Hôm đó, lão già kéo chiếc xe ba gác khung sắt không lốp, lượn lờ nửa ngày trời mà chẳng thu mua được chút phế liệu nào. Lão đứng trên bãi đất trống ngoài tường chùa Vận Hoàng, mải mê xem mấy vị "khí công đại sư" dạy người ta cách dẫn khí thổ nạp, lại thấy từng tốp người tụ tập dưới bức tường thấp bói toán quẻ mệnh, bèn lân la lại gần, cũng muốn một thầy bói xem giúp vận hạn lưu niên của mình. Đám người vây quanh liền nói: "Lão già, ở đây không bói vận mệnh cỏn con đâu, đại sư là cao nhân núi Nga Mi, chuyên dự đoán đại sự thiên hạ đó!" rồi tự tiện xô lão ra xa. Lão già vô cớ bị sỉ nhục, mặt đỏ gay. Đúng lúc trời đổ mưa, tiếng mưa lộp bộp như tiền đồng rơi xuống, mặt đất lập tức bốc lên một làn bụi mù, trong chớp mắt đã đọng đầy nước, vô số bọt nước thay nhau hiện lên rồi tan đi. Mọi người đều tản mát cả, lão già nói một câu "mưa đúng lúc", vứt xe không màng, chạy tới dưới cột cờ trước sơn môn chùa Vận Hoàng trú mưa. Vì rảnh rỗi buồn chán, hoặc có lẽ do ngứa cổ họng, lão lại cao giọng ngâm một đoạn đồng dao trong tiếng mưa xối xả.
Không ngờ, Trí Tường đại sư của chùa Vận Hoàng đang ngồi tĩnh tọa trong sơn môn lại nghe lọt tai đoạn đồng dao này. Bên trong sơn môn chùa Vận Hoàng có một tảng đá kỳ lạ, ngày thường chẳng có màu sắc gì, hễ gặp trời mưa âm u, trên đá lại hiện rõ đường vân hình rồng, sống động như thật. Trí Tường đại sư thấy mưa, liền tới chỗ sơn môn xem Long Thạch, nghe tiếng bên ngoài hát: "...quan lại giàu lên, kẻ bán hàng phất lên, người nghèo thì dạt sang bên..." thì trầm tư suy nghĩ. Đột nhiên có tiếng nổ lớn "rắc rắc", tựa như sét đánh nổ ngay trên mái ngói sơn môn. Ngửa đầu nhìn lên, thấy phía tây trên trời có bảy dải cầu vồng đan xen chéo nhau giữa không trung, liên tưởng đến chuyện ngày hôm đó trên trời xuất hiện bốn mặt trời, ông biết Tây Kinh sắp có chuyện lạ xảy ra. Quả nhiên ngày hôm sau nghe đài phát thanh, cách Tây Kinh hai trăm dặm, tại chùa Pháp Môn đã tìm thấy xá lợi của Thích Ca Mâu Ni. Phật cốt xuất hiện tại Tây Kinh, thiên hạ chấn động. Đêm đó, Trí Tường đại sư tĩnh tọa trong thiền phòng bỗng nhiên ngộ ra, tự nhủ rằng thế gian bây giờ ít loài sói hổ báo, là vì chúng đều hóa kiếp thành người mà đầu thai, cho nên kẻ xấu xa mới nhiều như thế. Đồng thời, mấy năm gần đây trong thành Tây Kinh tụ tập quá nhiều khí công sư và người có dị năng, chẳng lẽ là do ông trời phái hạng người này tới cứu vớt nhân loại? Chùa Vận Hoàng vốn có công pháp thâm hậu, thay vì để đám khí công sư và dị nhân với công pháp tầm thường kia thi nhau xuất thế, tại sao mình không góp một phần công đức? Thế là ông dán áp phích, quảng cáo rộng rãi, mở ngay tại chùa một lớp học luyện công sơ cấp, thu nhận học viên, truyền thụ "Thông Thiên Quán Địa Viên Trí Công Pháp".
