Chỉ Thời Gian Có Thể Cất Lời

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
21

❊ ❊ ❊

"Là thám tử thanh tra Blakemore, thưa ngài”, cô Potts nói, sau đó đứng tránh sang một bên để cho phép người cảnh sát bước vào phòng làm việc của giám đốc điều hành.

Hugo Barrington chăm chú quan sát viên thanh tra trong lúc ông này bước vào trong phòng. Viên cảnh sát có lẽ không cao hơn mấy so với chiều cao quy định tối thiểu là một mét bảy mươi lăm, và có phần hơi quá cân, nhưng trông vẫn gọn ghẽ. Ông ta cầm theo một cái áo mưa nhiều khả năng được mua từ khi viên thanh tra vẫn còn là cảnh sát viên, trên đầu đội một cái mũ phớt có phong cách gần đây hơn, cho biết ông ta trở thành thanh tra cũng chưa được lâu.

Hai người đàn ông bắt tay, và khi Blakemore đã ngồi xuống, ông này lấy một quyển sổ ghi chép và một cây bút ra từ túi trong áo khoác. “Như ngài biết, thưa ngài, tôi đang phụ trách điều tra một trường hợp nghi ngờ mất trộm xảy ra tại đây tối hôm qua”. Barrington không thích hai từ “nghi ngờ”. “Liệu tôi có thể bắt đầu bằng việc đề nghị ngài cho biết khi nào ngài phát hiện ra số tiền bị bị mất được không?”

“Vâng, tất nhiên rồi, thanh tra”, Barrington nói, cố trưng ra giọng của một người sẵn sàng hợp tác tối đa. “Tôi tới bến tàu lúc khoảng bảy giờ sáng nay và lái xe thẳng tới cầu tàu để xem ca đêm đã làm tới đâu”.

“Ngài vẫn làm thế mỗi buổi sáng à?”

“Không, chỉ thỉnh thoảng thôi”, Hugo nói, lúng túng trước câu hỏi.

“Và ngài đã ở đó bao lâu?”

“Hai mươi phút, cũng có thể là ba mươi phút. Sau đó tôi tới phòng làm việc của mình”.

“Vậy là ngài hẳn đã có mặt tại phòng làm việc của mình vào lúc bảy giờ hai mươi, hay muộn nhất là lúc bảy giờ ba mươi phút”.

“Vâng, cũng là tầm đó đấy”.

“Và lúc đó thư ký của ông đã có mặt tại đây rồi phải không?”

“Vâng, đúng thế. Hiếm khi tôi đến được sớm hơn cô ấy. Cô ấy quả là một quý bà đáng kính nể”, anh ta nói thêm với một nụ cười.

“Quả vậy”, viên thám tử thanh tra nói. “Vậy cô Potts là người đã báo cho ngài biết két an toàn đã bị phá?”

“Vâng. Cô Potts nói rằng khi cô ấy vào phòng sáng nay, cô ấy thấy cửa két an toàn mở tung và một vài thứ để trong đó vương vãi dưới nền nhà, vậy là cô ấy lập tức báo cảnh sát”.

“Cô ấy không gọi cho ngài trước sao?”

“Không, thưa thanh tra. Vào thời điểm đó nhiều khả năng tôi đang trên xe đến đây”.

“Vậy ngài đang nói rằng sáng nay thư ký của ngài đã tới đây trước ngài. Và có phải tối qua ngài ra về trước cô ấy không, thưa ngài?”

“Tôi không nhớ nữa”, Barrington nói. “Nhưng hiếm khi tôi ra về sau cô ấy”.

“Phải, cô Potts đã xác nhận như thế”, viên thám tử thanh tra nói. “Nhưng cô ấy cũng nói”. Ông này cúi xuống sổ ghi chép của mình. ‘Tối qua tôi về trước ông Barrington, vì đã xảy ra một rắc rối cần ông ấy xử lý ngay.’”

Blakemore ngước lên. “Ngài có thể cho tôi biết rắc rối đó là gì không, thưa ngài?”

