Đúng vào hôm mà cuối cùng tôi quyết định đến nhà ông bác sĩ thì ở trường chúng tôi ngay từ tờ mờ sáng đã xôn xao náo động ầm lên. Đã tìm thấy con nhím của Valya. Thì ra nó bò lên trần nhà, và không biết làm sao lại rơi vào cái thùng đựng cải bắp cũ.
Có lẽ nó nhớ ra rằng suốt cả mùa đông nó đã không ngủ, cũng có thể là vì nằm trong thùng suốt hai tuần lễ nên nó yếu đi, trông hình thù nó chả ra sao cả. Dù sao thì cũng phải cố bán nó ngay đi, vì chắc là nó sắp ngoẻo rồi. Khi người ta động vào mũi nó, nó cũng không giấu cái mõm nó đi, không cuộn tròn lại và xù lông ra nữa. Những sợi râu hung hung quanh mồm nó xệ xuống. Tóm lại con nhím này nguy kịch lắm rồi, chỉ còn cách đưa nó đến trường đại học mà thôi, ở trường đại học có một phòng thí nghiệm thường hay mua nhím. Valya lấy một cái quần cũ gói con nhím mang đi. Một giờ sau nó quay về rầu rĩ ngồi xuống giường.
- Họ sẽ mổ nó, – Valya bảo tôi rồi mím môi mếu xệch để khỏi bật ra tiếng khóc.
- Mổ thế nào?
- Rất đơn giản. Nghĩa là rạch bụng nó rồi moi tất cả các thứ ở trong đó ra. Thương thật.
Chúng tôi cãi nhau một lúc về chuyện có phải ruột gan con nhím nào cũng ở cùng một chỗ như nhau không.
- Thôi đủ rồi, mặc xác nó. Cậu sẽ mua một con khác. Họ trả cậu bao nhiêu?
Valya im lặng mở nắm tay ra. Vì con nhím đã gần tắt thở rồi nên người ta chỉ trả có hai mươi cô-pếch.
- Mình có ba mươi cô-pếch, – tôi nói. – Chúng ta góp nhau lại mua một cái cần câu rút đi.
Tôi cố ý nói đến cái cần câu rút để an ủi cậu ta. Cần câu rút là một loại cần câu có thể xếp ngắn lại được, dây câu cuộn vào một vòng bánh xe con, do đó có thể ném lưỡi câu có mồi ra cách bờ đến bốn mươi thước. Tôi trông thấy thứ này từ hồi còn ở Ensk. Lão cảnh sát trưởng ở Ensk đã câu cá bằng loại cần câu này.
Chúng tôi góp tiền lại, thậm chí còn đem những đồng tiền mười cô-pếch và năm cô-pếch ra đổi lấy một đồng năm mươi cô-pếch bằng bạc mới toanh. Tôi chưa hề trông thấy đồng năm mươi cô-pếch bằng bạc bao giờ, không hiểu sao loại tiền này rất ít khi thấy.
Câu chuyện con nhím của thằng Valya làm tôi mất bao nhiêu thì giờ. Khi tôi dứt ra để đến thăm ông bác sĩ thì trời đã sẩm tối. Nhà ông ấy ở phố Zhubovsky, cách chỗ chúng tôi rất xa. Mà đi tàu điện bây giờ phải mua vé chứ không như hồi năm 1920 nữa. Thế nhưng tôi đi đến tận nơi mà không mất tiền.
Trong căn nhà gác quét vôi trắng có hàng cột sâu tít trong khu vườn ở phố Zhubovsky, chỉ còn một cửa sổ còn sáng ánh đèn. Tôi cho rằng đó là ánh đèn ở phòng ông bác sĩ. Nhưng tôi đã lầm. Thì ra ông bác sĩ ở trên gác ba mà ánh đèn thì lại ở gác hai. Chỗ ông ở là phòng số tám. Đây rồi. Bên dưới số phòng có hàng chữ to viết bằng phấn trắng:
“Đây là nhà Pavlov chứ không phải nhà Levenson”.
Pavlov – đó chính là bác sĩ Ivan Ivanych.
