Chiếc xe hiệu Rolls - Royce chạy qua cánh cổng của khu nhà Manor House và chạy dọc theo một lối đi dài nằm giữa hai hàng cây sồi cao vươn lên sừng sững như hai hàng quân danh dự. Harry đếm được có sáu người thợ làm vườn trước khi cậu nhìn thấy tòa dinh thự.
Trong thời gian theo học tại St. Bede, Harry đã ít nhiều hình dung ra được Giles sống như thế nào mỗi khi cậu bạn trở về nhà vào các dịp nghỉ lễ, song cậu chưa chuẩn bị sẵn sàng cho việc đối diện với khung cảnh này. Khi Harry lần đầu tiên nhìn thấy tòa nhà, miệng cậu há hốc, và rồi cứ đứng hình như thế.
“Tớ đoán là xây vào đầu thế kỷ mười tám”, Deakins nói.
“Không tồi”, Giles lên tiếng, “Năm 1722, do Vanburg xây. Nhưng tớ dám cược là cậu không thể nói được ai đã thiết kế khu vườn. Khu vườn này có cả sau tòa nhà đấy.”
“Tớ mới chỉ nghe nói đến một người thợ làm vườn phong cảnh”, Harry nói, mắt vẫn dán vào tòa dinh thự. “Brown làm-được-tuốt”.
“Đó chính xác là lý do tại sao gia đình tớ đã chọn ông ta”, Giles nói, “chỉ đơn giản để các bạn tớ có thể nghe nói tới ông ta ngay cả hai trăm năm sau đó.”
Harry và Deakins phá lên cười trong khi chiếc xe dừng lại trước một tòa nhà ba tầng được xây bằng thứ đá Cotswold vàng óng. Giles nhảy xuống xe trước khi người tài xế kịp tới mở cửa sau. Cậu ta chạy tót lên các bậc thềm, theo sau là hai cậu bạn với bộ dạng có đôi chút ngập ngừng hơn.
Cửa trước đã được mở ra từ lâu trước khi Giles lên tới bậc thềm trên cùng, và một người đàn ông cao ráo, mặc một chiếc áo khoác dài màu đen tao nhã, quần vải sọc và đeo nơ màu đen, hơi cúi đầu chào khi cậu chủ nhỏ chạy vụt qua ông ta. “Chúc sinh nhật vui vẻ, cậu Giles”, ông ta nói.
“Cảm ơn bác Jenkins. Nhanh lên nào anh em!” Giles lớn tiếng gọi rồi biến mất vào trong ngôi nhà. Người quản gia giữ cửa mở để Harry và Deakins có thể bám theo sau.
Vừa bước chân vào tiền sảnh, Harry chợt nhận ra mình đang bị hút vào bức chân dung một người đàn ông lớn tuổi có vẻ như đang nhìn chằm chằm thẳng vào cậu. Giles thừa hưởng chiếc mũi diều hâu của người đàn ông trong bức tranh, cùng đôi mắt xanh cương nghị và cái cằm vuông. Harry nhìn quanh tới những bức chân dung khác được treo trên tường. Vài bức tranh sơn dầu hiếm hoi trước đây cậu từng được xem qua đều ở trong sách: Mona Lisa, Người kỵ sĩ tươi cười và Cuộc tuần đêm. Cậu đang mải chiêm ngưỡng bức tranh phong cảnh được một họa sĩ có tên là Constable vẽ thì một người phụ nữ bước vào tiền sảnh, mặc thứ trang phục mà Harry chỉ có thể mô tả là một bộ váy dạ hội.
“Chúc con sinh nhật vui vẻ, con quý”, bà nói.
“Cảm ơn mẹ”, Giles trả lời, trong lúc mẹ cậu cúi xuống hôn cậu. Đây là lần đầu tiên Harry thấy bạn cậu trông có vẻ ngượng ngùng. “Đây là hai bạn thân nhất của con, Harry và Deakins”. Trong khi Harry bắt tay với người phụ nữ không cao hơn cậu là mấy, bà mỉm cười với cậu thật hồn hậu, Và ngay lập tức cậu cảm thấy hoàn toàn thoải mái.
“Sao chúng ta không cùng vào phòng khách”, bà gợi ý, “và dùng trà nhỉ?”. Nói rồi bà dẫn các cậu bé qua tiền sảnh vào một căn phòng lớn nhìn ra bãi cỏ trước nhà.
