Đó là một ngày chủ nhật. Nhà Tatarinov sắp có khách đến ăn cơm trưa. Katya đang vẽ lại bức tranh “Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa người Tây Ban Nha và dân da đỏ” ở trong cuốn “Những phát hiện mới của thế kỷ”. Còn tôi thì bị cụ Nina Kapitonovna trưng dụng xuống làm bếp. Bà cụ có vẻ hồi hộp, luôn luôn lắng tai nghe và bảo tôi:
- Xuỵt, có tiếng chuông gọi cửa.
- Đó là ở ngoài phố đấy bà Nina Kapitonovna!
Nhưng bà cụ vẫn chăm chú lắng nghe.
Cuối cùng bà cụ lên phòng ăn và thế là đến lúc có chuông lại không được nghe thấy. Tôi ra mở cửa. Thầy Korablyov bước vào. Ông mặc chiếc áo bành-tô mỏng màu sáng, đầu đội mũ phớt cùng màu. Lần đầu tiên tôi trông thấy ông ăn mặc chỉnh tề như vậy.
Khi ông hỏi bà Maria Vasilievna có nhà không, giọng ông hơi run run. Tôi đáp: “Có”. Nhưng ông vẫn đứng mấy giây đồng hồ không cởi áo ngoài ra ngay. Sau đó ông vào gặp bà Maria Vasilievna. Tôi thấy bà cụ Nina Kapitonovna rón rén đi từ phòng ăn ra. Tại sao bà cụ lại phải rón rén, sao bà cụ lại hồi hộp và có vẻ bí ẩn như vậy?
Bắt đầu từ giờ phút đó chúng tôi không làm việc gì ra hồn được nữa. Bà cụ Nina Kapitonovna ngồi gọt khoai tây thì con dao cứ như tuột khỏi tay. Bà cụ chạy lên phòng ăn như để lấy một cái gì đó, nhưng lúc bà cụ quay lại thì hai tay vẫn chẳng cầm gì cả. Cứ mỗi lần xuống bếp, bà cụ lại nhặt một củ khoai tây để gọt, do đó giờ đây trong rổ có rất nhiều củ mới chỉ gọt một bên. Tôi không còn hiểu ra sao nữa. Có khi bà cụ nhặt một củ khoai gọt dở, cắt nhỏ ra, rồi đăm chiêu ném cả vào nồi xúp. Đúng là bà cụ đang bận tâm điều gì. Nhưng cái gì mới được chứ? Nhưng rồi tôi cũng biết ngay vì bà cụ không phải là người biết giữ bí mật.
Lúc đầu bà cụ lên nhà rồi quay lại chẳng nói chẳng rằng, chỉ lấy tay phác những cử chỉ khó hiểu đại khái có thể đoán thế này: “Lạy Chúa tôi, chuyện gì sẽ xảy ra đây?”
Về sau bà cứ lẩm bẩm một mình. Sau nữa bà thở dài và bắt đầu nói chuyện. Cái tin thật lạ lùng. Thì ra thầy Korablyov đến để cầu hôn với bà Maria Vasilievna. “Cầu hôn” là thế nào thì tất nhiên tôi đã biết. Ông muốn lấy bà này và đến để hỏi xem bà có đồng ý không?
Vậy rốt cuộc bà có đồng ý không? Giá không có tôi ở dưới nhà bếp chắc hẳn bà cụ Nina Kapitonovna cũng đem chuyện này ra thảo luận với những cái nồi, cái xoong của cụ. Bà cụ không thể nào im lặng được.
- Ông ta nói, anh sẽ trao tất cả, cả cuộc đời anh cho em, – không rõ lúc bà cụ ở phòng ăn xuống bếp lần thứ ba hay lần thứ tư đã nói lại như vậy. – Anh không hề tiếc một tí gì hết.
Tôi thận trọng nói:
- Thật thế à?
- Anh không tiếc gì hết, – cụ Nina Kapitonovna trịnh trọng nhắc lại. – Anh biết rõ cuộc sống của em, cuộc sống của em thật đau khổ, thấy em mà đau lòng.
Bà cụ vừa định nhặt củ khoai lên thì lại chạy ra ngoài. Lúc cụ trở vào thì nước mắt đầm đìa.
- Ông ta bảo từ trước đến nay vẫn muốn có gia đình, – bà cụ thuật lại. – Anh là một kẻ cô độc. Ngoài em ra anh chẳng cần đến ai nữa. Đã từ lâu anh cùng chia đau khổ với em. Đại loại cứ như thế.