Một người đàn bà tay bế con ra mở cửa cho tôi. Bà ấy cứ suỵt luôn mồm chỉ sợ tôi nói to tiếng. Bà hỏi tôi cần gì. Tôi nói. Bà ấy vẫn suỵt suỵt và bảo bác sĩ có nhà nhưng hình như đang ngủ.
- Hay là em cứ gõ cửa xem sao, – bà ấy thì thào. – Có khi chưa ngủ cũng nên.
- Tôi chưa ngủ! – Không biết ông bác sĩ từ đâu nói vọng ra. – Ai đấy?
- Có chú bé nào đây này.
- Cho chú ấy vào.
Lần đầu tiên tôi đến nhà ông bác sĩ và rất ngạc nhiên thấy nhà ông bề bộn ngổn ngang. Trên sàn nhà giữa những gói chè và thuốc lá lăn lóc mấy chiếc găng tay da và ủng lông rất đẹp và rất lạ. Khắp phòng toàn những va-li da và ba-lô để ngỏ. Và bác sĩ Ivan Ivanych đang đứng giữa đống đồ đạc ngổn ngang ấy, tay cầm cái chân máy ảnh.
- A, Sanya! – Ông vui vẻ nói. – Em đến đấy à? Thế nào, công việc ra sao? Vẫn sống chứ?
- Vẫn sống ạ.
- Tuyệt! Có ho không?
- Không ạ.
- Giỏi lắm! Chú em này, ta đã viết một bài báo nói về chú đấy.
Tôi cho là ông nói đùa.
- Một hiện tượng câm hiếm, – bác sĩ nói. – Em có thể tìm đọc tờ “Báo Y học” số mười bảy. Bệnh nhân G. chính là em đấy. Cứ coi như em đã nổi danh rồi. Tất nhiên mới chỉ nổi danh nghĩa một bệnh nhân mà thôi. Nhưng mọi sự còn ở phía trước kia mà.
Ông hát: “Tất cả còn ở phía trước! Tất cả còn đang ở phía trước!” Rồi bỗng nhiên ông chồm tới cái va-li to nhất, sập nắp va-li xuống rồi ngồi lên trên để ấn cái nắp xuống cho chặt.
Có lẽ bác sĩ chuẩn bị đi đâu khỏi Moskva. Tôi định hỏi xem ông đi đâu, nhưng tôi lại nghĩ trước hết phải tìm hiểu xem tại sao ngoài cửa ông ấy lại viết đây là nhà ông chứ không phải nhà Levenson.
- Bác Ivan Ivanych, sao ngoài cửa nhà bác lại viết đây là nhà bác chứ không phải là nhà Levenson?
Ông bác sĩ cười.
- Bỏi vì ta sống ở đây, – ông trả lời. – Còn Levenson ở ngôi nhà bên cạnh. Buồng nhà ông ấy số tám, buồng này cũng số tám. Nhưng lại vào chung một cổng. Chú có hiểu không?
- Hiểu ạ.
Hôm ấy bác sĩ nói chuyện rất nhiều. Tôi chưa bao giờ thấy ông vui vẻ như hôm đó. Bỗng ông nảy ra quyết định là phải tặng tôi một vật gì để làm kỷ niệm nên đưa cho tôi đôi găng tay bằng da tuy đã cũ nhưng còn tốt lắm, có nẹp gài ở cổ tay. Tôi toan từ chối, nhưng ông ấy chẳng nói dài dòng, cứ nhét đôi găng tay cho tôi rồi nói:
- Cầm lấy và im đi.
Đáng lẽ tôi phải cám ơn ông đã cho tôi đôi găng tay nhưng thay cho lời cám ơn tôi hỏi ông:
- Bác chuẩn bị đi đâu thế? Đi khỏi nơi đây à?
- Ta sắp đi, – bác sĩ trả lời. – Lên Cực bắc, ra ngoài vòng Bắc cực. Em đã nghe nói đến bao giờ chưa?
Tôi lờ mờ nhớ lại bức thư của người hoa tiêu tàu biển viễn dương.
- Em có nghe nói.
- Hay lắm. Chú em ạ. Ta có người vợ chưa cưới ở trên đó. Em có biết thế là thế nào không?
- Em biết.
- Nói khoác. Em biết nhưng chưa hiểu hết đâu.
