trong đời tôi gọi Sanya bằng tên cúng cơm và tên đệm – thì tôi không thể sử dụng những tài liệu ấy được.
- Thế thì chúng tôi sẽ viết thư cho anh ấy vậy…
Tạp chí “Hàng không dân dụng” cũng gọi điện thoại cho tôi, hỏi số tạp chí có đăng bài “Làm thế nào để ổn định máy bay trong khi có bão tuyết?” của Sanya sẽ gửi về đâu cho tác giả – tôi chưa hề biết việc anh ấy viết bài báo này. Tôi nói địa chỉ cho tạp chí và yêu cầu gửi đến hai quyển, một quyển tôi sẽ giữ lại xem, còn quyển kia gửi cho Sanya. Về sau báo “Văn học” cũng gọi điện thoại hỏi tôi: Grigoriev là ai, có phải là một nhà văn không?
Song quan trọng nhất vẫn là cuộc nói chuyện với đồng chí Ch. Tôi không biết Sanya đã nói với ông ấy những gì về tôi, nhưng qua dây nói, ông ấy bắt chuyện với tôi rất thân mật và tựa hồ như đôi bạn cũ vậy.
- Đã lĩnh tiền tử tuất chưa?
Tôi không hiểu.
- Tiền tử tuất của ba cô ấy mà!
- Chưa ạ.
- Cần phải viết một cái đơn!
Sau đó ông ta cười, bảo rằng ở Tổng cục đường hàng không Bắc cực người ta đang phát hoảng lên vì chính bố tôi là người đã phát hiện ra vùng đất Bắc địa, thế mà ở đó người ta lại ghi là do người khác phát hiện.
- Nói tóm lại là tôi có cảm giác như bị nhầm lẫn… Tôi không thích những cuộc nói chuyện như thế.
- Tôi tưởng công việc của đội thám hiểm đã được quyết định rồi!
- Chính ra là đã quyết định đâu vào đấy cả rồi, nhưng bây giờ thình lình lại bảo là chưa quyết định xong. Tôi có nói với họ rằng cái chính là hãy để anh ấy đi cùng với con tàu “Pakhtusov”. Nhưng họ trả lời là ở đó đã có người lái rồi. Thôi thì có rồi cũng được, chả lo. Sanya của chị vốn là con người có ý chí và bản lĩnh.
Khi nói đến mấy chữ “Sanya của chị”, giọng ông ta trầm hẳn xuống, nhưng lại đặc biệt rõ ràng.
- Thôi nhé, tôi vẫn ở nguyên chỗ cũ. Khi nào rảnh mời chị đến chỗ chúng tôi chơi nhé.
Tôi đáp rằng tôi sẽ rất vui sướng được đến thăm ông và rồi chúng tôi chào nhau tạm biệt.
Hầu như ngày nào tôi cũng nhận được một bức thư của Romashov gửi đến, có khi đến hai bức. Trên phong bì có ghi dòng chữ “Đội thăm dò địa chất số 2, Cục địa chất Bashkir”, tựa như công văn gửi cho một cơ quan nào vậy. Mà thực ra cũng đúng là như thế, mấy năm ấy bản thân tôi cũng giống như một cơ quan, nếu không thì tôi chẳng có lý do gì để lưu lại Moskva làm việc cả. Nhưng dùng địa chỉ công tác của tôi để gửi thư rõ ràng là một việc rất nực cười, vậy mà ngày nào anh ta cũng lặp đi lặp lại cái trò cười ấy!
Lúc đầu tôi còn bóc ra xem, nhưng về sau cứ để nguyên như thế gửi trả, sau nữa thì chẳng xem mà cũng chẳng gửi trả nữa. Không hiểu cớ sao tôi rất sợ phải đốt những bức thư ấy, nên dần dà chúng bị vứt bừa bãi khắp nơi trong nhà. Có lúc vô tình chạm phải chúng, tôi vội vàng giật phắt tay lại.
