Chỉ Thời Gian Có Thể Cất Lời

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
27

❊ ❊ ❊

Vào một buổi chiều thứ Năm mát dịu ở miền Bắc xứ Transvaal, tôi đã giết chết mười một người, và quốc gia đầy biết ơn đã trao tặng cho tôi huân chương Chữ thập Victoria vì thành tích phục vụ xuất sắc vượt quá tiếng gọi của danh dự. Kể từ ngày đó, tôi chưa bao giờ có được một tối yên giấc.

Nếu tôi giết một người Anh tại quê hương mình, một vị thẩm phán nào đó hẳn sẽ kết án treo cổ tôi. Thay vào đó, tôi đã bị kết án tù chung thân, vì tôi vẫn nhìn thấy khuôn mặt của mười một người thanh niên tội nghiệp kia mỗi ngày, giống như hình dập nổi trên một đồng tiền xu không bao giờ mờ đi. Tôi vẫn hay nghĩ tới chuyện tự sát, nhưng làm vậy là lựa chọn lối thoát của những kẻ hèn nhát.

Trong lời ca ngợi đăng trên tờ The Times, người ta viết rằng hành động của tôi đã giúp cứu sống hai sĩ quan, năm hạ sĩ quan và mười bảy người lính thuộc trung đoàn Hoàng gia Gloucesters. Một trong số họ là trung úy Walter Barrington, người đã giúp tôi có thể chịu đựng hình phạt với ít nhiều tự trọng.

Vài tuần sau chiến công của mình, tôi được xuống tàu về Anh, và vài tháng sau đó, tôi được giải ngũ trong danh dự bởi tình trạng mà ngày nay có thể được gọi là suy nhược thần kinh. Sau khi trải qua sáu tháng trong quân y viện, tôi được gửi trả lại thế giới bên ngoài. Tôi thay tên đổi họ, tránh xa thị trấn quê hương là thành phố Wells ở vùng Sommerset và tới sống tại Bristol. Không giống như một đứa con trai hoang đàng biết tìm đường về, tôi từ chối vượt qua quãng đường vài dặm để đi sang hạt kế bên, nơi tôi đã có thể tận hưởng sự bình yên trong ngôi nhà của cha mình.

Ban ngày, tôi lang thang trên khắp phố phường Bristol, lục lọi các thùng rác tìm đồ ăn thừa, trong khi vào ban đêm phòng ngủ của tôi là công viên, giường nằm của tôi là một băng ghế, chuông báo thức của tôi là tiếng chim hót đầu tiên báo bình minh đến. Khi trời quá lạnh hay có mưa, tôi tìm đến phòng chờ của nhà ga địa phương, tại đó tôi qua đêm trên một băng ghế và thức giấc trước khi chuyến tàu đầu tiên vào bến sáng hôm sau. Khi đêm trở nên dài hơn, tôi đăng ký để trở thành một vị khách không phải trả tiền của Hội Cứu tế trên phố Little George, nơi những người phụ nữ hảo tâm cho tôi suất ăn gồm bánh mì cứng đơ và thứ súp loãng trước khi tôi ngủ thiếp đi trên tấm đệm lông ngựa dưới một lớp chăn mỏng. Quả là xa xỉ.

Năm tháng dần trôi, tôi hy vọng rằng các đồng đội cũ và các sĩ quan cùng đơn vị đều nghĩ tôi đã chết. Tôi không hề muốn họ phát hiện ra đây chính là nhà tù tôi lựa chọn để thi hành bản án chung thân của mình. Và rất có thể mọi thứ vẫn sẽ cứ tiếp tục như thế, nếu không có một chiếc Rolls - Royce phanh két lại giữa đường. Cửa sau xe mở toang, và một người đàn ông đã rất nhiều năm tôi chưa gặp chui ra.

“Đại úy Tarrant!” anh ta kêu lên trong lúc bước về phía tôi. Tôi quay mặt đi, hy vọng anh ta nghĩ mình đã nhầm. Nhưng tôi nhớ quá rõ rằng Walter Barrington không phải là người hay nghi ngờ về bản thân. Anh ta giữ lấy vai tôi, nhìn tôi chằm chằm một lúc trước khi nói, “Làm sao lại có thể thế này được, ông bạn cũ?”

Tôi càng cố thuyết phục anh ta rằng tôi không cần sự giúp đỡ của anh ta, thì anh ta càng kiên quyết muốn trở thành người cứu vớt tôi. Cuối cùng tôi cũng đành nhượng bộ, nhưng chỉ sau khi anh ta đã chấp nhận các đòi hỏi và điều kiện của tôi.