Tôi bắt đầu quan sát những vật lạ mắt mà ông chuẩn bị mang theo. Những chiếc quần lông có vá đũng bằng da, những cái đế giày bằng sắt có dây da, vân vân. Bác sĩ vừa xếp sắp đồ đạc vừa nói chuyện luôn mồm. Có một chiếc va-li làm thế nào cũng không đóng lại được. Ông cầm lấy cái nắp trên rồi đổ tất cả đồ đạc ra giường. Một tấm ảnh to rơi xuống chân tôi. Đó là một tấm ảnh cũ đã ngả màu vàng và đã bị gấp mấy chỗ. Đằng sau tấm ảnh có dòng chữ nét tròn và to: “Toàn đội thủy thủ tàu ‘St. Maria’”. Tôi ngắm kỹ tấm ảnh và rất ngạc nhiên thấy có cả bố Katya cũng ở đấy. Đúng là ông ấy! Ông ngồi chính giữa, hai tay khoanh trước ngực, hệt như tấm ảnh treo ở phòng ăn gia đình nhà Tatarinov. Nhưng trên tấm ảnh này tôi không tìm thấy ông bác sĩ đâu cả, tôi bèn hỏi sao trong ảnh không có ông ấy.
- Chú em ạ, bởi vì tôi không cùng đi trên chiếc tàu buồm “St. Maria”, – bác sĩ thở phì phò, siết dây đai va-li và nói.
Ông cầm tấm ảnh ở tay rồi nghĩ xem nên cất vào đâu.
- Có một người cho làm kỷ niệm.
Tôi định hỏi xem người đó là ai, có phải là bố Katya không, nhưng ông đã nhét tấm ảnh vào trong quyển sách và bỏ quyển sách vào ba-lô.
- Thôi nhé, Sanya, – ông nói, – ta phải đi đây! Sau này em viết thư cho ta kể chuyện em làm được những việc gì, bản thân ra sao… Chú em ạ, phải nhớ rằng chú là một trường hợp rất thú vị đấy!
Tôi ghi lại địa chỉ của ông rồi chúng tôi chia tay.
Tôi cuốc bộ về nhà. Dọc đường tôi đi vòng đến phố Tverskaya để nghe truyền thanh. Đây là chiếc loa truyền thanh đầu tiên của Moskva. Nó thật là hay. Chỉ tội cái tiếng to quá làm tôi nhớ đến Grishka Faber trong vở bi kịch “Thời gian đã đến”.
Tôi về đến trại trẻ thì đã gần mười một giờ. Tôi hơi lo, sợ trại đóng cửa. Nhưng không. Cửa vẫn mở. Tất cả các cửa sổ đều sáng ánh đèn, có việc gì xảy ra vậy?
Tôi chạy vụt vào phòng ngủ như tên bắn. Phòng rỗng không! Giường nào cũng đều trải đệm cả, chắc mọi người đã chuẩn bị ngủ rồi!
- Bác Petya! – Tôi nhìn thấy bác bếp liền gọi ngay. Bác mặc bộ quần áo mới, tay cầm cái mũ dạ, đi từ trong bếp ra. – Có chuyện gì xảy ra thế?
- Người ta mời họp. – Bác bếp thì thào ra vẻ bí mật.
- Họp gì? Ở đâu?
- Họp đại hội toàn thể giáo viên, công nhân viên chức và học sinh, – bác bếp vẫn nói vẻ bí mật như lúc nãy.
Có lẽ bác ấy đã ngồi ngủ gật một lúc rồi nên nói mỗi câu lại díp mắt lại. Bác ấy toan giải thích cho tôi rằng một khi bác được mời đi họp thì cũng phải ăn mặc ra hồn nhưng tôi đã chạy lên trường.
Trong giảng đường lớn chật ních, giá có quả táo rơi cũng không có chỗ lọt, mà còn nhiều học sinh đứng ngoài cửa ra vào, ở dọc hành lang. Nhưng tôi vẫn luồn vào được và ngồi ngay hàng đầu. Song không phải là ngồi trên ghế mà ngồi bệt xuống đất.
