PHÒNG TÌNH HUỐNG, NHÀ TRẮNG
WASHINGTON, DC
18 THÁNG 05
Tổng thống Jack Rutledge bước vào phòng và ra hiệu cho những người còn lại đang đứng quanh bàn họp ngồi xuống. Ông mới bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai của mình được khoảng năm tháng nhưng đã phải vào phòng họp này nhiều lần hơn cả hai năm trước gộp lại.
Tổng thống đã dự định tập trung giải quyết những vấn đề chủ chốt thuộc lĩnh vực chính sách nội địa trong nhiệm kỳ thứ hai của mình mà ông đã hứa hẹn trong chiến dịch vận động tranh cử trước đây để tăng uy tín cho bản thân. Hơn thế nữa, ông muốn chuyển giao cho người kế nhiệm, một người thuộc Đảng Dân Chủ hoặc Đảng Cộng Hòa, một đất nước tốt đẹp hơn đất nước ông đã được người tiền nhiệm của mình giao lại. Dù vậy, cuộc chiến chống khủng bố vẫn đặt ra nhiều dự định cho Rutledge.
Trái ngược với thông tin Thư ký Báo chí của Nhà Trắng cung cấp cho giới truyền thông, lực lượng khủng bố vẫn âm mưu chống lại Mỹ và quyền lợi của Mỹ thì không hề giảm, những quyền lợi này thậm chí còn trên đà tăng đáng kể còn nước Mỹ thì thiếu cả chân lẫn tay để giữ vững con đê bảo vệ quyền lợi của mình.
Cứ mỗi một âm mưu tấn công khủng bố mà nước Mỹ chặn được, có lẽ sẽ có đến ba âm mưu khác hình thành. Nhịp hoạt động trong lực lượng tình báo, quân sự và hành pháp khẩn trương hơn bao giờ hết và mặc dù đã thu được những thành quả đáng kể trong phòng chống khủng bố mà phần lớn những công dân bình thường không bao giờ biết được, tất cả những gì nước Mỹ có thể làm chỉ là bơi đứng. Cỗ máy nước Mỹ đang vận hành ngoài công suất của mình và việc cả hệ thống thuế má nặng nề đổ sụp trong tình trạng hoàn toàn kiệt quệ chỉ còn là vấn đề thời gian, cần phải làm gì đó, và phải làm ngay.
Đó là những gì tất cả những người có mặt trong phòng lúc đó cùng nghĩ đến trong khi tổng thống kết thúc sơ lược phần nội dung các hồ sơ trong cặp tài liệu của mình trước khi ông nhường lời cho Tướng Bart Waddel, Giám đốc Cơ quan Tình báo Quốc phòng.
“Cảm ơn tổng thống”, Tướng Waddel nói. Ông là một người trạc bốn mươi tuổi, tóc màu sẫm và khá cao. Tướng Waddel đứng dậy và bấm nút chiếc điều khiển từ xa bật màn hình plasma lớn phía trước và những màn hình nhỏ đặt cố định trên bàn họp trở về chế độ hoạt động với biểu trưng của Cơ quan Tình báo Quốc phòng. “Những hình ảnh mà tôi sắp trình bày sau đây được chụp vào sáng nay hợp nhất từ hai nguồn thông tin. Nguồn thứ nhất là một xê-ri ảnh chụp từ vệ tinh do thám theo yêu cầu của Cục Tình báo Trung ương khi điệp viên của họ phát hiện được đối tượng tại Bắc Phi, Marocco. Nguồn thứ hai là về căn cứ hoạt động của đối tượng khoảng 6.000 km phía Đông-Nam của Somali”.