Lớp học khí công đã tổ chức được ba khóa, khóa nào cũng có một học viên tên là Mạnh Vân Phòng. Mạnh Vân Phòng là nghiên cứu viên của Văn Sử Quán, nhưng lại rất hứng thú với mọi chuyện. Bảy năm trước, khắp thành phố rộ lên phong trào dùng nấm trà để chữa bệnh tăng cường sức khỏe, ông liền về nhà nuôi, làm cho cả căn phòng toàn là chai lọ đựng nấm, lại còn lấy biếu xén hàng xóm láng giềng rất nhiều, nhờ đó mà quen được một "bạn trà", để rồi "bạn trà" này trở thành vợ mình. Sau đó, hai vợ chồng lại bắt đầu tập vẩy tay, nói rằng liệu pháp vẩy tay còn hơn cả nấm trà. Tất nhiên chỉ được nửa năm, xã hội lại rộ lên phong trào ăn trứng ngâm giấm, lại rộ lên uống tiết gà, họ đều thử qua cả. Chẳng ngờ uống tiết gà lại sinh bệnh, vợ ông bị rụng lông vùng kín, đi khắp các bệnh viện chữa trị không khỏi, tình cờ nghe nói người hàng xóm kế bên có bí phương gia truyền, vợ bèn sang cầu chữa, quả nhiên lông mới mọc lại. Người hàng xóm lớn hơn Mạnh Vân Phòng một tuổi, trước kia cũng từng chơi mạt chược cùng nhau, sau lần đó hễ ra cửa chạm mặt, gật đầu chào hỏi, người hàng xóm lại cười khẩy. Mạnh Vân Phòng bèn mua lễ vật rất hậu về nói với vợ: "Người ta chữa khỏi bệnh cho nàng, nàng nên đi cảm ơn mới phải." Vợ mang lễ vật sang, hớn hở trở về nhà, thì Mạnh Vân Phòng đã để sẵn đơn ly hôn trên bàn bắt cô ký, nói rằng: "Giờ thì tốt rồi, chúng ta ly hôn đi, vợ là vợ của tôi, mặc áo gặp cha, cởi áo gặp chồng, của cải của vợ tôi sao lại để người ngoài nhìn thấy được?!" Ly hôn được nửa năm, ông cưới vợ mới tên là Hạ Tiệp, rồi theo họ Hạ dọn sang nơi ở mới. Nơi ở mới là căn nhà cấp bốn, vừa đúng cách chùa Vận Hoàng một bức tường. Bức tường không cao, Mạnh Vân Phòng sau khi cưới, ngày thường rảnh rỗi thường hay gác đầu lên tường, nghe tiếng thanh khí nhạc cụ bên kia, xem các nhà sư đi lại. Từ sau khi tham gia lớp học khí công, mỗi ngày nghe tiếng chiêng truyền công gõ vang, liền nhanh nhẹn như khỉ, trèo tường qua. Có lần bị Trí Tường đại sư bắt gặp, ông vội muốn lẩn trốn, đại sư lại nói: "Chúng ta là chỗ quen cũ mà!" Mạnh Vân Phòng vội gật đầu đồng ý, nhưng hỏi: "Đại sư trí nhớ tốt thật, vẫn còn nhớ tôi sao?" Đại sư nói: "Sao lại không nhớ, đóa hoa lạ của các người chết rồi à?" Mạnh Vân Phòng nói: "Chết rồi ạ, đại sư đoán chữ thật là linh nghiệm!" Đại sư lại hỏi: "Còn người bạn kia của anh đâu? Bệnh khỏi chưa?" Mạnh Vân Phòng đáp: "Bệnh khỏi lâu rồi ạ. Đại sư cũng biết anh ấy từng bị bệnh sao? Thật là thần nhân!" Đại sư nói: "Đâu có, nếu là thần nhân, thì lúc đó tôi đã giữ cái người nổi tiếng ấy lại để đàm đạo cho kỹ rồi!" Mạnh Vân Phòng vội nói: "Hôm khác con nhất định dẫn anh ấy tới bái kiến đại sư!"
Qua một khóa học khí công, Mạnh Vân Phòng mê mẩn khí công, lại còn đi rêu rao khắp nơi rằng mình đã có "khí cảm". Mỗi lần tụ họp bạn bè, ông luôn ngồi xếp bằng làm bộ dáng luyện công, hễ động tí là phát công cho người khác, rồi lại hỏi đi hỏi lại có cảm giác gì không? Cảm giác thì chẳng có gì cả. Lại niệm chú, niệm đến sùi cả bọt mép, mồ hôi đầm đìa, vẫn không được. Đám người liền cười ồ lên. Hạ Tiệp nói: "Anh ấy thực sự có khí rồi đó, tối qua bụng tôi đầy hơi, anh ấy vừa phát công, quả nhiên trong bụng kêu ọc ạch, lát sau là tôi phải chạy vào nhà vệ sinh rồi. Bây giờ anh ấy rượu thịt không chạm, thuốc lá không hút, hành cũng không ăn nữa cơ!" Mạnh Vân Phòng nói: "Thật đấy." Đám người nói: "Ồ, theo hòa thượng thì thành hòa thượng rồi à, thế đã 'giới sắc' chưa? Nếu tối không ngủ với chị dâu, thế mới là thực sự giới!" Hạ Tiệp cũng cười bảo: "Tôi cũng đang đợi anh ấy giới đây này!" Nhưng lại liếc mắt nhìn sang, Mạnh Vân Phòng liền đỏ mặt.
