Arthur thường đi thẳng về nhà sau giờ làm việc buổi tối để có được chút thời gian chơi với con trai trước khi tôi cho bé đi ngủ. Khi chồng tôi không về vào tối ngày thứ Sáu đó, tôi đoán là anh đã rẽ vào quán rượu cùng anh trai tôi. Nhưng khi Stan loạng choạng bước về nhà ngay sau nửa đêm, say bí tỉ và vung vẩy một nắm tiền năm bảng, tôi đã không thấy Arthur đâu cả. Kỳ thực, Stan đã đưa cho tôi một tờ năm bảng, điều đó khiến tôi tự hỏi liệu có phải anh tôi đã cướp ngân hàng hay không. Nhưng khi tôi hỏi anh trai mình Arthur đang ở đâu, thì anh tôi im tịt.
Tối hôm đó tôi không hề lên giường, chỉ ngồi trên bậc thềm cuối cùng của cầu thang chờ đợi chồng quay về nhà. Arthur chưa bao giờ đi đâu qua đêm kể từ ngày chúng tôi cưới nhau.
Cho dù Stan đã tỉnh rượu khi anh bước xuống bếp buổi sáng hôm sau, anh trai tôi không hé răng nói một lời nào suốt bữa sáng. Khi tôi gặng hỏi anh xem Arthur ở đâu, anh tôi nói anh ta không nhìn thấy chồng tôi kể từ khi hai người tan ca buổi tối hôm trước. Chẳng khó để khẳng định Stan đang nói dối, vì anh không dám nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi đang định hỏi dồn tiếp thì nghe thấy tiếng đấm thình thình ngoài cửa trước. Thoạt đầu tôi nghĩ đây hẳn là Arthur, vậy nên tôi hối hả chạy ra mở cửa.
Khi tôi mở cửa, hai viên cảnh sát xông thẳng vào nhà, chạy xuống bếp, tóm lấy Stan, còng tay anh trai tôi và báo cho anh biết anh bị bắt vì tội ăn cắp. Giờ thì tôi đã biết những tờ năm bảng là từ đâu mà có.
“Tôi không ăn cắp gì hết”, Stan phản đối. “Là ông Barrington đã cho tôi tiền”.
“Câu chuyện nghe hay lắm, Tancock”, viên cảnh sát thứ nhất nói.
“Nhưng có Chúa chứng giám, đó là sự thật, thưa ngài sĩ quan”, anh tôi cố nói trong khi bị lôi ra xe. Lần này thì tôi biết Stan không nói dối.
Tôi để Harry lại cho mẹ trông và chạy một mạch tới cầu tàu, hy vọng tìm thấy Arthur có mặt điểm danh ca sáng và̉ nói cho tôi biết tại sao Stan lại bị bắt. Tôi cố không nghĩ tới khả năng có thể cả Arthur cũng đã bị bắt.
Người gác cổng nói với tôi rằng ông ta chưa thấy Arthur từ đầu giờ sáng. Nhưng sau khi kiểm tra lại bảng chấm công, ông ta có vẻ lúng túng, vì Arthur cũng đã không trình diện rời khỏi nơi làm việc buổi tối hôm trước. Tất cả những gì ông ta có thể nói là, “Đừng trách tôi. Tối qua tôi không phải là người trực”. Mãi đến sau này tôi mới băn khoăn là tại sao ông ta lại dùng đến từ “trách”.
Tôi đi vào khu cầu tàu và hỏi thăm vài người bạn của Arthur, những tất cả họ đều lặp đi lặp lại. “Chưa thấy chồng chị từ lúc anh ấy ra về tối hôm qua”. Sau đó họ vội vàng bỏ đi. Tôi đang định tìm đến đồn cảnh sát xem liệu có phải cả Arthur cũng đã bị bắt hay không thì nhìn thấy một ông già đi ngang qua, đầu cúi gằm.
Tôi đuổi theo ông ta, cứ nghĩ rằng ông sẽ bảo tôi hãy cuốn xéo đi hay tuyên bố ông ta không biết tôi đang nói về chuyện gì. Nhưng khi tôi lại gần, ông già dừng lại, bỏ mũ ra và nói, “Xin chào bà”. Tôi thực sự ngạc nhiên trước thái độ tử tế của ông, và điều đó giúp tôi đủ can đảm để hỏi xem ông có trông thấy Arthur sáng hôm đó không.
“Không”, ông già đáp. “Lần cuối cùng tôi thấy chồng bà là chiều hôm qua, khi chồng bà làm ca muộn cùng anh trai bà. Có lẽ cô nên hỏi anh trai mình”.
“Tôi không thể”, tôi nói. “Anh tôi đã bị bắt và giải về đồn rồi”.
“Họ bắt anh trai bà vì tội gì?” Già Jack hỏi, tỏ vẻ ngỡ ngàng.
“Tôi không biết”, tôi trả lời.
Già Jack lắc đầu. “Tôi không thể giúp được gì cho bà, thưa bà Clifton”, ông già nói. “Nhưng có ít nhất hai người biết toàn bộ câu chuyện”. Ông già hất hàm về phía tòa nhà lớn xây bằng gạch đỏ mà Arthur luôn gọi là “ban quản lý”.
Tôi rùng mình khi nhìn thấy một người cảnh sát bước ra khỏi cửa chính tòa nhà, và khi tôi ngoái lại, Già Jack đã biến mất.
Tôi đã nghĩ đến chuyện đi vào tòa nhà “quản lý”, còn gọi là Barrington House, là tên gọi chính xác của nó, nhưng rồi lại quyết định thôi. Nói cho cùng, tôi biết nói gì nếu tôi đến đối diện với ông chủ của Athur? Cuối cùng thì tôi uể oải đi bộ quay về nhà, cố suy nghĩ để hiểu những gì đã xảy ra.