“Kể cho tôi nghe những thao tác cô đã thực hiện với quả bom cuối cùng ấy”, Harvath nói, cố giúp Tracy nhớ lại.
“Nó khá đơn giản”, cô đáp.
“Đơn giản như thế nào?”
“Mọi thứ. Thuốc nổ, ngòi nổ, tất cả”.
“Được rồi, nếu nó đơn giản vậy thì sai sót nằm ở đâu?”
“Tôi không biết. Tôi không bao giờ biết được. Tôi đã làm đúng mọi thao tác, nhưng không đem lại kết quả”.
Harvath phải tiếp tục giữ bình tĩnh. Sẽ không có lợi cho anh hay Tracy nếu anh mất bình tĩnh. Vì cả hai người bọn họ, anh phải hết sức bình tĩnh. “Chúng ta hãy tập trung vào quả bom này. Cô có thể quay lại chỗ sàn nhà, nhấc một tấm ván ra để tôi thấy được việc cô đang làm hoặc ít nhất là để tôi nói chuyện với cô được dễ dàng hơn”.
Hastings gật đầu và lại biến mất xuống dưới. Vài giây sau, tấm ván sàn nhà cạnh chỗ Harvath thình lình bật ra, Tracy đẩy nó sang một bên.
“Tốt quá”, anh nói. “Giờ chúng ta có thể nói chuyện rồi. Có cách nào để chúng ta cố định đĩa ép không?”
“Tôi đã kiểm tra rồi”, Hastings nói. “Không thể được”.
“Vậy chúng ta sẽ làm mọi thứ từ đầu, được chứ? Hãy làm vì tôi. Kiểm tra thêm một lần nữa thôi”.
Hastings làm theo lời anh bảo, nhưng câu trả lời của cô vẫn không thay đổi. “Đĩa ép là đĩa cụt”.
“Dùng từ hay lắm, Tracy”.
“Xin lỗi anh”.
“Thế còn bộ phận chính? Cô có tách được không?”
Cô quan sát quả bom rồi nhìn Harvath lắc đầu.
“Cô có thấy bất cứ chỗ nào để có thể chèn ghim băng vào không?”
Hastings tìm quanh, nhưng câu trả lời vẫn thế. “Không có chỗ nào cả”.
Harvath không còn lựa chọn nào khác. “Thế còn việc giảm tổn thất đến mức tối thiểu? Những mảnh đạn phóng ra thì sao?”
Cô nghĩ vài giây trước khi trả lời. “Có vẻ như chúng được trộn lẫn vào nhau. Bọn chúng sử dụng những mảnh kính vỡ và chất dẻo để làm đạn phóng”.
“Đó có phải là thiết bị định hướng không?”
“Không. Đạn phóng được mặc định bắn ra khắp nơi. Theo tôi phạm vi hiệu quả là trong vòng 200m. Rõ ràng chúng không muốn ai rời khỏi đây”.
Ý nghĩ tương tự cũng vụt thoáng qua đầu Harvath. Anh đang nghĩ đến chuyện quả bom được trộn lẫn bằng các vật liệu khác nhau mà họ đã tìm thấy trên hiện trường. Nhưng còn điều gì đó khác nữa mà anh chưa tìm ra. Phần lí trí trong não anh không chịu vận động, mà cứ đổ thế bí này cho Hastings, một nhân viên tháo bom được đào tạo bài bản, người lẽ ra phải biết làm gì. Vì không chịu nổi sự im lặng, nên anh đã bật ra một câu hỏi ngốc nghếch, hết sức hiển nhiên. “Có cách nào để can thiệp vào ngòi nổ không?”
“Thôi nào, Scot. Như Rick nói lúc ở Hội Cựu chiến binh, tôi có thể mất việc nhưng tôi không bao giờ để mất những kiến thức mình đã được đào tạo. Đó là một trong những điều đầu tiên tôi mong đợi”.
Tuy không hiểu rõ lắm, nhưng lời nói của Hastings đã vén bức rèm trong đầu Harvath lên cao một chút, đem lại cho anh câu trả lời anh đang tìm kiếm. Khỉ thật. Đã quá lâu rồi anh không làm việc với những khối thuốc nổ. Phần lớn nội dung huấn luyện của anh để trở thành một Người nhái Hải quân là về thuốc nổ, chứ không phải khuyếch trương tên tuổi của đơn vị. Lời nói đùa duy nhất về các loại thuốc nổ mà một Người nhái Hải quân phải nhớ là chữ P, viết tắt của từ phong phú. Ngay cả trong sở mật vụ cũng có chó và các chuyên viên kỹ thuật xử lý những quả bom. Nhưng điều gì đó vẫn khiến anh bứt rứt. Đó là cái quái gì vậy?