“Khi ông điều hành một công ty lớn thế này”, Hugo nói, “rắc rối luôn xuất hiện mọi lúc mọi nơi”.

“Vậy là ngài không nhớ cụ thể có rắc rối gì xảy ra tối hôm qua?”

“Không, thanh tra, tôi không nhớ”.

“Khi ngài tới phòng làm việc của mình sáng nay và thấy cửa két an toàn mở tung, việc đầu tiên ngài làm là gì?”

“Tôi kiểm tra xem có bị mất gì không”.

“Và ngài phát hiện ra điều gì?”

“Tất cả tiền mặt của tôi đều đã bị mất”.

“Làm thế nào ngài biết chắc tất cả số tiền đã bị lấy hết?”

“Vì tôi thấy chiếc phong bì bị mở tung này để trên bàn làm việc của tôi”, Hugo nói, đưa phong bì cho viên thanh tra.

“Và đáng ra trong này phải có bao nhiêu tiền, thưa ngài?”

“Sáu mươi tám bảng và mười shiling”.

“Dường như ngài rất chắc chắn về chuyện này”.

“Vâng, đúng thế”, Hugo nói. “Sao việc đó lại làm ông ngạc nhiên?”

“Đơn giản là vì cô Potts nói với tôi là chỉ có sáu mươi bảng trong két, tất cả là tiền năm bảng. Vậy ngài có thể cho tôi biết, thưa ngài, chỗ tám bảng và mười shiling kia ở đâu ra không?”

Hugo không trả lời ngay. “Thỉnh thoảng tôi vẫn giữ một ít tiền lẻ trong ngăn kéo bàn làm việc, thưa thanh tra”, cuối cùng anh ta nói.

“Đó là một khoản tiền khá lớn để có thể gọi là ‘một ít tiền lẻ’. Tuy nhiên, bây giờ hãy cho phép tôi quay lại với cái két an toàn. Khi ngài bước vào phòng làm việc của mình sáng hôm nay, điều đầu tiên ngài nhận thấy là cửa két bị mở”.

“Đúng vậy, thanh tra”.

“Ngài có chìa khóa cho két an toàn chứ?”

“Vâng, tất nhiên”.

“Ngài có phải là người duy nhất biết mã số két và chìa khóa không, thưa ngài?”

“Không, cô Potts cũng có thể mở được két”.

“Ngài có thể khẳng định là két an toàn đã được khóa khi ngài quay về nhà tối qua chứ?”

“Vâng, luôn là như thế”.

“Vậy chúng ta phải đặt giả thiết đây là vụ trộm do một tay chuyên nghiệp gây ra”.

“Điều gì khiến ông cho là vậy, thanh tra?” Barrington hỏi.

“Nhưng nếu hắn là một kẻ chuyên nghiệp”, Blakemore nói, tảng lờ câu hỏi, “điều làm tôi băn khoăn là tại sao hắn lại để cửa két mở ra như thế”.

“Tôi không chắc tôi theo kịp được ông, thanh tra?”

“Tôi sẽ giải thích, thưa ngài. Những tay trộm chuyên nghiệp thường có xu hướng để lại nguyên mọi thứ đúng như nguyên trạng, như thế hành động phạm tội của chúng sẽ không bị phát giác ra ngay. Điều đó cho phép chúng có nhiều thời gian hơn để tẩu tán đồ ăn cắp được”.

“Có nhiều thời gian hơn”, Hugo lặp lại.

“Một tay trộm chuyên nghiệp sẽ đóng cửa két lại và cầm theo chiếc phong bì, đảm bảo rằng phải mất một thời gian trước khi ngài phát hiện ra có thứ gì đó bị mất. Theo kinh nghiệm của tôi, một số người còn không mở két của họ suốt nhiều ngày, thậm chí hàng tuần liền. Chỉ một kẻ nghiệp dư mới để phòng làm việc của ông trong cảnh tanh bành thế này”.

“Vậy thì có lẽ đó là một kẻ nghiệp dư chăng?”

“Vậy thì làm thế nào hắn lại mở két ra được, thưa ngài?”

“Có thể bằng cách nào đó hắn lấy được chìa khóa của cô Potts chăng?”

