NHÀ THỜ GRACE
ĐỈNH BROOKLYN
MÙNG 10 THÁNG 7
Những nỗ lực tìm kiếm và cứu hộ trên toàn thành phố New York chuyển thành tìm kiếm và phục hồi. Vì có quá nhiều tử thi cần được chôn cất nên các nhà thờ đứng ra lo liệu tổ chức các đám tang. Nhưng đối với trường hợp của một giáo dân đặc biệt, nhà thờ Grace lại có một ngoại lệ.
Theo đề nghị đặc biệt từ phía gia đình của trung sĩ Robert Herrington, McGahan và một số cảnh sát đặc nhiệm thuộc sở cảnh sát New York sẽ chặn các tuyến giao thông quanh nhà thờ lại. Giới truyền thông cũng tôn trọng bằng cách đứng quan sát từ xa.
Một chiếc xe tang màu xanh xám tiến đến và lặng lẽ dừng lại trước cửa nhà thờ, một hồi kèn tấu lên. Dưới sự hỗ trợ của đồng đội, những người đã tạm dừng nhiệm vụ ở Afganistan để quay về dự lễ tang, gia đình Bob nhìn theo chiếc quan tài phủ cờ được những người hộ tang trong sắc phục quân đội đưa xuống xe và khiêng lên các bậc thềm.
Có rất nhiều sĩ quan quân đội tham dự lễ truy điệu, nhiều người trong số đó đang làm nhiệm vụ tại các đơn vị chiến đấu trọng yếu trên thế giới, những người Bob đã hân hạnh được huấn luyện và chiến đấu cùng. Một số ít đã mang ơn cứu mạng của người đàn ông dũng cảm này, người đã hi sinh chỉ mới cách đây 1 tuần.
Một số người Harvath đã từng gặp và một số thì không, nhưng anh đã quen hầu hết vào đêm trước lúc thức canh quan tài cho Bob, lúc ấy mặc dù vô cùng đau buồn thương tiếc, và một phần cũng nhờ những li cốc-tai, dường như mọi người đã dễ dàng kể ra những câu chuyện cười về Bob. Kết quả là, những giọt nước mắt tuôn rơi không phải là những giọt nước mắt của sự buồn đau, mà là những giọt nước mắt của buồn vui lẫn lộn khi nhớ về một Bob Herrington tuyệt vời và đầy nhiệt huyết.
Với Harvath, anh rất cần một loại thuốc tẩy hoặc cái gì đó đại loại thế. Toàn bộ nhiệm vụ của anh ở New York đúng là một sự thất bại thảm hại. Mohammed bin Mohammed đã trốn thoát, và cả kẻ cầm đầu nhóm phiến quân nổi loạn nữa, kẻ Harvath nghi ngờ chính là kẻ đã giúp Mohammed bin Mohammed trốn thoát khỏi tòa nhà Libi, và ra tay giết Bob Herrington.
Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ thường nói “ngày dễ dàng duy nhất là ngày hôm qua”, nhưng ngày hôm qua chẳng hề dễ dàng chút nào, cũng như sáu ngày trước đó. Trong suốt tuần qua, Harvath chỉ ở một mình, hồi phục trong căn phòng của một khách sạn sau khi giải quyết vụ việc tại Hội Cựu chiến binh. Anh nhớ đi nhớ lại toàn bộ chiến dịch, mỗi lần cố dùng thử một cách thức khác nhau. Nhưng cho dù anh có cố gắng đến đâu thì cũng không thể nghĩ ra cách nào hoặc mệnh lệnh nào có thể cứu mạng Bob. Và thực tế ấy đã phần nào giúp anh cảm thấy tội lỗi của mình được giảm bớt.
Lần nào cũng vậy, mỗi khi anh sục sôi lên vì tội lỗi thì lập tức nó biến thành cơn giận dữ, khiến anh nhằm thẳng vào chế độ quan liêu của Washington. Giống hầu hết mọi người, anh muốn câu trả lời, nhưng ngay cả Gary Lawlor cũng không thể cho anh. Ông ta khuyên Harvath nên bình tĩnh, nhưng Harvath không có đủ kiên nhẫn. Anh gọi cho bạn mình ở Valhalla và bắt đầu thoả thuận các điều khoản cho công việc mới.
