Về đến Tập Vân Xã, trời đã tối đen. Lâm Phược xem qua bản thảo, vì để tiết kiệm giấy nên Triệu Thư Hàn viết rất kín và dày đặc. May thay, nét chữ tiểu khải của Triệu Thư Hàn vô cùng đẹp mắt, cho dù có nhiều chỗ tẩy xóa, sửa chữa, toàn bộ bản thảo nhìn vẫn rất thoải mái.
Để phòng ngừa việc bản thảo gửi đến nhà in xảy ra chuyện ngoài ý muốn, Lâm Phược vừa về đến trạch viện đã gọi Tiền Tiểu Ngũ và Trần Ân Trạch vào sương phòng, bảo họ chia nhau ra chép lại bản thảo một cách cẩn thận, đồng thời bảo Liễu Nguyệt Nhi thắp thêm hai ngọn nến trong phòng mình. Lâm Cảnh Trung công việc bận rộn nên không để ông tham gia việc chép bản thảo.
"Không lấy một đồng tiền nhuận bút nào thì chớ, còn thực sự phải trả thêm cho ông ta một trăm lượng bạc ư?" Lâm Cảnh Trung ngồi đối diện Lâm Phược trước án thư, cầm mấy trang bản thảo mà Tiền Tiểu Ngũ và Trần Ân Trạch đã chép xong đưa sát lại gần ngọn nến, nghi hoặc hỏi Lâm Phược.
"Đương nhiên là thật," Lâm Phược cười đáp, "Đã bảo Triệu Hổ mang tám mươi lượng bạc còn lại qua đó rồi."
"Thật là lỗ vốn liếng rồi." Lâm Cảnh Trung có chút xót xa, một trăm lượng bạc là số tiền rất lớn, có thể bằng cả năm tiền lương chính ngạch của Triệu Thư Hàn khi làm Chủ sự tại Đề lao sảnh, Hình bộ Giang Ninh.
"Bản thảo in ra có lẽ sẽ lỗ vốn, nhưng Triệu Thư Hàn thực sự có học vấn uyên thâm. Chuyện quản lý lao ngục trước nay chưa từng có sách chuyên khảo, bản thảo lần này của Triệu Thư Hàn lại nói về chuyện tư ngục thấu đáo cặn kẽ. Nếu vậy, bản thảo này đối với chức quan tư ngục trong thiên hạ chính là đáng giá ngàn vàng," Lâm Phược bật cười, "Ta sắp đi làm quan tư ngục, trả cho ông ta một trăm lượng bạc, ngươi nói có nên hay không?"
"Nên chứ," Lâm Cảnh Trung cũng cảm thấy Lâm Phược đi làm quan tư ngục mà có bản thảo luận thuật chi tiết thế này chỉ điểm thì sẽ không bị đám lão tốt trong ngục dắt mũi nữa. Nghĩ vậy thì một trăm lượng bạc tiêu ra quả thật không oan, ông lại hỏi, "Nhưng mà, thực sự muốn mang ra nhà in để xuất bản sao? Như vậy lại tốn thêm một khoản tiền lớn đấy."
"Khắc!" Lâm Phược quả quyết nói, "Bản thảo được in ấn lưu hành trong thiên hạ, không chỉ có lợi cho người khác dùng để quản lý việc lao ngục, mà người khác còn có thể nghiên cứu sâu hơn về việc trị ngục. Qua năm tháng, chắc chắn sẽ có những đúc kết rõ rệt. Không chỉ riêng việc trị ngục, những chuyện khác trong nhân thế đều như vậy cả: tích lũy kinh nghiệm, viết sách truyền đời, hậu nhân nghiên cứu sâu hơn để đưa ra những cải tiến và bổ sung. Đặc biệt là loại tạp học này, càng cần phải có từng thế hệ đi dò dẫm, tổng kết và sáng tạo. Còn những tư tưởng bảo thủ cho rằng việc của tổ tông không được phép thay đổi dù chỉ một ly, ta không có, mà các ngươi cũng không được có."
"..." Lâm Cảnh Trung dán mắt vào bản thảo dưới ánh đèn, ông không suy nghĩ xa xôi như Lâm Phược, nghe Lâm Phược nói thế thì cũng có chút suy ngẫm.