“Và cả mã số nữa sao? Nhưng cô Potts quả quyết với tôi rằng tối nào cô ấy cũng mang chìa khóa két về nhà, và tôi nghĩ là ngài cũng sẽ làm như thế, thưa ngài”. Hugo không nói gì. “Tôi có thể nhìn vào bên trong két không?”

“Vâng, tất nhiên”.

“Cái gì đây?” viên thanh tra hỏi, chỉ tay vào một cái hộp thiếc ở tầng dưới cùng của két.

“Đây là bộ sưu tập tiền xu của tôi, thanh tra. Một thú vui cá nhân”.

“Ngài có thể vui lòng mở ra được không, thưa ngài?”

“Có thực sự cần thiết không?” Hugo sốt ruột hỏi.

“Vâng, tôi e là có, thưa ngài”.

Hugo miễn cưỡng mở hộp, để lộ ra vô vàn tiền xu vàng anh ta đã sưu tập được qua nhiều năm.

“Giờ ta lại có thêm một bí ẩn nữa”, viên thanh tra nói. “Tay trộm của chúng ta lấy đi sáu mươi bảng từ trong két, và tám bảng mười shiling từ trong ngăn kéo, nhưng lại bỏ lại cả bộ sưu tập tiền vàng chắc chắn có giá trị lớn hơn nhiều. Và còn vấn đề với chiếc phong bì nữa”.

“Chiếc phong bì ư?” Hugo hỏi.

“Phải, thưa ngài, chiếc phong bì mà ngài nói có đựng tiền”.

“Nhưng tôi thấy nó trên bàn làm việc của mình sáng nay”.

“Tôi không nghi ngờ chuyện đó, thưa ngài, nhưng ngài sẽ thấy nó được rọc mở rất gọn ghẽ”.

“Có thể bằng con dao mở bì thư của tôi”, Hugo nói, đắc thắng giơ con dao lên.

“Có thể lắm, thưa ngài, nhưng theo kinh nghiệm của tôi, những tên trộm thường có xu hướng xé toạc phong bì ra, chứ không rọc chúng gọn ghẽ bằng một con dao chuyên dụng như thể chúng đã biết trước có gì bên trong”.

“Nhưng cô Potts nói với tôi là các ông đã tìm thấy kẻ trộm rồi”, Hugo nói, cố không tỏ ra bực bội.

“Không, thưa ngài. Chúng tôi đã tìm thấy số tiền, nhưng tôi không tin là chúng tôi đã tìm thấy đối tượng phạm tội”.

“Nhưng các ông đã tìm thấy một phần tiền trên người kẻ đó?”

“Đúng vậy, thưa ngài”.

“Vậy ông còn muốn gì thêm nữa?”

“Đảm bảo chắc chắn rằng chúng tôi bắt đúng người”.

“Và người bị các ông buộc tội là ai?”

“Tôi không hề nói tôi buộc tội anh ta, thưa ngài”, viên thanh tra vừa nói vừa lật trang cuốn sổ ghi chép của ông ta. “Một người có tên là Stanley Tancock, trên thực tế là một công nhân làm việc cho ngài. Cái tên này có nói lên điều gì với ngài không?”

“Tôi không thể nói là có”, Hugo nói. “Nhưng nếu anh ta làm việc ở khu bến tàu, chắc chắn anh ta biết phòng làm việc của tôi ở đâu”.

“Thưa ngài, tôi không hề nghi ngờ chuyện Tancock biết chỗ phòng làm việc của ngài nằm ở đâu, vì anh ta nói là đã tới đây gặp ngài vào lúc khoảng bảy giờ tối qua để báo với ông rằng em rể anh ta, Arthur Clifton, bị mắc kẹt bên trong vỏ thân một con tàu đang đóng ngoài cầu tàu, và nếu ngài không ra lệnh cứu người đó ra thì anh ta sẽ chết”.