Thoạt đầu, anh ta khẩn khoản mời tôi tới ở cùng vợ chồng anh ta ở Manor House, nhưng tôi đã đã tồn tại đủ lâu mà không cần phải có một mái nhà che đầu, đủ để nhìn nhận tất cả những thứ tiện nghi đó chỉ như một gánh nặng không hơn không kém. Thậm chí anh ta còn đề nghị dành cho tôi một vị trí trong hội đồng quản trị của công ty vận tải hàng hải mang họ của anh ta.

“Tôi có thể có ích lợi gì cho cậu chứ?” tôi hỏi.

“Chỉ sự hiện diện của anh thôi, Jack à, cũng là nguồn động viên lớn lao cho chúng tôi rồi”,

Tôi cảm ơn anh ta, nhưng giải thích rằng tôi vẫn chưa hoàn tất bản án tôi phải chịu vì cái chết của mười một con người. Song anh ta vẫn không nhượng bộ.

Cuối cùng tôi chấp nhận công việc làm người gác đêm trên bến tàu, với tiền công ba bảng một tuần và được cung cấp toàn bộ nơi ăn chốn ở: một toa xe lửa bỏ đi hiệu Pullman giờ đây trở thành buồng giam của tôi. Tôi đoán chắc mình sẽ tiếp tục bản án chung thân ấy đến lúc chết, nếu tôi không gặp cậu Harry Clifton.

Nhiều năm sau đó, Harry có nói chính tôi đã định hình nên cả cuộc đời cậu ấy. Sự thật thì, chính cậu bé đã cứu vớt cuộc đời tôi.

Lần đầu tiên tôi trông thấy Harry, cậu bé khi ấy chắc mới chỉ bốn hay năm tuổi. “Vào đi, chàng trai”, tôi đã gọi khi nhìn thấy cậu bé đang bò trên hai tay và đầu gối về phía toa xe. Nhưng cậu ta đã ngay lập tức vùng dậy và bỏ chạy.

Ngày thứ Bảy tiếp theo, khoảng cách xa nhất mà cậu bé tiến lại là nhìn vào qua ô cửa sổ. Tôi lại thử lần nữa. “Sao cháu không vào trong đi, chàng trai? Ta sẽ không cắn cháu đâu”, tôi nói, cố trấn an cậu bé. Lần này, cậu bé chấp nhận lời mời của tôi và mở cửa ra, nhưng vừa kịp nói vài lời, cậu bé lại bỏ chạy. Chẳng lẽ trông tôi đáng sợ đến thế sao?

Đến thứ Bảy tiếp sau, cậu bé không chỉ mở cửa mà còn đứng giạng chân ra trên bậu cửa, nhìn tôi chằm chằm đầy thách thức. Chúng tôi trò chuyện cả tiếng đồng hồ, về mọi thứ trên đời từ chuyện về đội Bristol FC cho tới tại sao rắn lại lột da và ai đã xây dựng cầu treo Clifton, trước khi cậu bé nói, “Bây giờ cháu phải về, ông Tar, mẹ cháu đang đợi cháu về ăn chiều”. Lần này cậu bé bước đi, nhưng ngoái lại nhìn vài lần.

Sau buổi hôm đó, Harry tới thăm tôi vào tất cả các ngày thứ Bảy cho tới lúc cậu đi học ở trường Tiểu học Merrywood, khi ấy cậu nhóc bắt đầu xuất hiện gần như vào mọi buổi sáng. Tôi phải mất một thời gian mới thuyết phục được cậu bé rằng cậu nên ở lại trường và học đọc học viết. Thành thực mà nói, tôi không thể thành công trong việc đó nếu không có sự giúp đỡ của cô Monday, ông Holcombe và người mẹ kiên cường của Harry. Phải cần đến cả một nhóm những con người cừ khôi để giúp Harry Clifton nhận ra tiềm năng của cậu bé, và tôi biết chúng tôi đã thành công khi thêm một lần nữa cậu bé chỉ tìm được thời gian để đến thăm tôi vào các buổi sáng thứ Bảy vì cậu đang mải chuẩn bị thi để giành lấy một suất học bổng đồng ca tại trường St. Bede.

Sau khi Harry đã vào học trường mới, tôi không trông đợi sẽ được gặp lại cậu cho tới tận kỳ nghỉ Lễ Giáng sinh. Nhưng tôi đã có một phen kinh ngạc khi thấy cậu bé đứng bên ngoài cửa toa xe lửa của tôi ngay trước lúc mười một giờ tối ngày thứ Sáu đầu tiên của học kỳ.

Cậu bé nói cho tôi biết cậu rời khỏi St. Bede vì có một giám thị đang bắt nạt cậu - quỷ bắt tôi đi nếu tôi còn nhớ tên anh chàng nọ - và cậu ta định sẽ bỏ trốn trên một con tàu ra khơi. Nếu cậu ấy đã làm thế thật, tôi ngờ rằng Harry có thể sẽ trở thành đô đốc. Nhưng thật may là cậu bé đã nghe theo lời khuyên của tôi và quay lại trường cho kịp giờ ăn sáng vào sáng hôm sau.