Khi gặp tác giả những bức thư ấy, tôi cũng có một cảm giác hệt như thế. Trước kia, lúc nào anh ta cũng kêu om lên là bận, nhưng bây giờ, lần nào tôi bước chân ra khỏi nhà cũng bắt gặp anh ta trên đường phố. Đến nỗi tôi không thể hiểu nổi là anh ta lấy đâu ra lắm thì giờ như vậy. Trong các cửa hàng và rạp hát tôi cũng thường gặp anh ta. Những lúc ấy thật là khó chịu vì anh ta cứ chào, còn tôi cứ lờ đi. Anh ta có vẻ muốn tiến đến gần, còn tôi thì chỉ chực lẩn đi cho nhanh.
Có lần anh ta đến gặp Valya kể lể khóc lóc rất thương tâm; nhưng khi Valya đem chuyện tuyệt giao giữa mối tình của những con khỉ đen ra kể để trêu anh ta, thì anh ta nổi khùng lên, chửi rủa ầm ĩ.
Nói tóm lại anh ta đã chiếm một vị trí khá lớn trong cuộc sống của tôi. Nhất là về sau này, tôi như bị sa vào tình trạng ốm dở, mỗi khi tôi nhắm mắt lại là hình ảnh anh ta lập tức hiện ra trước mắt. Anh ta đóng bộ lễ phục màu tro mới tinh tươm, đầu đội chiếc mũ dạ rất nghiêm chỉnh. Có một lần anh ta nói với tôi rằng anh ta đội chiếc mũ ấy là dành riêng cho tôi.
Đương nhiên việc đến nhà Romashov để lấy những tài liệu do Vyshimirsky giao cho anh ta trước đây, đối với tôi là một ý nghĩ kỳ lạ. Đó là một ý nghĩ tàn nhẫn, đến với anh ta sau khi đem trả lại cho anh ta tất cả thư từ và hoa mà anh ta đã có lòng tặng tôi. Song bây giờ càng nghĩ tôi càng lấy làm thú vị về một chuyến đi như thế. Tôi tưởng tượng mình sẽ mở cửa bước vào tòa nhà anh ta ở như thế nào, rồi anh ta sẽ cuống quýt lên, chẳng nói được lời nào, chỉ biết trố mắt nhìn tôi; và sau đó mặt anh ta sẽ tái đi, anh ta sẽ lật đật chạy theo dọc hành lang, mở cửa phòng của mình ra như thế nào… Còn tôi sẽ lạnh lùng nói:
- Misha, tôi có chút việc muốn phiền anh.
Điều hết sức lý thú là mọi việc đã diễn ra trong thực tế đúng hệt như tôi tưởng tượng.
Lúc ấy anh ta đang mặc bộ quần áo ngủ ấm áp, màu xanh nhạt. Hình như anh ta vừa từ trong nhà tắm ra nên tóc chưa kịp chải, rủ từng mớ tóc ướt vàng hoe xuống trán. Mặt anh ta tái mét, người ngẩn ra im lặng, mãi khi tôi cởi chiếc áo khoác ngoài ra, anh ta mới sực tỉnh, chạy vội lại phía tôi:
- Katya!
- Misha, tôi có chút việc muốn phiền anh, – tôi vẫn giữ cái giọng lạnh lùng ban đầu. – Anh mặc quần áo và chải tóc đi. Tôi sẽ chờ anh ở đâu?
- Vâng, đúng là nên như thế, mời…
Anh ta chạy dọc hành lang và mở rộng cửa phòng của anh ta ra. Anh ta nói:
- Xin chờ ở đây. Tha lỗi nhé…
- Sao lại thế, xin anh tha lỗi cho tôi thì có.
Năm ngoái ba người chúng tôi đến thăm anh ta: Nikolai Antonych, bà tôi và tôi. Suốt cả buổi tối đến chơi, bà tôi luôn tìm cách nhắc khéo rằng anh ta vay của bà tôi bốn chục rúp đến bây giờ vẫn chưa trả.
Lần ấy tôi đã rất ưa căn phòng của anh ta. Lần này, khi bước vào, tôi càng cảm thấy nó xinh xắn vô cùng. Đấy là một căn phòng được trang trí lịch sự, gây cho người ta cảm giác nhẹ nhõm: tường quét vôi ve, cửa và tủ trong tường sơn màu xanh nhạt. Các thứ dụng cụ trong nhà đều trang nhã, đẹp đẽ. Nói tóm lại mọi thứ đều được bày biện đúng chỗ, nom rất thuận mắt. Qua cửa sổ có thể nhìn thấy toàn bộ quảng trường Sobachy. Đó là một nơi tôi yêu thích ở Moskva. Không hiểu vì sao từ thuở bé tôi đã rất gắn bó với cái quảng trường này. Từ đó tôi yêu lây cả tấm bia kỷ niệm những con chó đã hy sinh trên quảng trường cùng những con đường đổ về đó.