Khi Harry bước vào, cậu không muốn ngồi xuống mà chỉ muốn tới xem những bức tranh được treo trên tất cả các bức tường. Song bà Barrington đã ngay lập tức dẫn cậu tới ghế xô pha. Cậu ngồi lún xuống tấm đệm ghế êm ái và không thể ngừng mê mẩn nhìn chăm chăm ra bãi cỏ được xén tỉa đẹp đẽ qua khung cửa sổ cao, khu vườn này đủ rộng để chơi một trận cricket. Tít đằng xa phía sau bãi cỏ, Harry có thể nhìn thấy một hồ nước có những con vịt trời đang hững hờ bơi vòng vòng, hiển nhiên là không hề lo lắng về chuyện bữa ăn tiếp theo của chúng sẽ đến từ đâu. Deakins tự ngồi xuống bên cạnh Harry.
Không ai nói gì khi một người đàn ông khác, người này mặc một chiếc áo khoác ngắn màu đen, bước vào phòng, theo sau là một phụ nữ trẻ mặc bộ đồng phục màu xanh lịch thiệp, trông không khác mấy so với bộ đồ mà mẹ của Harry vẫn mặc tại khách sạn. Người hầu gái bưng một khay bạc lớn rồi đặt khay lên trên mặt bàn hình bầu dục ở trước mặt bà Barrington.
“Ấn Độ hay Trung Hoa?” bà Barrington hỏi, đưa mắt nhìn Harry. Harry thực sự không hiểu ý bà muốn hỏi gì.
“Tất cả bọn con đều dùng Ấn Độ, cảm ơn mẹ”, Giles nói.
Harry vốn cho rằng Giles hẳn đã dạy cậu mọi thứ cần biết về phép tắc xử thế trong xã hội thượng lưu lịch sự, nhưng bà Barrington vừa đột ngột nâng trình độ lên một tầm cao mới.
Sau khi người phụ việc của quản gia đã rót ra ba tách trà, người hầu gái mang trà tới bày trước mặt ba cậu bé, kèm theo một đĩa đựng đồ ăn kèm. Harry nhìn chăm chú vào núi xăng - uých chất đầy trong đĩa, không dám động đến. Giles nhón lấy một cái rồi để vào đĩa của cậu. Mẹ cậu cau mày. “Mẹ đã nhắc con bao nhiêu lần rồi, Giles, rằng con luôn phải đợi cho tới khi khách của con quyết định họ thích dùng gì trước khi lấy đồ ăn cho chính mình?”
Harry muốn nói với bà Barrington rằng Giles luôn là người làm trước, chỉ để giúp cậu biết mình cần làm gì, và quan trọng hơn cả là không được làm gì. Deakins chọn một cái bánh xăng - uých rồi để vào đĩa của cậu ta. Harry cũng làm y hệt. Giles kiên nhẫn đợi cho tới khi Deakins đã cầm miếng xăng - uých của mình lên rồi mới cắn một miếng.
“Cô hy vọng các cháu thích cá hồi hun khói”, bà Barrington nói. “Ngon tuyệt”, Giles nói, trước khi các bạn cậu có cơ hội thú nhận rằng cả hai chưa từng được nếm qua cá hồi hun khói trước đây.
“Chúng con chỉ được ăn sandwich cá xay ở trường thôi”, cậu nói thêm. “Được rồi, hãy kể cho mẹ nghe xem con và các bạn học hành thế nào ở trường”, bà Barrington nói.
“Vẫn cần nỗ lực tiến bộ thêm nhiều, con nghĩ đó là những gì thầy Frob mô tả về những cố gắng của con”, Giles vừa nói vừa lấy thêm một cái xăng - uých nữa. “Nhưng Deakins thì lúc nào cũng đứng đầu trong mọi môn học”.
“Trừ môn Anh văn ạ”, Deakins lên tiếng lần đầu tiên, “Harry vẫn còn nhỉnh hơn cháu tí xíu trong môn này ạ”.
“Thế con có môn nào mà con dẫn đầu không, Giles?” mẹ cậu hỏi.
“Bạn ấy đứng thứ nhì trong môn toán, thưa bà Barrington”, Harry lên tiếng giải cứu cho Giles. “Bạn ấy đúng là có năng khiếu trời cho với những con số”.
“Giống hệt ông nội nó”, bà Barrington nói.
“Bà có bức chân dung treo trên lò sưởi đẹp quá, thưa bà Barrington”, Deakins nói.