Đó là một cuộc họp long trọng do cô Varya làm chủ tọa. Má cô đỏ hồng, cô ngồi trên bàn chủ tịch đoàn, tay cầm bút chì, cô luôn luôn hất mớ tóc xõa trước mặt ra đằng sau. Đây là lần đầu tiên cô làm chủ tịch một cuộc họp lớn nên cũng dễ hiểu tại sao cô lại xúc động đến thế. Những học sinh khác trong Chi đoàn thanh niên cộng sản ngồi hai bên cạnh cô, đang chăm chú ghi chép gì đó. Trên đầu họ, phía bên trên bàn chủ tịch đoàn, phía trên cả phòng họp có treo một bức tranh cổ động của tôi. Tôi vui sướng đến nghẹn ngào. Đây là bức tranh cổ động của tôi – một chiếc máy bay đang lượn trong mây và bên dưới có hàng chữ:
“Các bạn thanh niên, hãy gia nhập Hội những người bạn của Không quân”.
Nhưng đem treo bức tranh cổ động của tôi ở đây có tác dụng gì thì mãi tôi vẫn không hiểu nổi, vì những người lên phát biểu ý kiến chỉ toàn nói đến cái tối hậu thư nào đó. Nhưng thầy Korablyov đã lên phát biểu ý kiến và mọi sự trở nên rõ ràng.
- Các đồng chí! – Tiếng thầy không to nhưng rất rành rọt. – Chính phủ Xô Viết nhận được một tối hậu thư. Nói chung mọi người đều đã đánh giá rất đúng ý nghĩa của cái văn kiện này. Theo quan điểm của các bạn thì tác giả của những văn kiện ấy chính là những tên đế quốc điển hình. Điều đó hoàn toàn đúng. Song nếu cho rằng bản thân chúng không biết điều này hoặc giả cho rằng lần đầu tiên chúng được nghe những điều này ở các bạn thì là hoàn toàn sai. Không, chúng ta phải dùng những biện pháp khác để trả lời cho cái tối hậu thư ấy! Chúng ta phải tổ chức ở trong trường phân hội những người bạn của Không quân!
Mọi người vỗ tay nhiệt liệt, sau đó thầy Korablyov cứ nói xong một câu là mọi người lại vỗ tay. Cuối cùng ông còn chỉ lên bức tranh cổ động của tôi. Tôi kiêu hãnh cảm thấy toàn trường đều nhìn lên bức tranh chiếc máy bay đang bay lượn trong mây do tôi vẽ và đều đọc hàng chữ: “Các bạn thanh niên, hãy gia nhập Hội những người bạn của Không quân!”
Kế đó Nikolai Antonych lên phát biểu và ông nói cũng rất hay. Sau đó cô Varya tuyên bố tất cả Chi đoàn thanh niên cộng sản đều gia nhập “Hội những người bạn của Không quân”. Những ai muốn gia nhập Hội thì ngày mai từ mười giờ sáng đến mười giờ tối đến chỗ cô để ghi tên. Còn bây giờ cô đề nghị mở một cuộc lạc quyên ủng hộ Không quân Xô Viết. Số tiền thu được sẽ gửi cho tòa soạn báo “Sự thật”.
Chắc lúc đó tôi rất xúc động nên Valya nhìn tôi ngạc nhiên. Tôi móc túi lấy đồng năm mươi cô-pếch bằng bạc giơ cho nó xem. Nó hiểu. Nó đang định nói gì đó, chắc là chuyện cái cần câu rút. Nhưng nó lại ghìm được và chỉ gật đầu.
Tôi chạy lên sân khấu đưa đồng năm mươi cô-pếch cho cô Varya.
- Thầy Ivan Pavlych, – tôi nói với thầy Korablyov khi thầy đứng ngoài hành lang hút thuốc bằng cái bót dài. – Thầy cho em biết bao nhiêu tuổi mới được tuyển làm phi công ạ?
Ông nghiêm nghị nhìn tôi.
- Tôi không biết, Sanya ạ. Như em thì chắc người ta không nhận đâu…
Không nhận? Tôi nhớ đến lời thề mà tôi và Petya đã nguyện với nhau ở vườn Nhà thờ: “Đấu tranh và tìm tòi, quyết đạt mục đích chứ không đầu hàng!” Nhưng tôi chẳng nói ra. Có nói thì thầy Korablyov cũng chẳng hiểu được lời thề ấy.