“À phải, giờ thì tôi nhớ ra rồi. Tầm chiều hôm qua quả thực tôi có đi tới cầu tàu, như người chánh đốc công của tôi có thể xác nhận, song cuối cùng hóa ra đó là một trường hợp báo động nhầm gây lãng phí thời gian của tất cả mọi người. Rõ ràng anh ta chỉ muốn xem xem két an toàn ở đâu, để sau đó anh ta có thể quay lại ăn trộm của tôi”.

“Anh ta thừa nhận có quay lại phòng làm việc của ngài thêm một lần nữa”, Blakemore nói, lật sang một trang sổ khác, “khi đó anh ta khẳng định ngài đề nghị cho anh ta sáu mươi tám bảng và mười shiling nếu anh ta giữ kín miệng về chuyện của Arthur Clifton”.

“Tôi chưa bao giờ phải nghe một lời bịa đặt trắng trợn đến thế”.

“Vậy chúng ta hãy cùng nhau xem xét khả năng còn lại một lát, thưa ngài. Chúng ta hãy giả thiết rằng Tancock thực sự quay lại phòng làm việc của ngài với ý định ăn trộm vào một thời điểm nào đó giữa bảy giờ và bảy giờ ba mươi phút tối hôm qua. Sau khi đã tìm được cách nào đó để lọt vào toà nhà không bị phát hiện, anh ta đi lên lầu năm, vào trong phòng làm việc của ngài, và mở khóa két bằng chìa khóa của ngài hoặc của cô Potts, nhập mã số, mở két lấy chiếc phong bì ra, dùng dao rọc mở nó một cách gọn ghẽ và lấy hết số tiền trong đó, song lại chẳng buồn để tâm tới cái hộp đựng đầy tiền vàng. Anh ta để mặc cửa két mở toang, rải vài thứ để trong đó xuống nền nhà rồi để chiếc phong bì được rọc mở ngay ngắn lại trên bàn làm việc của ngài, rồi sau đó, giống như Scarlett Pimpernel(37), biến mất vào không khí”.

“Việc đó không nhất thiết phải xảy ra trong khoảng thời gian từ bảy giờ tới bảy giờ ba mươi phút tối hôm qua”, Hugo chống chế. “Vụ trộm có thể diễn ra vào bất cứ lúc nào trước tám giờ sáng nay”.

“Tôi không nghĩ vậy, thưa ngài”, Blakemore nói. “Tancock có một bằng chứng ngoại phạm trong khoảng thời gian từ tám giờ đến mười một giờ tối qua”.

“Không nghi ngờ gì cái gọi là ‘bằng chứng ngoại phạm’ này là một trong số đám bạn của anh ta“, Barrington nói.

“Ba mươi mốt người tất cả, theo lần thống kê cuối cùng”, người thám tử thanh tra nói. “Dường như sau khi lấy trộm tiền của ngài, anh ta đã xuất hiện tại quán rượu Pig and Whistle vào khoảng tám giờ, và không chỉ bao cả quán, mà dường như còn thanh toán mọi khoản nợ nần. Anh ta đã trả cho chủ nhà một tờ năm bảng mới tinh, mà tôi đang cầm trong tay đây”.

Người thám tử lấy ví, rút ra một tờ bạc và đặt nó lên bàn làm việc của Barrington.

“Người chủ đất cũng cho biết Tancock rời khỏi quán lúc mười một giờ, và say khướt đến mức hai người bạn của anh ta phải đưa anh ta về nhà ở Still House Lane, nơi chúng tôi tìm thấy anh ta sáng hôm nay. Tôi buộc phải nói, thưa ngài, nếu đúng Tancock là người đã ăn trộm của ngài, thì chúng tôi đang tóm được một tay tội phạm bậc thầy và tôi sẽ rất hãnh diện được là người buộc hắn phải ra tòa. Tôi nghi ngờ rằng đó cũng chính xác là điều ngài nghĩ trong đầu, thưa ngài”, ông nói thêm, nhìn thẳng vào Barrington, “khi ngài đưa tiền cho anh ta”.

“Và tại sao tôi lại phải làm điều đó?” Hugo nói, cố giữ giọng bình thản.