- Anh Misha, – khi anh ta bước vào phòng với cái đầu chải bóng mượt, bộ quần áo mới màu xanh tôi chưa thấy bao giờ và mùi nước hoa thơm gắt, tôi lên tiếng. – Hôm nay tôi đến đây để đáp lại tất cả những bức thư anh gửi cho tôi. Sao anh lại dám viết bậy bạ rằng nếu không lấy anh thì suốt đời tôi sẽ phải hối hận! Thật là đồ trẻ con, anh có biết rằng, ngày nào anh cũng viết cho tôi nhưng tôi không buồn nhìn tới những bức thư ấy không. Chính anh cũng biết rõ rằng, từ xưa đến nay chưa bao giờ tôi có ý định lấy anh, vì vậy hoàn toàn không có căn cứ để viết rằng tôi đánh lừa anh.
Sắc mặt anh ta thay đổi thật ghê gớm. Khi mới bước vào phòng, anh ta có vẻ rất phấn chấn, nôn nóng, để lộ một niềm hy vọng sôi nổi, nhưng chưa dám tự tin hoàn toàn. Còn giờ đây, theo từng lời, từng câu tôi nói ra, niềm hy vọng đó đương tắt dần và người anh ta rũ xuống như cái xác không hồn. Anh ta quay đi, mắt nhìn dán xuống sàn.
- Nếu muốn nói rõ tại sao trước kia tôi cho phép anh nói đến chuyện ấy thì phải mất rất nhiều thời gian. Trong đó có rất nhiều lý do. Nhưng anh cũng là một con người thông minh! Anh vẫn biết rõ rằng tôi không hề yêu anh!
- Nhưng sống với cậu ấy em sẽ không có hạnh phúc!
- Tại sao anh lại gọi tôi là “em”? – Tôi hỏi giọng lãnh đạm. – Tôi sẽ đi ngay bây giờ.
- Nhưng sống với cậu ấy em sẽ không có hạnh phúc, – Romashov lắp lại.
Hai đầu gối anh ta run lên, mấy lần nhắm mắt lại một cách kỳ lạ. Tôi bỗng nhớ có lần Sanya nói rằng anh ta ngủ mở mắt.
- Tôi sẽ giết chết các người và giết chết cả tôi! – Cuối cùng anh ta lắp bắp.
- Nếu quả thực anh tự giết mình thì đấy là việc tốt thôi, – tôi nói, giọng hết sức bình tĩnh. – Tôi không định tranh cãi với anh đâu. Song có điều tôi muốn hỏi anh, anh có quyền gì nói ra những lời đó? Anh đã giở đủ mọi thứ trò ma quái, làm như trong thời đại của chúng ta có thể dùng trò gian giảo ngu xuẩn ấy mà lấy được vợ! Anh là con người đã mất hết phẩm đức, nếu không hằng ngày anh đã không lẵng nhẵng bám theo tôi từng bước như một con chó. Anh hãy im mồm mà nghe tôi nói, bởi vì tôi đã biết tỏng tất cả những gì anh định nói rồi. Bây giờ tôi hỏi anh: anh đã lấy những tài liệu gì ở nhà Vyshimirsky?
- Tài liệu gì kia?
- Misha, đừng có giả vờ như thế. Anh thừa biết là tôi đang nói vấn đề gì. Đấy là những giấy tờ anh dùng để dọa dẫm Nikolai Antonych rằng trước kia ông ta là con buôn, sau này anh lại dùng những giấy tờ ấy để gây sức ép với Sanya, buộc anh ấy phải rời bỏ tôi và đi khỏi nơi này. Hãy đưa ngay các thứ giấy tờ ấy ra đây, có nghe rõ không? Đưa ngay ra đây!
Anh ta nhiều lần nhắm mắt lại và thở dài. Sau đó anh ta định quỳ xuống. Nhưng tôi đã nói rất to:
- Misha, tôi đố anh! Anh có nghe tôi nói gì không?