Liễu Nguyệt Nhi ngồi bên án thư cầm kéo cắt bấc nến. Trước kia nàng mở quán trà rượu ở huyện Thạch Lương, cũng thường nghe ba năm văn sĩ quan lại ngồi trong tiệm uống rượu khoác lác. Đạo lý mà Lâm Phược nói, nàng chưa từng nghe ai nhắc tới bao giờ. Nàng nghiêng người ngồi đó, lén nhìn gương mặt với những đường nét góc cạnh, sống mũi thẳng tắp của Lâm Phược dưới ánh đèn, trong lòng thầm nghĩ khuôn mặt hắn thật nhìn rất thuận mắt. Tiền Tiểu Ngũ đang chép bản thảo bên kia thấy ánh nến hơi tối liền gọi nàng một tiếng. Nàng "ồ" một tiếng, có chút chột dạ bước tới giúp Tiền Tiểu Ngũ và Trần Ân Trạch dùng kéo tỉa bấc nến, cắt bỏ phần đen để ánh nến sáng hơn.
Đúng lúc này Triệu Hổ bước vào nói Triệu Thư Hàn đã tới, Lâm Phược hào hứng đứng dậy nói: "Mau mời ông ấy vào..." Miệng nói như vậy, hắn lại đổi ý, kéo Lâm Cảnh Trung đứng lên, "Cảnh Trung, ngươi cũng tới gặp vị Triệu đại nhân này đi, đây thực sự là người có học vấn," hắn nói với Liễu Nguyệt Nhi, "Phiền Liễu cô nương chuẩn bị thêm hai món với Vân Nương, giờ này Triệu Chủ sự qua đây chắc là chưa dùng bữa..." Hắn kéo Lâm Cảnh Trung đi thẳng ra tiền viện.
Khi Triệu Thư Hàn cùng lão bộc đi bộ qua thành, Chu Phổ đang ở tiền viện dạy Triệu Hổ và em trai Phi Hùng luyện quyền cước. Triệu Hổ vào chính viện thông báo, ông liền cùng lão bộc đứng ở tiền viện nhìn Phi Hùng – cậu thiếu niên đang tuổi lớn – mượn ánh đèn lờ mờ tập quyền, nghe tiếng ngựa hí liên hồi từ hậu viện, thầm nghĩ trong trạch viện của Lâm Phược giấu không ít tuấn mã.
Thời đại này, thước đo gia sản một gia đình có hùng hậu hay không, thứ nhất xem trạch viện, thứ hai xem tuấn mã, đạo lý cũng giống như ngàn năm sau xem siêu xe rồi mới xem xe sang vậy. Tập Vân Cư trong ngõ Bãi Bì chỉ có thể coi là gia đình bình thường, quy mô khí thế thậm chí còn thua xa Bách Viên nơi Tô Mi ở, nhưng sáu con ngựa trong viện đều là hàng tuấn mã bậc nhất, tăng thêm không ít khí thế. Trong thành Giang Ninh cũng không tìm được mấy nhà có thể sở hữu một lúc sáu con ngựa cao to như thế.
Triệu Thư Hàn đang chăm chú lắng nghe tiếng ngựa hí ở hậu viện, thấy Lâm Phược cùng một thanh niên từ bên trong đi ra, vội chắp tay nói: "Bản thảo có nhiều chỗ chưa làm tôi ưng ý, chỉ là nhất thời lười cầm bút nên trì hoãn chưa sửa chữa. Không biết Lâm huynh khi nào dùng đến bản thảo, trong lòng tôi cảm thấy bất an nên đêm khuya cũng phải vội tới đây để chỉ ra những chỗ sai sót với Lâm huynh..."
"Vậy thì tốt quá, Lâm Phược còn sợ làm phiền đến Triệu huynh đây," Lâm Phược khoác tay Triệu Thư Hàn, nói, "Ta cũng có chút không đợi được nữa, cũng biết bản thảo trân quý, không thể sai sót, nên về sau đã tìm hai người nhà chép lại bản thảo. Triệu huynh đích thân tới chỉ điểm, đó thật sự là không còn gì tốt hơn. Ta cũng có nhiều điểm chưa rõ về việc trị ngục, cũng vừa hay có thể thỉnh giáo Triệu huynh..." Hắn lại dặn dò Triệu Hổ chăm sóc chu đáo cho người nhà của Triệu Thư Hàn.