“Bởi vì nếu Stanley Tancock bị bắt và tống vào tù, sẽ không ai cho rằng câu chuyện của anh ta về Arthur Clifton là nghiêm túc. Cũng thật tình cờ, không ai nhìn thấy Clifton từ chiều hôm qua. Vì thế tôi sẽ đề xuất lên thượng cấp của tôi đề nghị lập tức cho mở vỏ tàu ra để chúng tôi có thể khám phá xem liệu đây có phải là một trường hợp báo động nhầm và có đúng là Tancock đã làm lãng phí thời gian của tất cả mọi người hay không”.

*

Hugo Barrington đứng trước gương và chỉnh lại chiếc nơ của mình. Anh ta vẫn chưa nói gì với bố mình về việc Arthur Clifton mất tích hay chuyến thăm của thám tử thanh tra Blakemore. Ông già biết ít bao nhiêu sẽ tốt bấy nhiêu. Tất cả những gì anh ta nói là một ít tiền đã bị lấy trộm tại phòng làm việc của mình và một công nhân làm việc tại cầu tàu đã bị bắt.

Sau khi đã mặc áo vét dạ tiệc, Hugo ngồi xuống chân giường và đợi vợ mình hoàn tất việc mặc đồ. Anh ta ghét đến muộn, nhưng biết rõ chẳng cách hối thúc nào có thể làm Elizabeth khẩn trương hơn. Anh ta xem qua cậu con trai Giles cùng cô em gái nhỏ Emma, cả hai đứa trẻ đều đã nhanh chóng ngủ say.

Hugo muốn có hai con trai, một người thừa kế và một để dự phòng. Emma là một mối phiền toái, vì thế có nghĩa là anh ta sẽ phải cố thử thêm. Bố anh ta là con thứ và anh trai của ông đã mất khi tham chiến chống lại người Boer ở Nam Phi. Anh trai ông ta tử trận ở Ypres cùng với nửa trung đoàn của mình. Vì thế, sẽ có lúc, Hugo có thể hy vọng sẽ kế tục bố mình làm chủ tịch công ty, và đến khi bố anh ta qua đời, thừa kế tước vị cùng gia tài của gia đình.

Vậy là anh ta và Elizabeth sẽ phải thử lại. Không hẳn là vì làm tình với vợ anh ta vẫn còn hứng thú mà kỳ thực là anh ta không nhớ nổi liệu mình đã bao giờ từng có hứng thú chưa. Gần đây, anh ta đã tìm thú vui ở nơi khác.

“Các con là một cặp trời sinh”, mẹ anh ta từng nói thế. Bố anh ta thực tế hơn nhiều. Ông lão cảm thấy việc kết hợp con trai cả của mình cùng cô con gái duy nhất của huân tước Lord Harvey giống một cuộc sát nhập hơn là một cuộc hôn nhân. Khi anh trai của Hugo tử trận ngoài Mặt trận phía Tây, vị hôn thê của ông anh được chuyển tới tay Hugo. Không còn là một cuộc sát nhập nữa, mà là một cuộc chiếm quyền kiểm soát. Vào đêm tân hôn, Hugo không hề ngạc nhiên khi biết rằng Elizabeth vẫn còn trinh; kỳ thực là gái trinh thứ hai mà anh ta từng có.

Elizabeth cuối cùng cũng xuất hiện từ trong phòng thay đồ, xin lỗi vì đã để anh ta phải chờ, cũng giống như mọi khi. Quãng đường từ Manor House tới Barrington Hall chỉ chừng hai dặm, và tất cả đất đai nằm giữa hai tòa dinh thự đều là của gia đình. Khi Hugo và Elizabeth bước vào phòng khách trong tòa dinh thự của bố mẹ anh ta chỉ vài phút sau lúc tám giờ, Lord Harvey đã sang ly rượu sherry thứ hai của ông. Hugo đưa mắt quanh phòng quan sát các vị khách khác. Chỉ có một cặp mà anh ta không nhận ra.