Lời của Hạ Tiệp, chỉ có Hạ Tiệp và Mạnh Vân Phòng hiểu. Hóa ra trong thời gian học khí công, Mạnh Vân Phòng quen biết tiểu ni cô Huệ Minh trong chùa. Huệ Minh độ tuổi hai mươi bốn, ba năm trước tốt nghiệp Phật học viện đến chùa Vận Hoàng. Hai người trò chuyện mấy lần, Mạnh Vân Phòng rất khâm phục kiến thức Phật học của cô. Ông cũng từng đọc "Ngũ Đăng Hội Nguyên" và "Kim Cang Kinh", lại hay phóng tác, khiến Huệ Minh thường có điều khó khăn lại tới thỉnh giáo. Thế là vào nhiều buổi trưa, Huệ Minh ở bên kia bức tường thấp gọi "Thầy Mạnh", hai người lại gác lên tường thì thầm to nhỏ chuyện trò rất lâu. Một tối nọ, trăng sáng thanh u, Hạ Tiệp từ bên ngoài về, thấy Mạnh Vân Phòng lại đang gác đầu lên tường nói chuyện với tiểu ni cô. Vì gác lâu, muỗi đốt đôi chân trần, một chân cứ nhấc lên cọ xát không ngừng vào chân kia. Bên này tường nói: "Huệ Minh, bài luận văn này viết tốt hơn nhiều rồi! Nhưng cô cũng phải giữ sức chút nhé." Bên kia tường nói: "Tôi không mệt đâu, người mệt là tâm mệt. Viết luận văn này trong sự thanh tịnh, tôi chỉ thấy vui vẻ thôi." Bên này tường nói: "Là niềm vui như hoa sen sao? Cách một bức tường, hai thế giới, tôi lại thấy ngưỡng mộ các cô..." Bên kia tường khúc khích cười, nói: "Anh làm gì cũng được, nhưng không thể làm hòa thượng đâu. Anh ở bên ngoài tìm sự thanh tịnh không thấy, đến nơi thanh tịnh thật sự rồi, sợ là anh lại không chịu nổi sự thanh tịnh đó." Bên này tường cười nói: "Vậy sao?" Bên kia lại nói: "Chuyện hôm trước nói với anh, nhất định phải giữ kín miệng đấy." Bên này nói: "Cái này tôi biết, tâm hướng về một nơi, giữ miệng như bưng kín bình mà!" Bên kia nói: "Thầy Mạnh tốt thật, tôi còn viết một lá đơn kiện, muốn nhờ anh chuyển tới tay Thị trưởng." Bên này liền rướn người hết cỡ, vươn tay ra nhận, nói: "Cô đứng lên tảng đá đi, tôi đón lấy. Ái chà, trẹo chân à?" Bên kia nói: "Không có đâu." Một xấp giấy nhô lên trên tường, Mạnh Vân Phòng chộp được, đồng thời thanh gỗ bên này ông đang giẫm lên bị gãy, "bụp" một tiếng, người tuột xuống, cằm đập ngay vào viên ngói trên đầu tường, một mảnh ngói liền rơi xuống vỡ tan. Hạ Tiệp xem một vở kịch hay, nói: "Hê hê, Mạnh Vân Phòng, ông phải cẩn thận đấy, 'Tây Sương Ký' tôi mới chỉ xem một hồi thôi!" Không màng Mạnh Vân Phòng bị thương hay không, cô bắc ghế nhìn sang bên kia tường, tiểu ni cô đã như một bóng ma chạy xa từ trong khóm hoa. Lúc này, Hạ Tiệp ám chỉ Mạnh Vân Phòng trước mặt mọi người, Mạnh Vân Phòng đỏ mặt, nhưng lại nói: "Nàng đừng nói nữa, đây cũng là làm Phật sự, công đức vô lượng đấy." Đám người lại càng không hiểu đầu đuôi, liền kêu ầm lên là đến giờ ăn trưa rồi, nói: "Chị dâu đừng vội, chỉ cần chị bỏ sức, sẽ không bắt chị bỏ tiền đâu!", rồi mỗi người rút ra năm tệ, tự nhiên là Triệu Kinh Ngũ chân tay nhanh nhẹn xách giỏ đi ra phố mua rượu mua thức ăn.