Anh ta cố ghìm mình, hai hàm răng nghiến chặt, vẻ tuyệt vọng cùng cực hiện trên nét mặt anh ta khiến tôi động lòng.
Chẳng phải vì tôi thương xót gì anh ta đâu! Nhưng tôi có cảm giác, hình như tôi cũng có sai vì đã làm cho anh ta đau khổ như thế, thậm chí không nói lên được câu nào nữa. Nếu anh ta mắng cho tôi một trận có lẽ tôi lại khoái hơn. Song anh ta lại cứ im thin thít, chẳng mở miệng nói được câu nào.
- Misha, – tôi nói tiếp và bắt đầu xúc động, – anh nên biết rằng tất cả những giấy tờ ấy bây giờ đối với anh hoàn toàn không cần thiết nữa. Dẫu sao sự việc cũng đã qua rồi, không có cách nào thay đổi được. Có điều là tôi cảm thấy rất hổ thẹn, khi tất cả các báo chí đều nói đến bố tôi thì tôi hầu như chẳng biết một tí gì về bố tôi cả. Những tài liệu ấy rất cần cho tôi, cho chính tôi chứ không phải cho một ai khác!
Khi tôi nói đến mấy chữ “tài liệu ấy rất cần cho tôi”, không biết anh ta nghĩ những gì mà mắt anh ta long lên. Anh ta ngửng phắt đầu, đi lại nhẹ nhàng trong phòng. Có lẽ anh ta đã nghĩ đến Sanya.
- Tôi chẳng đưa cái gì hết, – anh ta nói giọng bướng bỉnh.
- Không, anh phải đưa! Nếu anh không đưa tôi sẽ cho rằng tất cả những lời anh viết trong thư cho tôi trước đây đều là những lời giả dối.
Đột nhiên anh ta chạy ra khỏi phòng, để lại một mình tôi. Lúc này chung quanh im ắng khác thường, chỉ có tiếng trẻ con nô đùa và một đôi lần tiếng còi ô tô từ dưới đường phố vọng lên. Mãi hồi lâu anh ta vẫn không quay lại khiến tôi rất sốt ruột. Giả thử anh ta liều lĩnh giở trò gì đó thật thì làm thế nào? Tôi chợt rùng mình và liền bước ra hành lang nghe ngóng. Không có gì khác thường cả – chỉ có tiếng nước máy chảy róc rách ở đâu đó.
- Misha!
Cánh cửa buồng tắm hé mở, tôi nhìn vào và thấy anh ta đang đứng cúi lom khom xuống bể nước tắm. Ngay lúc ấy tôi không hiểu anh ta đang làm gì, trong phòng tắm tranh tối tranh sáng, anh ta không bật đèn.
- Tôi ra ngay bây giờ, – anh ta nói rất mạch lạc, không quay đầu lại.
Anh ta đứng, người cúi gập, thò đầu vào vòi nước. Nước chảy xuống mặt, xuống vai, và bộ cánh mới bị ướt đầm đìa.
- Anh làm cái gì thế? Anh điên đấy à!
- Cô đi ra đi, tôi sẽ ra ngay bây giờ! – Anh ta nhắc lại, giọng cáu kỉnh.
Mấy phút sau, anh ta quay lại thật. Anh ta mặc áo không có cổ, mắt đỏ ngầu, mang ra bốn quyển vở học sinh màu xanh.
- Giấy tờ đây, – anh ta nói, – tôi không còn giữ tí gì nữa đâu đấy. Cầm lấy.
Có thể đây là một trò lừa dối nữa. Bởi vì tôi giở một quyển vở ra xem, hình như trong đó có chữ in – đúng là một trang xé trong sách ra, – nhưng lúc này không còn gì có thể nói với anh ta được nữa. Tôi đành phải cảm ơn anh ta một cách khách sáo:
- Cảm ơn, Misha!
Tôi trở về nhà và để ra mấy tiếng đồng hồ, thậm chí cả một buổi chiều dài đằng đẵng để đọc những quyển vở màu xanh và ép mình phải quên đi cái bộ mặt ghê tởm ấy, quên đi cái dáng điệu rũ rượi, tả tơi như con chim bị đạn ấy, khi anh ta bước vào phòng với bộ quần áo ướt sũng.