Tướng Waddel mở đoạn video đầu tiên bằng phần mềm Powerpoint, đoạn phim chiếu cảnh một chiếc Land Cruiser đỗ lại trước cổng một khu nhà một tầng cũ kỹ bị thời tiết bào mòn. “Những gì các bạn nhìn thấy là một trường nam sinh Hồi giáo, hay còn gọi là madrass, nằm ở ngoại vi Mogadishu. Đối tượng ra khỏi xe từ cửa bên phải là Mohammed bin Mohammed, bí danh Abu Khabab al-Fari mà những chuyên viên phân tích của chúng ta vẫn thường gọi là M&M. Đối tượng này là chuyên viên cao cấp về chế tạo bom và cũng là Chủ tịch ủy ban vũ khí hủy diệt hàng loạt của Al-Qaeda. Sinh năm 1953 tại Algeria, tên này cũng đã được đào tạo về cả hai lĩnh vực vật lý và hóa học”.
Tướng Waddel tiếp tục với một loạt ảnh khác: “Mohammed không những chỉ xây dựng và vận hành cơ sở sản xuất vũ khí nguyên tử, hóa học và sinh học ở Tora Bora gần Jalalabad mà còn huấn luyện cho hàng trăm người cách sử dụng những loại vũ khí này. Đa số các bạn chắc không lạ gì những bức ảnh chụp xác động vật chết như chó, mèo, lừa… bên ngoài cơ sở này”.
Mặc dù đúng là đã xem qua nhưng những người có mặt bên bàn họp đều biết sẽ không dễ chịu gì nếu phải xem lại những bức ảnh đó. Họ cùng gật đầu biểu lộ sự đồng tình một cách hoàn toàn.
Những bức ảnh này chỉ tăng thêm lo ngại cho chúng ta về các thí nghiệm bột than anthrax và chất độc sinh-hóa ghê tởm của M&M.
Khi tấn công vào cơ sở này năm 2001, người của ta tìm thấy rất nhiều tài liệu của Mohammed. Chúng có nội dung tương đồng, thậm chí còn tàn bạo hơn so với tài liệu hướng dẫn thực hiện các hoạt động khủng bố phát hiện được tại các cơ sở của Al-Qaeda tại Afghanistan và Pakistan. Các tài liệu của Mohammed mang nhiều nội dung cải tiến các thiết bị nổ và cũng là một bước tiến lớn trong khả năng công nghệ của Al-Qaeda.
Cơ sở này hoàn toàn bị bỏ trống và Mohammed đã sơ tán đến một địa điểm hiện chưa xác định được trong dãy núi Hindu Kush vào ngày 09 tháng 09, hai ngày trước khi Trung tâm Thương mại Thế giới và Lầu Năm Góc bị tấn công. Mặc dù đã có nhiều manh mối, chúng ta vẫn chưa có được những thông tin xác thực về Mohammed cho đến sáng nay”.
“Chúng ta có biết hắn định làm gì tại ngôi trường Hồi giáo đó không?”, Ngoại trưởng Jennifer Staley hỏi.
Tướng Waddel xoay về phía James Vaile, Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương CIA, ý xem ông này có muốn trả lời câu hỏi không.
Vaile nhìn Staley và nói: “Chúng tôi có những báo cáo cho thấy một số phần tử thuộc Al-Qaeda lợi dụng sự thiếu vắng một chính phủ trung ương tại Somali để tái thiết lập cơ sở và trại huấn luyện”.
Bộ trưởng Bộ An ninh Nội địa Alan Driehaus lắc đầu: “Tôi cho rằng vì chúng ta không có động thái gì tại Mogadishu và các khu vực kế cận nên tình hình trở nên có vẻ thuận lợi hơn cho chúng”.
“Sao ông biết chúng ta sẽ không có động thái gì?”, Tham mưu Trưởng, Tướng Hank Currutt lên tiếng. Là một người yêu nước đã từng đổ máu trên chiến trường, ông không ưa Driehaus. Tướng Hank biết là với vị trí của Bộ trưởng Bộ An ninh Nội địa, ông này dĩ nhiên muốn kêu gọi một người có kinh nghiệm trận mạc hơn là một viên biện lý chỉ thông thạo mọi thứ trong tòa án.