Bà chủ nhà mỉm cười. “Đó không phải là cô, Deakins, mà là chân dung của mẹ cô”. Deakins cúi đầu xuống trước khi bà Barrington vội nói thêm. “Nhưng lời khen mới lịch thiệp làm sao. Mẹ cô từng được coi là một người đẹp nổi tiếng vào thời của bà”.
“Ai đã vẽ bức chân dung vậy ạ?” Harry hỏi, tiếp lời để ứng cứu cho Deakins.
“Laszlo”, bà Barrington trả lời. “Sao cháu lại hỏi vậy?”
“Vì cháu đang thắc mắc liệu có phải bức chân dung quý ông ngoài tiền sảnh cũng do cùng một họa sĩ vẽ không ạ”.
“Cháu quả là có khiếu quan sát đấy Harry ạ”, bà Barrington nói. “Bức chân dung cháu thấy ngoài tiền sảnh là của bố cô, và đúng là cũng do Laszlo vẽ”.
“Thế bố của bà làm công việc gì ạ?” Harry hỏi.
“Harry chẳng bao giờ thôi đặt ra các câu hỏi cả”, Giles nói. “Người ta chỉ còn biết quen dần với chuyện đó thôi”.
Bà Barrington mỉm cười. “Ông ấy nhập khẩu rượu vang vào đất nước này, và đặc biệt là rượu sherry từ Tây Ban Nha”.
“Giống hệt như Harvey’s”, Deakins nói, miệng đầy ắp xăng - uých dưa chuột.
“Giống hệt như Harvey’s”, bà Barrington lặp lại. Giles nhe răng cười. “Lấy thêm một chiếc xăng - uých nữa đi, Harry”, bà Barrington nói, nhận ra đôi mắt cậu như bị hút vào đĩa bánh.
“Cảm ơn bà”, Harry nói, không biết phải chọn thế nào giữa kẹp cá hồi hun khói, dưa chuột, hay trứng và cà chua. Cậu quyết định chọn cá hồi, thầm tự hỏi hương vị của món này sẽ như thế nào.
“Thế còn cháu thì sao, Deakins?”
“Cảm ơn bà, bà Barrington”, cậu đáp, và lấy thêm một miếng xăng - uých dưa chuột nữa.
“Cô không thể tiếp tục cứ gọi cháu là Deakins”, mẹ Giles nói. “Như thế sẽ làm cháu giống như một người làm vậy. Hãy cho cô biết tên thánh của cháu đi”.
Deakins lại cúi đầu xuống. “Cháu thích được gọi là Deakins hơn”, cậu nói.
“Là Al ạ”, Giles lên tiếng.
“Một cái tên thật đẹp”, bà Barrington nói, “cho dù cô chắc là mẹ cháu vẫn gọi cháu là Alan”.
“Dạ không ạ”, Deakins nói, đầu vẫn cứ cúi gằm xuống. Hai cậu bé còn lại có vẻ ngạc nhiên trước lời hé lộ này, nhưng không nói gì. “Tên cháu là Algernon”, cuối cùng cậu lí nhí.
Giles phá lên cười.
Bà Barrington không hề để tâm tới tràng cười của cậu con trai. “Mẹ cháu hẳn phải là người rất ngưỡng mộ Oscar Wilde”, bà nói.
“Vâng, đúng thế ạ”, Deakins nói. “Nhưng cháu ước gì mẹ cháu gọi cháu là Jack, hay thậm chí là Ernest cũng được ạ”.
“Cô sẽ không để điều đó làm cháu lo lắng đâu”, bà Barrington nói. “Nói cho cùng, Giles cũng phải chịu đựng điều khó xử tương tự”.
“Mẹ, mẹ đã hứa là mẹ sẽ không...”
“Các cháu cần phải bảo nó cho các cháu biết tên đệm của nó”, bà nói, tảng lờ sự phản đối. Khi Giles không trả lời, Harry và Deakins đưa mắt nhìn bà Barrington đầy mong chờ. “Là Marmaduke”, bà vừa nói vừa thở dài. “Giống như bố và ông nội nó trước đây”.
“Nếu một trong hai cậu nói với bất cứ ai về chuyện này khi bọn mình quay lại trường”, Giles nói, nhìn sang hai cậu bạn, “tớ xin thề là tớ sẽ giết các cậu, và ý tớ là giết thật đấy”. Cả hai cậu nhóc còn lại cùng bật cười.
“Cháu có tên đệm không, Harry?” bà Barrington hỏi.