Triệu Thư Hàn theo Lâm Phược đi vào sương phòng chính viện, thấy Tiền Tiểu Ngũ và Trần Ân Trạch đều đang cầm bút nhỏ chép lại rất cẩn thận. Chữ tiểu khải của Tiền Tiểu Ngũ và Trần Ân Trạch đều đẹp, chép rất nghiêm túc. Lúc này Triệu Thư Hàn mới xác nhận Lâm Phược không có ý đồ gì khác, mà là thực sự coi trọng học vấn của mình, trong lòng trăm mối cảm xúc ngổn ngang.
"Vị này là Lâm Cảnh Trung, huynh đệ trong tộc ta, là quản sự của Tập Vân Xã mà ta mời về," Lâm Phược giới thiệu Lâm Cảnh Trung cho Triệu Thư Hàn làm quen, "Việc in ấn bản thảo của Triệu huynh, ta đều giao cho Cảnh Trung phụ trách, Triệu huynh có yêu cầu gì về việc khắc sách, cứ việc dặn dò Cảnh Trung..."
Triệu Thư Hàn cùng Lâm Cảnh Trung hành lễ với nhau, rồi lo lắng nói với Lâm Phược: "Tạp học không nổi danh, in sách chắc chắn là lỗ tiền, tôi nghĩ đi nghĩ lại, trong lòng cảm thấy bất an quá."
"Triệu huynh mời ngồi," Lâm Phược mời Triệu Thư Hàn ngồi xuống trước án thư, nói, "Hàng ngàn năm nay, tạp học vốn không phải là hiển học. Sách mà các nhà sách ưa chuộng in ấn, hoặc là văn chương đạo đức thánh hiền, hoặc là từ khúc hí kịch. Những chuyện này ta nhìn rất rõ. Nhưng ta muốn khắc bản thảo của Triệu huynh, tuyệt đối không phải để lấy lòng Triệu huynh hay vì mục đích nào khác. Trong lòng ta đang có nhiều điểm chưa rõ, Triệu huynh là người có học vấn lớn, Triệu huynh tới đây, ta muốn thỉnh giáo Triệu huynh một vài điều."
"Học vấn lớn thì không dám nhận, có chư vị ở Tây Khê Học Xã đó, Thư Hàn làm sao dám xưng có học vấn?" Triệu Thư Hàn khiêm tốn nói.
"Đó là những kẻ theo văn chương đạo đức của thánh hiền, họ làm đều là hiển học, đều là học vấn công danh. Hiển học có tốt hay không, văn chương đạo đức có tốt hay không, Lâm Phược không dám vọng ngôn; 'Trọng đạo khinh khí' cũng là truyền thống hình thành hàng ngàn năm nay, truyền thống này có tốt hay không, Lâm Phược cũng không dám vọng ngôn," Lâm Phược cười nói, "Qua các năm, tạp học có ích rất lớn đối với trị gia, trị thế, nhưng lại không nổi danh, thậm chí còn bị các tông phái hiển học coi là dâm kỳ xảo kỹ, chịu sự coi khinh. Bách công chư tượng trong thời đại này càng trực tiếp bị quy vào hạng thấp kém... Truyền thống này có tốt hay không, Lâm Phược cũng không bình luận. Nhà họ Lâm là thế huân tông tộc, nhưng không kỵ húy chuyện thương cổ, tuy nói việc thương cổ cũng vốn bị khinh rẻ—nhưng chính việc kinh doanh thương cổ giúp chúng ta hiểu ra một đạo lý rất đơn giản, thương hiệu nhà chúng ta muốn kiếm được nhiều tiền hơn người khác, lừa gạt không phải là kế lâu dài, chữ tín mới là cái gốc. Ngoài ra, chính là phải làm cho vật phẩm mình kinh doanh tinh xảo hơn, bền hơn nơi khác, trong đó chính là học vấn của tạp học,thợ thuật (thuật của thợ). Từ nhỏ đến lớn, biết vi thấy trước (thấy việc nhỏ biết việc lớn), Lâm Phược nghĩ đạo lý phú quốc cường binh thực ra cũng rất đơn giản. Văn chương đạo đức có ích hay không đối với việc phú quốc cường binh, Lâm Phược không nói được, nhưng có một điểm Lâm Phược hiểu rất rõ, tạp học không nổi danh, nói suông phú quốc cường binh thì vô ích."