Về phần mình, Driehaus cảm thấy bực bội vì tướng Hank ám chỉ mình không nắm sát thực tế và thâm niên hơn hai mươi năm phụng sự tại Bộ Tư pháp không cao quý bằng chừng ấy năm phục vụ trong quân ngũ. “Nhìn lại toàn cảnh vụ trực thăng Diều hâu đen rơi và sự thật là lực lượng của chúng ta dàn trải quá mỏng”, Driehaus nói, “Tôi nghĩ rằng chúng ta không nên mất bình tĩnh để rồi lại rơi và một tình huống xung đột nữa ở đó. Tôi cho rằng chúng ta cần phải rất nhạy cảm để có thể nhận biết động thái mưu đồ quyền lực ở đây”.
“Mưu đồ quyền lực?”, tướng Hank đáp lại. “Đó là điều ông nghĩ đến à?”
“Tôi nói là nhận biết, chỉ có mù mới không thấy điều đó phát sinh từ đâu mà thôi”.
“Để tôi cho ông biết điều này. Chúng tôi gửi những người lính trẻ ra chiến trường bên kia biên giới chiến đấu cho sự tự do và mảnh đất mà chúng tôi đã từng yêu cầu chỉ đủ dùng để chôn những người trong số họ mãi mãi không quay về”.
Phòng họp hoàn toàn yên lặng.
Tổng thống thường khuyến khích trao đổi những khác biệt về quan điểm một cách ôn hòa và hiệu quả giữa các thành viên nội các của mình nhưng không biết ở một vài điểm, Driehaus không làm như thế. Hank Currutt là người có mặt tại “Chiến trường Biển Đen”, nơi diễn ra cuộc đọ súng ô nhục trong suốt 18 giờ đồng hồ tại khu chợ Bakara, trung tâm của Mogadishu. Con số thương vong lên đến 18 lính chết và hơn 70 bị thương.
Còn quá nhiều những vấn đề cần bàn đến hơn là việc để thái độ đối địch của Driehaus và Corrutt trở thành tâm điểm của cuộc họp. Tất cả cần phải tập trung vào những vấn đề trước mắt và tổng thống Rutledge đã khôn khéo để Currutt đi đến ngưỡng đủ để kéo Driehaus ra, nhường chỗ cho những nội dung hiệu quả hơn.
Tổng thống lên tiếng: “Theo như tôi hiểu, mọi lựa chọn đều có thể thực hiện tại thời điểm này. Mohammed là một trong những mối đe dọa nguy hiểm nhất và thành thực mà nói tôi đã từng hy vọng với số bom được thả xuống Tora Bora, chúng ta đã nghiền nát tất cả những rặng núi mà hắn lẩn trốn và như thế, không có thêm tin tức gì về hắn. Nhưng theo nguồn tin gần đây thì tình hình lại khác với những gì chúng ta nghĩ và tôi muốn chúng ta thảo luận những biện pháp thích hợp. Tướng Waddell, nguồn tin do người của ông cung cấp, ông có ý kiến gì không?”
“Thưa tổng thống, từ những tài liệu thu thập được và thông tin thẩm vấn có được từ những đối tượng tình nghi ta tạm giữ tại Gitmo và Afghanistan, Mohammed đang cho người lắp ráp những thiết bị tinh vi để thực hiện các hành động khủng bố trong lòng Hoa Kỳ. Chúng ta hiện có người theo dõi hắn và tôi nghĩ cần phải rèn sắt khi còn nóng. Sẽ không có cơ hội thứ hai như thế này. Cần phải triệt hạ đối tượng”.
“Giám đốc Vaille?” Tổng thống quay sang người đứng đầu CIA. “Ông có đồng ý không?”
“Cơ bản là tôi đồng ý, tuy nhiên chúng ta có một vấn đề trong trường hợp này”.
“Vấn đề gì?”, Waddell hỏi.
“Mặc dù những nỗ lực của chúng ta mang lại kết quả, Al-Qaeda vẫn đang tái tổ chức lại. Chúng đang cố gắng thực hiện vô số những hoạt động khủng bố với những giai đoạn, mức độ khác nhau tại Hoa Kỳ và ở nước ngoài mà chúng ta vẫn đang theo dõi và ngăn chặn.