“Đại loại cứ như thế” là câu cụ Nina Kapitonovna tự thêm vào. Khoảng mười phút sau bà cụ lại đi ra, lúc quay lại trông cụ rất băn khoăn.
- Anh đến mệt về những người đó, – bà cụ nhắc lại, mắt chớp chớp. – Họ quấy rầy, ngăn cản anh làm việc. Em biết là anh nói đến ai đấy. Hãy tin anh, đó là một con người đáng sợ.
Cụ Nina Kapitonovna thở dài rồi ngồi xuống.
- Không, bà ấy không thể nhận lời lấy ông ta. Bà ấy thì rầu rĩ mà ông ta thì cũng luống tuổi rồi.
Tôi chả biết nên trả lời bà cụ ra sao nên chỉ thận trọng nói:
- Thế hả bà?
- Hãy tin anh, đó là một con người đáng sợ, – cụ Nina Kapitonovna đăm chiêu nhắc lại. – Rất có thể! Lạy Chúa phù hộ cho! Rất có thể!
Tôi ngồi nghiêm chỉnh. Bữa cơm trưa bị bỏ đấy, những giọt nước trăng trắng lăn trên mặt bếp: nồi nước luộc khoai tây cứ sôi sùng sục mãi…
Bà cụ lại đi ra và lần này ở lại trên phòng ăn đến mười lăm phút. Lúc quay lại bà cụ lim dim đôi mắt, phủi tay nói:
- Không lấy, từ chối rồi. Lạy Chúa! Một người đàn ông tốt như thế!
Xem ra thì chính bà cụ cũng không biết nên vui hay nên buồn về việc bà Maria Vasilievna từ chối không lấy thầy Korablyov.
Tôi nói:
- Tiếc thật!
Cụ Nina Kapitonovna ngạc nhiên nhìn tôi:
- Chứ sao, cũng có thể đi bước nữa, – tôi nói thêm. – Bà ấy còn trẻ.
- Đừng nói bậy… – Cụ Nina Kapitonovna gắt lên.
Bỗng bà cụ làm ra vẻ trang trọng, đủng đỉnh đứng lên nhẹ nhàng ra khỏi bếp và gặp thầy Korablyov ở phòng treo áo. Mặt ông tái đi, bà Maria Vasilievna đứng bên cửa lặng lẽ nhìn ông mặc áo. Nhìn mắt bà thì biết là bà vừa mới khóc.
- Tội nghiệp, thật tội nghiệp! – Cụ Nina Kapitonovna lẩm bẩm như nói một mình.
Thầy Korablyov hôn tay bà cụ, còn bà cụ thì hôn lên trán ông. Do đó mà bà cụ phải kiễng chân lên còn ông thì phải cúi xuống.
- Ông Ivan Pavlovich, ông là bạn của tôi, cũng là bạn của chúng tôi, – cụ Nina Kapitonovna trịnh trọng nói. – Ông cần biết rằng bao giờ ông đến đây cũng đều như về nhà mình vậy. Ông là người bạn tốt nhất của Masha, tôi biết và Masha cũng biết như thế!
Thầy Korablyov lặng lẽ cúi đầu chào. Tôi rất thương hại ông. Tôi vẫn không hiểu được, tại sao bà Maria Vasilievna lại từ chối không lấy ông. Theo con mắt tôi thì hai ông bà rất xứng đôi.
Chắc hẳn bà cụ chờ bà Maria Vasilievna sẽ gọi cụ và kể lại xem ông Korablyov ngỏ lời ra sao và bà ấy đã từ chối thế nào. Nhưng bà Maria Vasilievna lại không gọi. Trái lại bà khóa trái cửa buồng và có thể nghe thấy tiếng chân bà đi đi lại lại.
Katya vẽ xong bức tranh “Cuộc gặp gỡ đầu tiên của người Tây Ban Nha và dân tộc da đỏ” muốn khoe với mẹ nhưng bà chỉ ở trong phòng nói vọng ra: “Chờ lát nữa con ạ!”
Nói tóm lại là từ lúc ông Korablyov ra về, trong nhà buồn hẳn đi và sau đó càng buồn hơn khi Nikolai Antonych vui vẻ trở về, báo rằng không phải có ba người khách như ông đã dự đoán mà có những sáu người sẽ đến thăm và ăn cơm trưa.