Harry đang định trả lời thì cửa phòng khách mở toang, và một người đàn ông không thể bị nhầm lẫn là người làm sải bước vào phòng, mang theo một hộp quà lớn. Harry ngước mắt nhìn lên con người chỉ có thể là ông Hugo. Giles đứng lên, chạy tới phía bố, ông đưa cho cậu con trai hộp quà rồi nói, “Chúc sinh nhật vui vẻ, con trai của bố”.
“Con cảm ơn bố”, Giles nói, và lập tức bắt đầu tháo ruy băng ra.
“Trước khi con mở hộp quà của mình, Giles”, mẹ cậu lên tiếng, “có lẽ con nên giới thiệu các vị khách mời của con với bố trước đã”.
“Con xin lỗi bố. Đây là hai bạn thân nhất của con, Deakins và Harry”, Giles nói, đặt hộp quà trên mặt bàn. Harry nhận thấy bố Giles có cùng vóc người thể thao vạm vỡ, tràn đầy năng lượng mà cậu từng cho rằng đó là nét đặc trưng riêng của con trai ông.
“Rất vui được gặp cháu, Deakins”, ông Barrington vừa nói vừa bắt tay cậu bé. Sau đó ông ta quay sang Harry. “Xin chào, Clifton”, ông nói thêm, trước khi ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh vợ mình. Harry ngỡ ngàng khi thấy ông Barrington không bắt tay với mình. Và làm sao mà ông ta biết họ của cậu là Clifton?
Sau khi người phụ việc của quản gia đã rót một tách trà cho ông Barrington, Giles tháo giấy gói quà ra và reo lên thích thú khi nhìn thấy một chiếc radio hiệu Roberts. Cậu cắm phích điện vào một ổ cắm trên tường và bắt đầu chỉnh radio bắt sóng các đài phát khác nhau. Cả ba cậu bé cùng vỗ tay hoan hô và cười vang mỗi lần một âm thanh mới phát ra từ trong chiếc hộp gỗ to.
“Giles cho em biết nó đứng thứ nhì trong môn toán học kỳ này”, bà Barrington quay sang chồng mình và nói.
“Điều đó cũng chưa đủ bù lại việc nó đội sổ trong hầu hết các môn khác”, ông chồng vặn lại. Giles cố không tỏ ra bối rối, trong khi vẫn tiếp tục dò tìm kênh mới trên chiếc radio của mình.
“Nhưng giá như ông được chứng kiến bàn thắng cậu ấy ghi được trong trận đấu với Avonhurst”, Harry nói. “Tất cả chúng cháu đều kỳ vọng cậu ấy sẽ là đội trưởng đội cricket vào năm tới”.
“Các bàn thắng sẽ không giúp nó vào được Eton”, ông Barrington nói, không hề nhìn Harry. “Đã đến lúc nó cần tu tỉnh lại và nỗ lực hơn nữa”.
Không ai nói thêm gì một hồi lâu cho tới khi bà Barrington phá vỡ sự im lặng. “Có phải cháu chính là Clifton hát trong ban đồng ca tại St Mary Redcliff không?” bà hỏi.
“Harry là người hát sô - lô giọng kim”, Giles nói. “Thực ra, cậu ấy là người được học bổng đồng ca”.
Harry ý thức được lúc này bố Giles đang nhìn mình chằm chằm. “Cô nghĩ cô nhận ra cháu mà”, bà Barrington nói. “Cô cùng ông ngoại của Giles đã đến xem một buổi trình diễn vở Messiah tại StMary, khi ban đồng ca của trường St. Bede cùng biểu diễn với trường Ngữ Văn Bristol Grammar School. Bài Con biết Người Chuộc Tội cho con sống mãi mà cháu hát quả là tuyệt vời, Harry ạ”.
“Cảm ơn bà, bà Barrington”, Harry đỏ mặt nói.
“Cậu đang hy vọng là sẽ vào học trường Bristol Grammar School sau khi rời St. Bede chứ, Clifton?” ông Barrington hỏi.
Lại là Clifton, Harry thầm nghĩ. “Chỉ khi cháu có được học bổng thôi, thưa ông”, cậu trả lời.
“Nhưng sao điều đó lại quan trọng vậy?” bà Barrington hỏi. “Chắc chắn cháu sẽ được dành cho một suất nhập học, như bất cứ cậu bé nào khác chứ?”