“Như Ngài Tổng thống đã biết, một trong những tin đau đầu nhất mà chúng ta có được gần đây là Al-Qaeda đã tiến rất gần đến việc tổ chức khả năng phóng vũ khí hạt nhân không định trước vào lãnh thổ Hoa Kỳ. Dựa vào nhiều nguồn tin khác nhau, kể cả việc điệp viên CIA mất tích cũng như xê-ri ảnh chụp tại khu chợ Marrakech, Mohammed bin Mohammed hoàn toàn có khả năng thiết kế và điều khiển vũ khí hạt nhân. Quan điểm của CIA là tối ưu hóa mục tiêu an ninh quốc gia, Mohammed cần phải được bắt sống để thẩm vấn”.
“Ý ông là bắt sống và để cho một chính phủ thân Mỹ tra tấn và thẩm vấn”, Bộ trưởng Driehaus tiếp. “Cách tốt nhất cho nước Mỹ hơn là tự mình làm lấy”.
Vaille quay sang người đứng đầu Bộ An ninh Nội địa bằng một ánh mắt rất thiếu thân thiện.
“Rồi chúng ta sẽ gửi hắn đến đâu? Đặc biệt là cánh báo chí đã ầm ĩ lên về chuyện này. Các nước Tây Âu thì không cho phép chúng ta sử dụng sân bay của họ làm điểm quá cảnh nữa. Vậy tôi xin mạn phép cho rằng chúng ta sẽ quay lại với các cơ sở dự phòng. Ai Cập, hay Jordan?”
“Alan, ông đứng về phía nào? Vaille hỏi.
“Tôi đứng về phía nguyên tắc của luật pháp”, Driehaus đáp.
Tất cả mọi người có mặt trong phòng họp đều hiểu rằng Bộ trưởng Driehaus không ủng hộ chính sách chuyển giao tù nhân cho những chính phủ nước ngoài thân Mỹ thẩm vấn khai thác thông tin hòng lách luật cấm tra tấn tù nhân.
Không chuyển ánh mắt của mình khỏi Driehaus, Giám đốc CIA Vaille tiếp: “Chưa cần bàn đến chuyện Mohammed sẽ được thẩm vấn ở đâu, điều mà tôi hiểu là các chính sách của tổng thống được thực hiện để phục vụ tổ quốc, đặc biệt là CIA”.
“Với tất cả sự kính trọng của mình đối với tổng thống, tôi không nghĩ là ông đúng”, Driehaus đáp lại. “Chúng ta là một quốc gia đặt nguyên tắc luật pháp lên hàng đầu và điều chỉnh mọi chính sách dựa trên luật pháp, kể cả việc đưa quân vào các quốc gia thù địch. Nếu không áp dụng nguyên tắc luật pháp như thế, chúng ta chẳng khác gì bọn khủng bố”.
“Đủ rồi đấy!”, tướng Hank Currutt gầm lên, ông đứng bật dậy khỏi ghế của mình chỉ thẳng mặt Driehaus. “Tôi sẽ không nghe thêm bất cứ những thứ rác rưởi thiếu tính xây dựng thế này nữa”.
“Thiếu tính xây dựng?” Driehaus hỏi lại. “Quả là một cách hay ho để gọi những quan điểm không đồng tình với mình”.
“Nghe đây tên khốn tự mãn, nếu ông không thích cách làm việc ở đây hãy từ chức đi và kiếm một cái bảng biểu tình rồi gia nhập với cái đám tâm thần đứng ngoài hàng rào ở đại lộ Pennsylvania thì hơn”.
Một lần nữa nội dung cuộc họp lại đi vào thế bí. “Hãy ngồi lại với nhau và bình tĩnh”, tổng thống lên tiếng. Thấy Corrutt có vẻ không muốn, tổng thống ra lệnh, “Tướng Corrutt, tôi nói là ngồi xuống”.