Dù muốn hay không, lúc này bà cụ Nina Kapitonovna cũng phải làm cho cẩn thận. Đến cả Katya cũng được mời xuống bếp cùng làm. Cô lấy miệng cốc xắn những miếng bột nhào thành những cái bánh tròn. Cô làm rất say sưa, mặt đỏ bừng lên, khắp người đều dính bột, cả trên mũi, cả trên tóc. Nhưng chẳng bao lâu cô đã chán, thế là cô quyết định không dùng cốc nữa mà đi lấy lọ mực cũ ra để xắn, cho thành hình ngôi sao chứ không phải những khoanh tròn nữa.
- Để cho đẹp, bà ạ, – cô ta khẩn khoản nói với cụ Nina Kapitonovna.
Sau đó cô lại ném những miếng hình ngôi sao vào một đống và nói là sẽ làm bánh nướng một mình. Tóm lại là cô chả giúp được gì mấy.
Sáu vị khách! Những ai vậy? Tôi ở trong bếp nhìn ra và đếm.
Người đầu tiên bước vào là ông trưởng phòng giáo vụ Ruzhichek, có biệt hiệu là ông “Faddey cao thượng”. Tôi không biết cái biệt hiệu ấy ở đâu mà ra, ai cũng biết ông ta cao thượng thế nào! Theo sau ông này là giáo viên Likho, người béo lùn, trán hói, có cái đầu dài nom rất buồn cười. Sau đó là một người nữa cũng là giáo viên. Rồi đến bà người Đức bước vào, bà cũng là người Pháp bởi vì bà dạy cả tiếng Đức và tiếng Pháp. Bà giáo Serafima của chúng tôi cũng đến. Bà vẫn đeo chiếc đồng hồ ở trước ngực. Người cuối cùng bước vào không ngờ lại là Vozchikov, học sinh lớp tám của chúng tôi. Vozchikov là học sinh điển hình của trường “Lyadov”. Hắn ăn mặc rất chỉnh tề, thậm chí còn thắt cả chiếc thắt lưng da khóa sắt, trên khóa có mấy chữ “TTHLM”. Những chữ này có nghĩa là Trường thực hành Lyadov Moskva. Hắn là đại biểu của học sinh các lớp trên trong hội đồng nhà trường.
Tóm lại là hầu như toàn thể hội đồng nhà trường có mặt ở đây cả. Mời gần hết Hội đồng nhà trường đến ăn cơm trưa thì thật là một điều kỳ quặc.
Tôi ngồi ở trong bếp nghe xem họ bàn tán những gì. Cửa để ngỏ. Đầu tiên Likho nói về vấn đề “thực phẩm”. Ông ta nói rằng sắp phát hành loại giấy bạc mới. Hôm nay một cân bơ giá mười bốn triệu rúp chứ ngày mai thì chỉ còn có hai mươi cô-pếch y như hồi trước chiến tranh vậy. Hôm nay phải trả người gác cửa mười triệu rúp chứ ngày mai thì chỉ mười cô-pếch. “Mà lão còn cúi đầu cám ơn rối rít nữa là khác”.
- Hừ, tôi thật dại, vừa đem bán mất cái khăn bàn được hai trăm ba mươi triệu rúp, – bà Serafima Petrovna thở dài nói.
Sau đó họ đàm luận về thầy Korablyov. Chà chà! Thì ra ông ta là một người bợ đỡ chính quyền Xô Viết. Ông ta cố sức làm việc để “mưu toan địa vị”. Bộ ria cũng đem nhuộm. Ông ta tổ chức ra cái đội kịch rất tai hại ấy chẳng qua cũng chỉ là để “gây thanh thế” mà thôi. Trước kia ông ta có vợ rồi nhưng đã làm cho vợ phải chết. Trong các cuộc họp ông ta nhỏ những “giọt nước mắt cá sấu”.
Tôi không hiểu “nước mắt cá sấu” là cái gì, nhưng khi nghe nói những câu này, trong đầu tôi bỗng hiện ra hình ảnh thầy Korablyov lúc ở trong phòng bà Maria Vasilievna đi ra: sắc mặt ông tái đi, bộ ria cụp xuống y như ria gián. Thế là tôi hiểu cả chuyện đội kịch, cả chuyện lấy vợ, cả chuyện “nước mắt cá sấu” (bất kể câu này nghĩa là thế nào) tất cả những chuyện họ nói đều là giả dối hết. Họ là kẻ thù của ông ấy. Đó chính là những người mà hôm nay ông vừa nói với bà Maria Vasilievna “Anh đến mệt vì những người này, họ quấy rầy, ngăn cản anh làm việc”.