Bên trong nhà thờ, tội lỗi, cơn giận dữ, và sự mệt mỏi vẫn đè nặng lên Harvath khi anh ngồi cạnh Tracy Hastings, Rick Cates và Paul Morgan, người đã chửi thề các bác sĩ của sở cựu chiến binh khi họ từ chối không cho anh đến dự lễ tang của Bob. Cuối cùng, chính Sam Hardy đã đến và thuyết phục được họ.
Thật mừng là được cùng mọi người có mặt dự lễ, Harvath cố xua đuổi tất cả những bức bối trong lòng để có thể nói lời vĩnh biệt với người bạn của mình.
Khi đức cha tự giới thiệu mình và một cha tuyên úy trong quân đội, những người đến từ pháo đài Bragg để tiến hành nghi lễ, cha thông báo với những người đi đưa ma rằng buổi lễ sẽ rất ngắn gọn và đơn giản - không phải mọi người nói lời vĩnh biệt mà là nói lời chào vì Bob đã được đón chào trên thiên đàng. Với nụ cười trên môi, ông xin lỗi vì không có đủ “nước” thánh hay rượu trong tay để lễ truy điệu được như đêm hôm thức canh quan tài. Nhiều người trong đám đông, mặc dù vẫn đang cúi đầu xuống, tự nhiên bật cười.
Sau bài thuyết pháp là những câu kinh phần lớn do các đồng đội của Bob đọc lên. Câu kinh cuối cùng là câu kinh Harvath đã nghe vô vàn lần, nhưng chưa bao giờ anh thấy đau nhói như ngày hôm nay: Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu này, người đàn ông đó đã nằm xuống vì các bạn mình.
Lúc quay sang nhìn Tracy, Rick và Paul, Harvath thấy mọi người đang cố để ngăn những dòng nước mắt lại mà không được.
Khi đức cha kết thúc bài kinh của mình, một trong những đồng đội của Bob, người có tên Jack Kohlmeyer được mời lên chia sẻ cảm xúc. Kohlmeyer ăn nói rất lưu loát, và khướu hài hước đúng mực của anh đã giúp mọi người giảm bớt nỗi đau trong mình.
“Tôi quen biết Bob chưa được lâu. Cách đây 3 năm, tôi và anh ấy gặp nhau trong một thung lũng dưới chân ngọn núi ở Afganistan. Lúc đó, tôi đang ở độ cao 2400m, đóng gói chiếc balô nặng 40kg để chuẩn bị leo lên đỉnh núi thì Bob cứ ngồi trên võng cười vào tôi trước mặt mọi người và nói, “Không, không cần làm thế. Cả cái kia, cái kia nữa. Anh không cần đâu”.
Harvath cũng đã trải qua tình huống đó cùng với Bob vài ngày trước và anh không thể nhịn được cười.
“Nhưng Bob có thể ra đi cùng nụ cười đó”, Kohlmeyer nói tiếp, “Anh ấy có thể ra đi cùng nụ cười vì thấy chúng tôi trông thật ngốc. Chỉ có điều không phải anh ấy cười chế nhạo chúng tôi, mà là cười cùng chúng tôi. Anh ấy không cười để biến chúng tôi thành những thằng ngốc, mà anh ấy cười để lôi kéo chúng tôi, để chúng tôi trở thành bạn anh ấy. Và anh ấy đã thành công”.
“Rõ ràng anh ấy đã thành công, bằng chứng là ngày hôm nay rất nhiều người trong chúng tôi mặc dù đang ở nơi xa xôi cũng về với anh ấy, có những người đã phải vượt qua chặng đường dài tới 10 nghìn dặm”.
“Bob yêu quý chúng ta và chúng ta cũng yêu quý anh. Chúng ta dựa vào anh ấy và anh ấy dựa vào chúng ta. Đặc biệt là khi chúng ta nằm xuống”.