Khi tướng Corrutt đã yên vị trở lại, tổng thống quay sang Driehaus: “Alan, ông có cách suy nghĩ sắc sảo, đặc biệt là trong các vấn đề về an ninh nội địa và đó chính là lý do tại sao…”
“Thưa Ngài Tổng thống”, Driehaus ngắt lời, “Kẻ địch lợi dụng chính sách chuyển giao tù nhân của chúng ta để tăng cường tuyên truyền chống phá. Thực tế cho thấy với sự tập trung của giới truyền thông về chính sách này, kẻ địch cũng không cần phải tăng cường hơn nữa. Chúng có đầy người sẵn sàng nằm ngoài cửa dài hàng dãy phố để biểu tình và chính sách này làm chúng ta có vẻ ngoài giống những kẻ đạo đức giả”.
“Không hề”. Tổng thống nhấn mạnh, ông cảm thấy càng lúc càng khó chịu với cái cách mà một thành viên nội các do chính mình chỉ định tỏ ra đối lập với những thành viên còn lại. “Chính sách này làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Còn nữa, nó mang lại kết quả. Luật dân sự về giao tranh và luật học chẳng có ý nghĩa gì đối với kẻ địch, những kẻ sẵn sàng làm tất cả để đạt được điều mình muốn. Nếu muốn thắng, chúng ta cũng phải dùng chiến lược tương tự, thắng bằng mọi giá. Alan, tôi rất tiếc phải nói rằng một quốc gia từ chối thay đổi chính sách một cách linh hoạt, quốc gia đó có thể coi là đã gần tan vỡ. Trong trường hợp này, chúng ta cần tạm thời bỏ qua nguyên tắc của luật pháp để cứu chính nó”.
Nhận xét của tổng thống nhấn mạnh vào sự kính trọng còn lại của Driehaus đối với ông. “Chúng ta biết Mohammed đã trao đổi thông tin với những chuyên gia chế tạo bom người Pakistan và nhóm Hezbollah, những đối tượng đã hỗ trợ Richard Reid chế tạo quả bom giấu trong giầy trên chuyến bay từ Paris đến Boston năm 2001. Hãy dùng yếu tố này buộc tội hắn. Nếu chúng ta mở phiên tòa xét xử hắn tại Mỹ, một phiên tòa công bằng, điều đó sẽ rất có lợi cho việc cải thiện hình tượng của chúng ta ở nước ngoài. Đồng thời, phiên tòa cũng chuyển đi nội dung chúng ta vẫn mạnh mẽ”.
“Ramzi Yousef đánh bom Trung tâm Thương mại Thế giới hồi năm 1993”, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Laura Finley xen vào, “Ta bắt được hắn, xử và giam hắn tại Super Max ở Colorado; thế nhưng tất cả những điều đó là được gì cho ta? Chú của Khalid Shaikh Mohammed, gia nhập Al-Qaeda và tham gia vào vụ đánh bom Trung tâm Thương mại năm 2001. Hắn được xét xử bởi một phiên tòa công bằng và nhận án chung thân và nếu được hỏi, tôi sẽ nhận xét rằng chúng ta đã mạnh tay nhưng cũng chẳng ngăn chặn được gì. Alan, chúng ta đã từng làm việc trực tiếp với nhau và ông biết rằng tôi rất khâm phục ông, nhưng tổng thống nói đúng. Ta không nên mang dao để tham dự một cuộc đấu súng”.
Driehaus định đáp lại thì Ngoại trưởng Jennifer Staley lên tiếng, “Là người trực tiếp đại diện và liên quan đến hình ảnh của Hoa Kỳ ở nước ngoài hàng ngày, hàng giờ, quan điểm của tôi là thế này. Những rò rỉ thông tin qua báo giới về việc chúng ta thẩm vấn tù nhân có làm ảnh hưởng đến hình ảnh của chúng ta ở nước ngoài không? Chắc chắn là có. Nhưng điều quan trọng nhất để phân biệt đúng - sai là Hoa Kỳ an toàn hơn vì những điều chúng ta đang làm”.
“Nói vậy có nghĩa là chúng ta không quan tâm điều gì sẽ xảy ra với những tù nhân này một khi họ được chuyển giao cho một chính phủ khác?”