Cho đến câu “nước mắt cá sấu” thì đó mới chỉ là chuyện phiếm thôi. Nhưng tôi nghe thấy tiếng Nikolai Antonych nói và hiểu rằng đó không phải là chuyện phiếm mà là một âm mưu. Họ muốn đuổi thầy Korablyov ra khỏi trường.
Nikolai Antonych bắt đầu từ xa xôi:
- Công tác sư phạm, trong số các nhân tố giáo dục ngoại cảnh, bao giờ cũng có đề ra nghệ thuật.
Sau đó ông ta xoay câu chuyện sang giáo viên Korablyov và trước hết “phải nhìn nhận tài năng của ông ta”. Nguyên nhân cái chết của vợ ông chẳng quan hệ gì đến chúng ta cả. Chúng ta chỉ quan tâm đến “biện pháp và tác động của nó đối với trẻ em”. Điều làm cho chúng ta lo lắng là Ivan Pavlych đưa trường học theo một phương hướng có hại. Do đó chúng ta phải hành động theo “bổn phận thiêng liêng của nhà giáo dục, theo bổn phận của những người công dân Xô Viết bình thường”.
Lúc đó bà cụ Nina Kapitonovna thu dọn những cái đĩa không lạch cạch làm tôi nghe không rõ Nikolai Antonych nói nghĩa vụ thiêng liêng của nhà giáo dục vạch ra cho ông ta làm gì. Sau khi cụ Nina Kapitonovna bưng món thứ hai lên phòng ăn, tôi nghe câu chuyện chung mới hiểu họ định làm gì.
Thứ nhất, trong cuộc họp hội đồng nhà trường sắp tới phải đề nghị giáo viên Korablyov “khi giảng bài địa lý chỉ hạn chế trong phạm vi chương trình”. Thứ hai, hoạt động của ông ta sẽ bị coi là “sự tha hóa các tư tưởng giáo dục lao động”. Thứ ba, giải tán đội kịch nhà trường. Còn điều thứ tư, thứ năm vân vân nữa. Như vậy nhất định Korablyov sẽ bực mình mà ra đi. Như lão Faddey “cao thượng” đã nói “trải chiếu ra mời đi”.
Đây đích thị là một kế hoạch bỉ ổi. Tôi rất lấy làm lạ là bà Nina Kapitonovna lại chịu nhịn được, không tham gia một câu nào. Nhưng chỉ một lúc sau thì tôi hiểu đầu đuôi. Bắt đầu từ khi mang món thứ hai lên là bà cụ bắt đầu thấy tiếc về việc bà Maria Vasilievna đã từ chối không lấy thầy Korablyov. Bà cụ chẳng nghĩ chuyện gì khác nữa, và cũng chẳng nghe thấy gì nữa. Bà cụ cứ lẩm bẩm gì đó rồi nhún vai, thậm chí có lần cụ còn nói toáng lên:
- Thế đấy! Bây giờ thì mẹ cũng có nghĩa lý gì!
Đúng là cụ đang giận bà Maria Vasilievna không hỏi ý kiến cụ trước khi cự tuyệt ông Korablyov.
Khách khứa ra về hết rồi mà tôi vẫn không biết nên làm gì nữa.
Thật là một điều quá xúi quẩy bởi vì thầy Korablyov lại đến xin cầu hôn vào đúng cái ngày này. Giá ông ta cứ ngồi nhà thì lại hóa hay. Nếu thế thì tôi có thể kể lại toàn bộ câu chuyện đã nghe được cho bà Maria Vasilievna biết. Nhưng bây giờ thì không tiện, thậm chí còn không thể nói được nữa: bà ấy không ra ăn cơm trưa, cứ ở trong buồng khóa trái cửa lại và không cho ai vào. Katya ngồi làm bài. Bỗng nhiên cụ Nina Kapitonovna nói rằng cụ rã rời cả chân tay, chỉ muốn ngủ, nói đoạn cụ liền đi nằm và ngủ ngay. Tôi thở dài chào tạm biệt và ra về.