Bởi vì cậu ấy luôn đi tới bến tàu cùng Stan Tancock, phải mất một thời gian sau tôi mới nhận ra Harry chính là con trai của Arthur Clifton. Cậu bé từng có lần hỏi tôi có biết bố cậu không, tôi trả lời cậu bé là có, bố cậu là một người lương thiện tử tế với thành tích chiến đấu tốt trong chiến tranh. Và rồi cậu ấy hỏi tôi có biết bố cậu đã chết như thế nào. Tôi nói tôi không biết. Đó là lần duy nhất tôi từng nói dối cậu bé. Tôi không thể làm ngơ những nguyện vọng của mẹ cậu ấy.

*

Tôi đang đứng trên cầu tàu khi công nhân đổi ca. Thậm chí chẳng ai buồn nhìn tôi đến lần thứ hai, như thể tôi không hề hiện diện ở đó, và tôi biết có một số người thậm chí nghĩ tôi chẳng có mặt ở đó. Tôi không làm gì để thay đổi tình hình đó, vì nó cho phép tôi thi hành bản án của mình một cách ẩn danh.

Arthur Clifton từng là một công nhân giỏi, một trong những người khá nhất, và anh ta nhìn nhận công việc của mình một cách nghiêm túc, không giống người bạn thân nhất của mình, Stan Tancock, với anh này điểm đến đầu tiên trên đường về nhà luôn là quán Pig and Whistle. Đó là vào những tối mà anh ta lần mò được đến nhà.

Tôi nhìn theo Clifton khi anh ấy biến mất vào bên trong vỏ thân con tàu Maple Leaf để kiểm tra lại lần cuối trước khi các thợ hàn bắt tay vào hàn kín phần đáy kép. Tiếng còi tan ca lanh lảnh rít lên hẳn đã làm tất cả mọi người phân tâm; một ca ra về, một ca khác vào làm, và đám thợ hàn cần bắt tay vào việc ngay lập tức nếu muốn hoàn tất công việc vào cuối ca và giành được tiền thưởng. Không ai để ý xem liệu Clifton đã leo ra khỏi phần đáy kép hay chưa, kể cả tôi.

Tất cả chúng tôi đều cho rằng anh ta hẳn cũng đã nghe thấy tiếng còi và hoà vào cùng hàng trăm công nhân đang ùn ùn đi qua cổng về nhà. Không giống như ông anh vợ mình, Clifton hiếm khi rẽ vào uống một vại ở quán Pig and Whistle mà thường thích đi thẳng về Still House Lane cùng vợ và con trai. Vào những ngày đó, tôi không hề biết vợ hay con anh ta, và có thể đã chẳng bao giờ biết nếu Arthur Clifton trở về nhà vào hôm ấy.

Ca thứ hai đang miệt mài làm việc thì tôi nghe thấy Tancock la hét om sòm. Tôi thấy anh ta chỉ tay vào vỏ thân tàu nhưng Haskins, người chánh đốc công, chỉ xua anh ta sang bên như thể anh ta là một con ong bắp cày phiền toái.

Tancock nhận thấy rằng sẽ chẳng đi tới đâu được với Haskins, anh ta đùng đùng lao xuống cầu ván và bắt đầu chạy theo bờ cầu tàu về phía Barrington House. Khi Haskins nhận ra Tancock đang đi đâu, anh ta vội chạy theo người công nhân và thiếu chút nữa bắt kịp khi Stan lao qua cánh cửa xông vào trụ sở của công ty hàng hải.

Trong sự ngạc nhiên của tôi, chỉ vài phút sau Tancock lại chạy ra khỏi tòa nhà, và tôi còn ngạc nhiên hơn nữa khi thấy Haskins và giám đốc điều hành của công ty bám sát theo sau anh này. Tôi không thể tưởng tượng ra điều gì có thể khiến Hugo rời khỏi phòng làm việc chỉ sau một cuộc nói chuyện ngắn ngủi như vậy với Stan Tancock.

Không lâu sau tôi biết được lý do, vì ngay khi Hugo tới cầu tàu, anh ta lập tức ra lệnh cho cả ca làm việc buông dụng cụ xuống, ngừng mọi chuyện và giữ im lặng, như thể đây là ngày Chủ nhật Tưởng Nhớ. Và chỉ khoảng một phút sau, Haskins lại ra lệnh cho tất cả công nhân quay lại làm việc.