“Tù nhân thường sẽ được giao lại cho chính phủ của nước sở tại mà tù nhân đó là công dân, hoặc chính phủ của nước có lệnh truy nã gắt gao tù nhân đó. Báo chí có bóp méo vai trò liên quan của chúng ta thế nào đi nữa thì chúng ta thật ra vẫn chỉ có vai trò rất nhỏ kể từ thời điểm chuyển giao trở đi”.
“Vậy là vẫn sẽ có một phần mang tên xá tội cho chúng ta trong việc này - nói cách khác, phủi tay”, Bộ trưởng Bộ An ninh Nội địa nhận xét.
Staley đủ thông minh để cuộc đối thoại không tiếp tục theo chiều hướng đối đầu trực diện. Thay vì làm thế, Staley đáp, “Nhận xét của tôi là thậm chí tổng thống đáng kính Lincoln đã hoãn lệnh đình quyền giam giữ trong thời gian Nội chiến. Tôi cho rằng thông tin chúng ta thu thập được qua việc chuyển giao tù nhân có lý của nó”.
Driehaus nhìn quanh bàn. “Có vẻ tôi là người duy nhất với một ý kiến riêng. Không ai ở đây quan tâm đến việc đặt một cái tên khác cho vai trò thẩm vấn tù nhân bí mật của chính sách này hay sao?”
“Có đấy”, một giọng nói vang lên từ phía đầu bàn bên kia, “Có tôi”.
Sửng sốt, mọi người quay dồn tia nhìn về phía Giám đốc FBI, Martin Sorce. Khi cảm thấy sự chú ý của những người còn lại, Martin Sorce nói tiếp, “Đây sẽ là một trong những thành viên cao cấp nhất của Al-Qaeda mà chúng ta đã từng triệt hạ. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách chuyển giao tù nhân của chúng ta trải quá rộng, một số chính phủ hợp tác mà chúng ta hiện đang cộng tác trong lĩnh vực này đã tuyên bố sẽ không nhận thêm tù nhân. Một vài vụ “được đánh giá là vượt ngục” đã xảy ra mà chúng ta biết nguyên nhân là do Al-Qaeda sắp xếp bằng các khoản tiền hối lộ, mua chuộc và các mối quan hệ mật thiết với những đối tượng liên quan đến chính phủ sở tại”.
“Nói vậy nghĩa là mọi chuyện không đơn giản như ngồi chơi ném phi tiêu trong chính quyền sở tại pha cà phê nóng và chuẩn bị bộ dây chích điện cho đối tượng của ta. Với tù nhân ở độ quan trọng và nguy hiểm như thế này, tôi muốn an ninh được đặt lên hàng đầu và phải đảm bảo rằng bất cứ chính phủ nào chúng ta chuyển giao đối tượng này sẽ không mất hắn”.
“Đó là một ý hay”, giám đốc CIA lên tiếng, “việc bắt giữ Mohammed bin Mohammed sẽ gây ra rất nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề an ninh. Al-Qaeda sẽ làm mọi cách để giải thoát hắn. Nếu để hắn làm khách của người Ai Cập hay Jordan, không có gì đảm bảo là họ sẽ giữ được chân hắn lâu. Hãy nhìn lại những gì xảy ra trong vụ đánh bom tàu USS Cole ở Yemen. Mặt khác, nếu chúng ta chuyển hắn đến Gitmo, chúng ta sẽ không có toàn quyền ép hắn cung cấp thông tin được và đồng thời ta lại cần có được thông tin về việc chuyển giao công nghệ vũ khí hủy diệt hàng loạt của Al-Qaeda càng sớm càng tốt”.
“Vậy việc này sẽ đưa chúng ta đến đâu?”, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Finley hỏi.
“Trong một hẻm núi sâu một bên là đá hoa cương còn bên kia là sự chỉ trích của giới truyền thông”, Ngoại trưởng đáp. “Bộ trưởng Driehaus có một điểm đúng, đó là khi chúng ta không thể làm gì để thay đổi ảnh hưởng xấu từ giới truyền thông thì dù có thực hiện bất cứ động thái nào, chúng ta cũng không thể làm hỏng việc”.