Triệu Thư Hàn ngồi đó, nhíu mày suy tư. Tuy bốn năm nay ông dồn hết tâm tư vào bản thảo trị ngục – trị ngục đương nhiên là một tiểu loại trong tạp học – nhưng mối quan hệ giữa tạp học và hiển học thì ông chưa từng suy ngẫm kỹ bao giờ. Lời của Lâm Phược chạm tới ông rất sâu sắc, nhất thời quên cả nói.
"Thuật trồng trọt có thấp kém hay không? Trong mắt những kẻ theo thánh hiền kia, chỉ sợ thuật trồng trọt thấp kém vô cùng. Nhưng dù là môn đồ thánh hiền thì cũng phải ăn no hai bữa mới có tâm trí đọc văn chương thánh hiền," Lâm Phược cứ thế tuôn ra hết lòng mình, bình thường cũng khó tìm được đối tượng để nói thẳng thắn như vậy, hắn nói với Triệu Thư Hàn một cách thao thao bất tuyệt, "Đất Giang Đông màu mỡ, một mùa sản xuất được hơn hai thạch, một năm trồng được hai mùa; đất Tây Tần cằn cỗi, một năm chỉ trồng được một mùa, một mùa sản xuất thậm chí không đủ nửa thạch—trong đó rốt cuộc có học vấn gì, môn đồ thánh hiền sẽ không phí tâm đi nghiên cứu kỹ càng. Lâm Phược lại thấy học vấn trong đó đáng nghiên cứu hơn tất cả đạo đức học trên đời. Triệu huynh có cảm thấy lời này của Lâm Phược đại nghịch bất đạo, có kỵ húy thường luận không?"
"Sai rồi," Triệu Thư Hàn phấn chấn nói, "Không sợ Lâm huynh cười chê, Thư Hàn tuy thanh bần nhưng cũng là người tự đánh giá cao bản thân. So với những buổi giảng học ở Tây Khê Học Xã, một lời của Lâm huynh mới khiến Thư Hàn lĩnh hội được cái gì gọi là kiến thức lớn, học vấn lớn."
"Không dám nhận, Lâm Phược chỉ là bày tỏ nỗi lòng mình mà thôi," Lâm Phược nói một cách sảng khoái, tiếp tục nói, "Về bản thảo của Triệu huynh, ta còn một việc muốn làm phiền Triệu huynh?"
"Xin cứ nói, Thư Hàn không gì là không ứng." Triệu Thư Hàn cũng cảm thấy nghe Lâm Phược nói chuyện rất sảng khoái.
"Ta đọc qua sách về nông chính, tiền triều từng in hai cuốn, đầu triều đại chúng ta khi Thái Tông hoàng đế còn tại vị cũng in một cuốn, hai trăm năm trôi qua rồi mà không có nông thư mới nào ra đời. Lẽ nào thuật trồng trọt không có cải tiến? Ngoài ra, nông thư trước đây đọc chỉ biết nó như vậy, mà không biết tại sao lại như vậy. Hậu nhân viết nông thư, chỉ có thể mượn kinh nghiệm chứ không thể mượn phương pháp nghiên cứu, đó cũng là điểm đáng tiếc," Lâm Phược nói, "Bản thảo của Triệu huynh có thể coi là tập đại thành về học vấn trị ngục đương đại. Lâm Phược còn hy vọng Triệu huynh viết thêm một cuốn nữa về tư duy viết sách này, phương pháp phân loại, hậu nhân nếu muốn cải tiến thuật trị ngục của Triệu huynh, có phương pháp luận cũng có thể án đồ tầm ký (tìm theo sơ đồ)..."
"Phương pháp luận?" Triệu Thư Hàn chưa từng nghe tới danh từ này.
"Ừ, đúng, chính là phương pháp luận," Lâm Phược không ngại đưa danh từ này ra sớm, "Rất nhiều tạp học dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm để dạy chúng ta phương pháp trị thế làm việc, nhưng phương pháp này từ đâu mà có thì ít người chịu bỏ bút mực ra luận thuật. Lâm Phược cho rằng một nguyên nhân khiến tạp học không nổi danh chính là thiếu một hệ thống nội tại tinh vi và hợp lý. Như cày cấy, thủy vụ (việc nước), hà vụ (việc sông ngòi) v.v... các thuật tạp học đều có điểm chung. Những điểm chung này, người xưa tuy có luận thuật nhưng đều tản mát vô chương, thiếu một hệ thống rõ ràng và hoàn thiện..."