Chính lúc ấy, lần đầu tiên tôi nghĩ tới khả năng Arthur Clifton có thể vẫn còn kẹt lại bên trong lớp đáy kép. Nhưng chắc chắn không ai lại nhẫn tâm đến mức vẫn bỏ đi nếu như anh ta nghĩ, cho dù chỉ trong thoáng chốc, có ai đó đang bị chôn sống bên trong nấm mồ bằng thép do chính họ tạo ra.

Khi những người thợ hàn quay lại làm việc, Hugo lại nói gì đó với Tancock trước khi anh ta đi ra khỏi cổng khu cầu tàu và biến mất khỏi tầm nhìn. Tôi quay lại xem Haskins có đuổi theo anh ta hay không, nhưng rõ ràng viên chánh đốc công đang mải bận tâm với việc đốc thúc mọi người cật lực để bù lại thời gian đã mất, giống như một quản nô trên thuyền có mái chèo đang đốc thúc các nô lệ của mình. Một lát sau, Hugo bước xuống cầu ván, leo lên xe của anh ta và lái đi.

Lần tiếp theo ngó qua cửa sổ, tôi thấy Tancock đang chạy trở lại và lại một lần nữa lao về phía Barrington House. Lần này phải nửa tiếng sau mới quay ra, và này anh ta không còn mặt đỏ tía tai đầy phẫn nộ, mà trông có vẻ bình thản hơn nhiều. Tôi cho rằng hẳn anh ta đã tìm thấy Clifton và chỉ đơn giản là muốn báo cho Hugo biết.

Tôi ngước mắt nhìn lên phòng làm việc của Hugo và thấy anh ta đứng bên cửa sổ quan sát Tancock ra về. Viên giám đốc chỉ rời khỏi khung cửa sổ cho tới khi anh này khuất bóng. Vài phút sau, Hugo rời khỏi tòa nhà, bước tới xe của mình và lái đi.

Tôi sẽ không bao giờ bận tâm nghĩ tới chuyện đó nếu Arthur Clifton chấm công vào ca sáng hôm sau, nhưng anh ấy không hề xuất hiện, và chẳng bao giờ xuất hiện nữa.

Sáng hôm sau, thám tử thanh tra Blakemore tìm tới toa xe lửa gặp tôi. Bạn thường có thể đoán biết được tính cách một con người qua cách anh ta đối xử với đồng loại. Blakemore là một trong số hiếm hoi những người có thể nhìn quá được sống mũi của mình.

“Ông nói ông thấy Stan Tancock rời khỏi Barrington House vào khoảng giữa bảy giờ và bảy giờ ba mươi phút tối hôm qua?”

“Vâng, đúng thế”, tôi nói với anh ta.

“Trông anh ta có vẻ vội vã, lo lắng hay muốn âm thầm lẻn ra không để ai nhìn thấy hay không?”

“Ngược lại là đằng khác”, tôi nói. “Tôi nhớ lúc ấy đã nghĩ là trông anh ta có vẻ vô tư đến mức đáng ngạc nhiên trong hoàn cảnh ấy”.

“Trong hoàn cảnh ấy à?” Blakemore lặp lại.

“Chỉ chừng một giờ đồng hồ trước, anh ta đã lớn tiếng cho rằng người bạn Arthur Clifton của mình đã bị mắc kẹt bên trong đáy kép của chiếc tàu Maple Leaf, và người ta đã không làm gì để giúp anh ấy”.

Blakemore viết những lời tôi nói vào sổ ghi chú của anh ta. “Ông có biết Tancock đi đâu sau đó không?”

“Không”, tôi trả lời. “Lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh ta, anh ta đang bá vai bá cổ một người bạn đi ra cổng”.

“Xin cảm ơn ngài”, người thám tử thanh tra nói. “Sự hợp tác của ngài thực sự hữu ích”. Đã lâu lắm mới có người gọi tôi là ngài. “Ngài có thể vui lòng, khi nào thuận tiện với ngài, tới đồn để viết một bản khai được không?”

“Tôi muốn không phải đi thì hơn, thanh tra”, tôi nói với anh ta, “vì lý do cá nhân. Nhưng tôi sẵn lòng viết một bản khai mà ông có thể qua đây lấy bất cứ lúc nào thích hợp với ông”.

“Ngài thật chu đáo, thưa ngài”.

Người thám tử thanh tra mở ca táp, lấy ra một bản tờ khai của cảnh sát và đưa cho tôi. Sau đó anh ta nhấc mũ lên và nói, “Cảm ơn ngài, thưa ngài, tôi sẽ liên lạc lại sau”. Nhưng tôi không bao giờ gặp lại anh ta nữa.

Sáu tuần sau, Stan Tancock bị kết án ba năm tù vì tội trộm cắp, với Hugo Barrington là nhân chứng chính của công tố viên. Tôi tới dự tất cả các ngày có phiên toà, và trong tâm trí tôi không còn chút nghi ngờ nào về chuyện đâu mới là bên có tội.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.