Bố Hugo lập tức dẫn anh ta đi ngang qua phòng và giới thiệu anh ta với đại tá Danvers, người mới được bổ nhiệm làm cảnh sát trưởng của hạt. Hugo quyết định không đả động gì đến cuộc gặp sáng hôm đó của mình với thám tử thanh tra Blakemore với ông đại tá, nhưng ngay trước khi họ ngồi vào bàn ăn tối, anh ta kéo bố mình sang bên để cập nhật cho ông biết về vụ trộm, không bao giờ nhắc đến tên Arthur Clifton dù chỉ một lần.

Sau bữa tối với súp thịt thú rừng, thịt cừu ngon lành cùng đậu xanh, tiếp theo bằng kem caramen, nội dung cuộc trò chuyện bao gồm từ chuyến thăm của Hoàng tử xứ Wales tới Cardiff cũng như những tuyên bố khó có thể coi là hữu ích của ông ta về sự đồng cảm với các thợ mỏ, tới các mức thuế suất nhập khẩu mới của Lloyd George và những tác động của chúng lên ngành công nghiệp đóng tàu, cũng như vở kịch Ngôi nhà trái tim tan vỡ của George Bernard Shaw, mới bắt đầu trình diễn tại nhà hát Old Vic[1] và nhận được những lời bình luận đủ cả khen chê, trước khi quay trở lại với Hoàng tử xứ Wales cùng câu hỏi đáng bực mình về chuyện làm thế nào để tìm được một người vợ thích hợp cho ông ta.

Khi những người hầu đã dọn bàn sau món tráng miệng, các quý bà lui ra phòng khách và thưởng thức cà phê, trong lúc viên quản gia mời các quý ông rượu brandy hay porto.

“Do tôi chuyên chở và do ngài nhập khẩu”, Sir Walter vừa nói vừa nâng ly với Huân tước Lord Harvey, trong khi người quản gia đi vòng quanh bàn mời quan khách xì gà. Sau khi điếu Romeo y Julieta[2] của Lord Harvey đã được châm đến độ ông vừa lòng, ông quay sang con rể mình và nói, “Bố anh nói với tôi vừa có một kẻ du đãng lẻn vào phòng làm việc của anh lấy cắp một lượng tiền mặt lớn”.

“Vâng, đúng thế”, Hugo đáp. “Nhưng con rất mừng có thể nói với bố rằng người ta đã bắt được thủ phạm. Nhưng thật đáng buồn, kẻ đó hóa ra lại là một công nhân làm việc cho con tại cầu tàu”.

“Có đúng vậy không, Danvers?” Sir Walter hỏi. “Ông đã bắt được kẻ đó rồi sao?”

“Đúng là tôi có được nghe nói đến việc này”, ông cảnh sát trưởng đáp, “nhưng tôi chưa được báo cáo rằng có ai bị buộc tội”,

“Sao lại chưa?” Lord Harvey hỏi.

“Vì kẻ đó nói là chính con đã đưa tiền cho hắn ta”, Hugo chen vào. “Thực ra, khi người thám tử thanh tra tới thẩm vấn con sáng nay, con bắt đầu băn khoăn tự hỏi ai là tội phạm và ai mới là người bị hại”.

“Tôi lấy làm tiếc được biết ông cảm thấy như thế”, đại tá Danvers nói. “Tôi có thể được biết sĩ quan phụ trách cuộc điều tra là ai không?”

“Thám tử thanh tra Blakemore”, Hugo nói, trước khi nói thêm, “tôi có cảm giác ông ta có lẽ có chút gì đó đố kỵ với gia đình tôi”.

“Khi ông tuyển mộ nhiều nhân viên như chúng tôi”, Sir Walter nói, đặt ly của ông xuống bàn, “thế nào cũng sẽ có người mang lòng đố kỵ”.

“Tôi phải thừa nhận”, Danvers nói, “Blakemore không phải là người được biết đến vì sự tế nhị. Nhưng tôi sẽ để tâm tới chuyện này, và nếu tôi cảm thấy anh ta đi quá giới hạn, tôi sẽ chỉ định một người khác phụ trách điều tra”.

❀ ❀ ❀

[1] * Một nhà hát tại London.

[2] * Một mác xì gà Cuba bắt đầu sản xuất từ năm 1875.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.