"..." Triệu Thư Hàn vốn là kẻ sĩ có học vấn, nhưng nhất thời cũng khó mà tiếp nhận quá nhiều, ông nhíu mày suy nghĩ kỹ.
"Lâm Phược vốn không có chí hướng gì lớn lao, những điều vừa nói cũng không phải là việc một thời hay một hai thế hệ có thể hoàn thành," Lâm Phược nói, "Lâm Phược chỉ là có một ý nghĩ, cũng có thể coi là một chí nguyện: nếu còn những bản thảo tập đại thành nghiên cứu tạp học thuật thuật (thuật của thợ) như thế này, Lâm Phược đều nguyện in ấn để lưu hành thiên hạ. Dù có lỗ vốn, Lâm Phược cũng nguyện gánh vác; nếu có dư lợi, thì chia lợi nhuận với chủ nhân bản thảo..."
Nông chính, thủy vụ, xây dựng (doanh tạo) v.v... những tạp học này còn khá được quan phủ coi trọng, dù số người ít ỏi, mỗi triều đại đều có học giả chuyên nghiên cứu, dù sao thì sự vận hành hằng ngày của đế quốc đều không rời bỏ những thứ này. Thế nhưng, việc truyền thừa kỹ thuật của rất nhiều ngành nghề khác đa số đều là truyền thụ giữa thầy trò trong môn thợ. Dù mỗi thế hệ, mỗi ngành mỗi nghề đều có những nghệ nhân xảo đoạt thiên công và những sản phẩm có thể xưng là nghệ phẩm tuyệt thế ra đời, nhưng đó đều là kết tinh của kinh nghiệm truyền thừa, hiếm có nghiên cứu mang tính hệ thống, kết cấu. Điều đó khiến cho một số sản phẩm có thể xưng là nghệ phẩm rất khó được sao chép lại ở nơi khác, thời khác. Người đương thời rất khó tưởng tượng ra những sản phẩm công nghiệp hoàn mỹ trên dây chuyền sản xuất công nghiệp ngàn năm sau.
Tư duy của Lâm Phược là tư duy đã được hun đúc bởi nền văn minh hiện đại ngàn năm sau. Hắn hiểu sâu sắc hơn người đương thời về việc văn minh xã hội cũng như thực lực của một quốc gia hay một dân tộc thực sự bắt nguồn từ đâu. Không phải nói thế gian không có lợi kiếm cường nỗ, cường binh trí tướng, mà là lợi kiếm cường nỗ, cường binh trí tướng không có tính sao chép, cấu trúc chính trị, kinh tế đơn giản của xã hội lại rất dễ sụp đổ.
Lâm Phược cũng không cho rằng việc mình hai kiếp làm người có thể trực tiếp mang lại thứ gì hữu ích hơn cho thế giới này. Kỹ thuật dù tiên tiến đến đâu mà chỉ biết cái đó chứ không biết tại sao lại như vậy thì cũng có khả năng thất truyền, chế độ dù tiên tiến đến đâu cũng sẽ sụp đổ vì không thích ứng được với thời thế. Chưa kể thế gian này làm gì có chuyện kỹ thuật và chế độ tiên tiến nhất, hắn chỉ cảm thấy con người nên trí tuệ hơn, nên giỏi học hỏi hơn.
Lâm Phược trong lòng không cam tâm kiếp thứ hai làm người lại sống uổng phí. Lúc này ngấm ngầm bồi dưỡng thế lực, chủ yếu vẫn là để tự bảo vệ, cũng có khao khát lập đại công danh, cũng cần làm những việc khác. Đương nhiên, những việc này hiện tại trông chẳng có lợi ích rõ ràng nào, thậm chí còn phải bỏ vốn ra làm, nhưng hắn cảm thấy ý nghĩa của việc làm những điều này chẳng kém nửa phần so với việc kiếm bao nhiêu bạc, ngầm nuôi bao nhiêu tư binh hay xây dựng bao nhiêu nhân vọng. Đôi khi, những việc này đều bổ trợ cho nhau.