“Vì mẹ cháu không thể nào mà cáng đáng được mức học phí, thưa bà Barrington. Mẹ cháu là nhân viên phục vụ tại khách sạn Royal”.
“Nhưng chẳng lẽ bố cháu...”
“Bố cháu mất rồi”, Harry nói. “Bố cháu tử trận trong chiến tranh”. Cậu cẩn thận quan sát xem ông Barrington phản ứng ra sao, nhưng hệt như một tay chơi poker lão luyện, ông ta không để lộ bất cứ điều gì.
“Cô xin lỗi”, bà Barrington nói. “Cô không hề biết”.
Cánh cửa mở ra sau lưng Harry và người phụ việc của quản gia bước vào, mang một chiếc bánh sinh nhật hai tầng trên khay bạc rồi đặt nó xuống chính giữa bàn. Sau khi Giles đã thành công trong việc thổi tắt cả mười hai ngọn nến chỉ bằng một hơi duy nhất, mọi người đồng loạt vỗ tay chúc mừng.
“Ngày sinh của cậu là khi nào, Clifton?” ông Barrington hỏi.
“Nó rơi vào tháng trước, thưa ông”, Harry trả lời.
Ông Barrington ngoảnh mặt đi.
Người phụ việc của quản gia gỡ nến ra trước khi đưa cho cậu chủ nhỏ con dao lớn dùng để cắt bánh. Giles cắt sâu vào chiếc bánh và đặt năm miếng bánh không đều nhau vào mấy chiếc đĩa tách mà người hầu gái đã bày sẵn ra trên mặt bàn.
Deakins khoan khoái ngấu nghiến phần kem rớt ra trong đĩa của cậu ta trước khi ăn một miếng bánh. Harry bắt chước theo bà Harrington. Cậu nhấc chiếc nĩa bạc nhỏ để cạnh đĩa bánh của mình lên rồi dùng nó để lấy một miếng bánh nhỏ trước khi đặt cái nĩa trở lại xuống đĩa.
Chỉ có ông Barrington không động tới phần bánh của mình. Rồi đột nhiên, không hề có động thái nào báo trước, ông đứng vụt dậy rồi bước ra khỏi phòng mà không nói thêm một lời nào.
Mẹ của Giles không giấu nổi vẻ ngạc nhiên trước thái độ của chồng bà, nhưng bà không nói gì. Harry không hề rời mắt khỏi ông Hugo khi ông rời khỏi phòng, trong khi Deakins, sau khi đã ăn xong phần bánh của cậu ta, lại chuyển sự chú ý trở lại với những cái xăng - uých cá hồi hun khói, hiển nhiên không hề để ý nhận thấy những gì vừa xảy ra quanh mình.
Sau khi cánh cửa đóng lại, bà Barrington tiếp tục trò chuyện như thể chưa có gì bất thường xảy ra. “Cô tin chắc cháu sẽ giành được một học bổng vào trường Bristol Grammar School thôi Harry ạ, nhất là với những gì mà Giles đã kể cho cô nghe về cháu. Cháu hiển nhiên là một cậu bé rất thông minh, và cũng là một giọng ca tài năng nữa”.
“Giles luôn có xu hướng phóng đại mọi thứ lên, thưa bà Barrington”, Harry nói. “Cháu có thể cam đoan với bà là chỉ mình Deakins là chắc chắn sẽ dành được một suất học bổng thôi”.
“Nhưng Bristol Grammar School không có học bổng âm nhạc sao?” bà hỏi.
“Với các giọng ca có giọng kim thì không ạ”, Harry trả lời. “Họ sẽ không chịu mạo hiểm đâu ạ”.
“Cô không dám chắc là cô hiểu lắm”, bà Barrington nói. “Không gì có thể lấy đi những năm tháng luyện tập đồng ca mà cháu đã trải qua”.
“Đúng là thế ạ, nhưng thật đáng buồn là không ai có thể đoán trước chuyện gì sẽ xảy ra khi cháu vỡ giọng. Một số giọng kim cuối cùng trở thành giọng nam trầm hay nam trung, và những người thực sự may mắn trở thành giọng nam cao, nhưng không có cách nào để biết trước được cả”.
“Tại sao lại không?” Deakins lên tiếng, lần đầu tiên trở nên hứng thú.
“Có rất nhiều người hát sô - lô có giọng kim thậm chí còn không tìm nổi một chỗ trong ban đồng ca địa phương nơi họ sống sau khi vỡ giọng. Thử hỏi thầy Ernest Lough xem. Tất cả các gia đình tại nước Anh đều đã từng nghe ông ấy hát bài Ôi, vì đôi cánh của một con bồ câu, nhưng sau khi ông ấy vỡ giọng, chẳng còn ai được nghe lại giọng hát của ông ấy nữa”.