“Bob nhắc tôi nhớ về một lần khi cuộc sống tỏ ra bất công và ta phải vượt qua, cố gắng làm những điều tốt nhất có thể”.
“Vài tuần trước khi Bob lên đường về nhà, đội do tôi phụ trách đã phải chịu đựng một vài mất mát hi sinh. Nhiệm vụ đóng gói hành lí của họ được giao cho tôi. Đó là một trong những công việc khó khăn nhất tôi từng phải làm. Bob ngồi cạnh tôi và nói - anh cứ nói, nói mãi. Anh biết mình đang làm gì. Anh ấy đang cố giúp tôi không nghĩ ngợi gì đến công việc đang làm. Anh ấy có năng khiếu đó và anh ấy hiểu rất rõ”.
“Bob đã làm tôi tập trung vào câu chuyện của anh và khi tôi làm xong, anh ấy đặt tay lên vai tôi nhắc tôi thêm một lần nữa, Cuộc sống thật không công bằng. Cứ làm những gì anh đang làm và phải chắc chắn anh đang làm hết sức có thể”.
Harvath ngồi đó có cảm giác cứ như Bob đang nói chuyện với mình. Nghe những lời ấy, Harvath biết mình sẽ không từ bỏ công việc - anh không thể. Vết thương trên người càng nhức nhối, Harvath càng hiểu vì sao mình làm thế. Không phải vì những chính trị gia anh từng đặt niềm hy vọng hão huyền vào, mà đó là vì người dân của đất nước này, những người tốt và dũng cảm với lối sống cao quý giống như Bob đáng để anh tiếp tục chiến đấu.
Harvath sẽ tiếp tục những công việc đang làm và anh sẽ tiếp tục làm hết sức có thể - vì bản thân anh và vì cả những kỉ niệm về Bob Herrington.
Khi buổi lễ kết thúc, đức cha hỏi mọi người có muốn đi theo đám rước ra ngoài không.
Đường phố vẫn vắng tanh, các sĩ quan thuộc đội cảnh sát đặc nhiệm vẫn đang ở vị trí làm nhiệm vụ. Những chiếc ghế được đặt hai bên vỉa hè dành cho các thành viên trong gia đình và những ai muốn ngồi nghỉ. Trời nóng và ấm, nhưng có một cơn gió nhẹ từ ngoài sông thổi tới. Mặc dù không khí đã dễ thở hơn, nhưng vẫn còn rất khó chịu. Mùi chết chóc và tàn phá vẫn phảng phất khắp nơi. Đó là thứ mùi Harvath sẽ không bao giờ quên được. Như những người dân New York khác, nó đã trở thành một phần trong anh.
Hai mươi mốt phát súng chào vĩnh biệt Bob Herrington do những người lính của Lực lượng Đặc biệt đứng hai bên đường bắn ra, kèn vang lên, cờ phủ trên quan tài anh được gấp lại và trao cho người thân.
Sau đó chiếc quan tài được đặt trong xe tang và cánh cửa sau đóng lại. Tất cả đều im lặng. Một phút, có lẽ là hai phút trôi qua, những con chim của Brooklyn Heights mang theo suy nghĩ và niềm thương nhớ của mỗi người về Bob Herrington bay đi.
Đâu đó xa xa văng vẳng một âm thanh mờ nhạt, và Harvath thoáng nghĩ đến những việc đang diễn ra ở Manhattan, cho đến khi âm thanh ngày càng lớn hơn. Nhìn lên phía trên xe tang, Harvath thấy chiếc trực thăng Diều hâu đen mang số hiệu UH-60 xuất hiện và đang lơ lửng. Một dải băng đen lớn được hạ thấp xuống, lúc đó Harvath mới nhận ra mình đang nhìn cái gì. Ai đó, có thể là một đồng đội của Bob đã dùng cách này để tiễn đưa anh.
Chiếc trực thăng nháy sáng đèn rồi bay về hướng bờ sông trong lúc những người đưa tang ngước nhìn theo. Khi nó bay khuất tầm mắt, Harvath và mọi người nhìn lại thì đã thấy chiếc xe tang đi xa rồi.