Harvath nhìn xuống Hastings và nói “Cô có chắc quả bom đó đơn giản không?”
“Hoàn toàn chắc chắn”.
“Tại sao vậy? Những việc bọn chúng làm mà chúng ta chứng kiến được cho đến nay không hề đơn giản. Chúng rất tinh vi và biết chắc mình đang làm gì, đúng không?”
“Đúng, thì sao?”
“Vậy tại sao cô không nhìn nhận những quả bom dưới kia theo cách đó?”
“Ai mà biết được”, Hastings đáp. “Có thể có hàng triệu lí do. Có thể chúng đang rất vội. Mọi người thường phải viện đến những điều căn bản khi họ không có thời gian”.
Harvath lắc đầu. “Tôi không nghĩ vậy. Không phải với bọn người này. Tôi nghĩ chúng muốn cô tin rằng quả bom đó có cấu tạo đơn giản”.
“Để làm gì?”
“Để cô bỏ qua điều gì đó. Mà lẽ ra nếu cẩn thận hơn, cô sẽ không để sót”.
Ngay lúc đó, một tiếng cách vang lên, nhưng không phải trong đầu Harvath mà là Hastings. “Lạy Chúa tôi, anh rất đúng”, cô nói.
“Cái gì thế?”
“Chờ chút” là câu cuối cùng cô nói trước khi biến mất dưới sàn nhà một lần nữa.
Đứng bên trên đĩa ép, dù chỉ mấy phút cũng tưởng như là cả cuộc đời. Harvath không nhận được bất cứ tin gì từ Hastings và anh bắt đầu băn khoăn nhỡ đâu cô mất hết tinh thần và đang nằm bên dưới sàn nhà, tê liệt vì sợ. Anh không thể trách cô vì điều đó. Sau khi quả bom nổ làm nát khuôn mặt cô, anh không thể hình dung nổi nó sẽ thế nào nếu phải phẫu thuật một lần nữa, mặc dù quả này không hoàn toàn giống với quả bom đã lấy đi con mắt và để lại sẹo trên khuôn mặt cô suốt đời.
Hastings xuất hiện trở lại, nhưng không phải dưới tấm ván sàn bên phải anh. Cô lăn ra từ dưới sàn nhà và thận trọng đứng cách xa. Có vẻ như cô rất sững sờ. Thật khó lòng mà đoán được biểu hiện trên khuôn mặt cô. Giận dữ? Sợ hãi? Đột nhiên Harvath tự hỏi liệu có phải là sự hối tiếc không.
“Xảy ra chuyện gì thế?” anh hỏi, nhưng Hastings không trả lời.
Cô xoay lưng về phía anh, vừa chạy ra khỏi phòng vừa lẩm bẩm, “Chỉ có hai quy luật. Quy luật II nhìn quy quy luật I”.
Ngay lập tức, Harvath nhớ lại cuộc nói chuyện giữa anh và tiến sĩ Samuel Hardy: Mỗi người phản ứng với sự căng thẳng của cuộc chiến theo những cách khác nhau.
Nhưng nếu mọi chuyện tồi tệ thì sao?
Chẳng có cách nào đoán được. Anh sẽ không biết cho đến khi điều gì đó xảy ra.
Có thể khi ấy đã quá muộn.
Hardy gật đầu và nói, Rất nhiều triệu chứng của những người lính khi đã ra khỏi cuộc chiến cần phải chữa trị đề trở về với thực tế hơn là làm điều gì đó khác. Đưa họ trở lại bằng chính những căng thẳng do cuộc chiến gây ra, chín phần mười triệu chứng đó sẽ biến mất.
Thế còn phần thứ mười kia? Harvath đã hỏi ông ta. Làm thế nào để khắc phục được?
Không có cách nào cả. Chỉ người lính đó mới làm được. Người đó phải đối mặt với con quỷ trong mình, và đó là cuộc chiến đòi hỏi lòng dũng cảm chứ không phải là thứ anh ta sẽ phải đối mặt ở đầu súng bên kia.
Hoặc ở mặt kia của thiết bị gây nổ tức thì, Harvath nghĩ trong lúc Hastings biến mất sau cánh cửa, và anh nhận ra cô vừa bỏ lại anh một mình… chờ chết.