“Cậu chỉ cần học tập nỗ lực hơn nữa thôi”, Deakins vừa nhồm nhoàm vừa nói. “Đừng quên là trường ngữ văn cấp mười hai suất học bổng mỗi năm, và tớ chỉ có thể giành được một suất thôi”, cậu nói thêm với vẻ hiển nhiên.
“Nhưng vấn đề chính là ở chỗ ấy đấy”, Harry nói. “Nếu tớ định học hành chăm chỉ hơn, tớ sẽ phải từ bỏ ban đồng ca, và nếu không có học bổng, tớ sẽ buộc phải rời khỏi St. Bede, vậy nên...”
“Cậu đang ở thế tiến thoái lưỡng nan”, Deakins nói.
Harry chưa bao giờ nghe thấy cách nói này trước đây và quyết định sẽ hỏi Deakins sau xem nghĩa của nó là gì.
“À có một điều này là chắc chắn”, bà Barrington nói, “Giles sẽ khó lòng có được học bổng vào bất kỳ trường nào”.
“Không hẳn là thế đâu ạ”, Harry nói. “Trường Ngữ Văn Bristol Grammar School sẽ không bỏ qua một tay đập thuận tay trái có đẳng cấp như cậu ấy đâu ạ”.
“Vậy chúng ta sẽ phải hy vọng là Eton cũng có cùng suy nghĩ ấy”, bà Barrington nói, “vì đó là nơi mà bố nó muốn nó theo học”.
“Con không muốn tới Eton”, Giles nói, đặt nĩa của cậu xuống. “Con muốn tới trường Ngữ Văn Bristol và học cùng các bạn của con”.
“Mẹ tin chắc con sẽ có thêm nhiều bạn mới tại Eton”, mẹ cậu nói. “Và bố con sẽ thất vọng lắm nếu con không đi theo con đường của bố”.
Người phụ việc của quản gia khẽ hắng giọng. Bà Barrington nhìn qua cửa sổ và thấy một chiếc xe đang chạy tới dưới chân bậc thềm. “Mẹ nghĩ đã đến lúc con và các bạn đều phải quay lại trường rồi,” bà nói. “Chắc chắn là mẹ không muốn phải chịu trách nhiệm về việc có ai đó bị muộn giờ tự học đâu”.
Harry thèm thuồng nhìn về phía cái khay lớn đựng đầy xăng - uých và chiếc bánh sinh nhật còn đang ăn dở nhưng đành phải miễn cưỡng rời khỏi chỗ của mình và bắt đầu bước về phía cửa. Cậu ngoái lại nhìn một lần và dám thề là đã thấy Deakins nhét vội một cái xăng - uých vào túi quần cậu ta. Harry nhìn một lần cuối qua cửa sổ và ngạc nhiên khi lần đầu tiên nhìn thấy một cô bé cao lênh khênh buộc tóc đuôi ngựa đang cuộn tròn trong góc và đọc một quyển sách.
“Đó là Emma, cô em gái kinh khủng của tớ“, Giles nói. “Nó chẳng bao giờ ngừng đọc cả. Cứ kệ nó đi”. Harry mỉm cười với Emma, nhưng cô bé không hề nhìn lên. Deakins thậm chí còn chẳng buồn nhìn cô bé đến lần thứ hai.
Bà Barrington tiễn ba cậu bé ra cửa trước, rồi bà bắt tay Harry và Deakins. “Cô thực sự hy vọng cả hai cháu sẽ lại sớm đến đây chơi”, bà nói. “Các cháu có ảnh hưởng thật tốt tới Giles”.
“Cảm ơn bà rất nhiều vì đã mời chúng cháu dùng trà, bà Barrington”, Harry nói. Deakins chỉ gật đầu. Các hai cậu nhóc cùng quay mặt nhìn đi chỗ khác khi bà ôm lấy cậu con trai và dành cho cậu một cái hôn.
Trong lúc người tài xế lái chiếc xe theo con đường dài dẫn ra cổng, Harry ngoái lại nhìn về phía tòa nhà qua khung cửa kính đằng sau xe. Cậu không hề để ý thấy Emma đang chăm chú nhìn qua cửa sổ về phía chiếc xe đang khuất dần.