Thị lực của cô bé Marie-Laure LeBlanc sáu tuổi, cao lêu đêu, mặt đầy tàn nhang sống ở Paris đang suy giảm nhanh chóng khi cha cô cho cô đi cùng nhóm trẻ để tham quan viện bảo tàng nơi ông làm việc. Người hướng dẫn là một lão gác cổng già gù lưng chẳng cao hơn lũ trẻ là bao. Ông ta gõ cốp cốp đầu cây ba toong lên sàn để tập trung sự chú ý, rồi dẫn một tá các bạn nhỏ băng qua các khu vườn vào các phòng trưng bày.
Bọn trẻ quan sát các kỹ sư dùng nhiều ròng rọc để nâng xương đùi con khủng long hóa thạch lên. Chúng xem xét con hươu cao cổ nhồi* trưng bày trong một tủ âm tường. Chúng săm soi các ngăn kéo chứa đầy lông, vuốt và mắt bằng thủy tinh của người nhồi thú; chúng khẽ búng vào những tấm mẫu cây đã hai trăm năm tuổi được trang trí với các loài phong lan, hoa cúc và thảo mộc.
Nhồi là việc cho các vật liệu vào thú đã moi ruột để phục hồi hình dáng con vật.
Cuối cùng, chúng trèo lên mười sáu bậc thang để tham quan Phòng trưng bày Khoáng vật. Người hướng dẫn chỉ cho chúng thấy đá mã não có xuất xứ từ Brazil, đá thạch anh tím và một thiên thạch được đặt trên chiếc đôn mà ông khẳng định là có niên đại ngang với Hệ Mặt trời. Sau đó, ông xếp chúng thành hàng một, dẫn xuống hai cầu thang xoắn ốc, đi qua vài hành lang và ngừng trước một cánh cửa sắt chỉ có một lỗ khóa. Ông thông báo, “chuyến tham quan kết thúc.”
Một cô bé thắc mắc, “Nhưng có cái gì ở phía bên kia ạ?”
“Phía sau cánh cửa đó là một cánh cửa khóa khác, nhỏ hơn một chút.”
“Và sau cái cửa đó là gì ạ?”
“Một cái cửa khóa thứ ba, còn nhỏ hơn.”
“Sau cái cửa đó là gì ạ?”
“Cái cửa thứ tư, thứ năm và cứ thế cho đến cánh cửa thứ mười ba, cái cửa khóa này nhỏ xíu, chỉ lớn bằng chiếc giày.”
Lũ trẻ chồm về phía trước. “Và sau đó thì sao ạ?”
“Phía sau cánh cửa thứ mười ba” - người hướng dẫn khua bàn tay nhăn nheo - “là Lửa Biển.”
Hoang mang, sốt ruột.
“Đi nào. Các cháu chưa bao giờ nghe đến Lửa Biển sao?”
Bọn trẻ lắc đầu. Marie-Laure liếc nhìn lên dãy đèn trơ trụi trên trần nhà, mỗi bóng cách nhau khoảng ba mét; trong mắt cô mỗi bóng đều tỏa ra vòng sáng bảy sắc cầu vồng.
Người hướng dẫn mắc cây ba toong trên cổ tay và xoa hai bàn tay lại với nhau. “Đó là một câu chuyện dài. Các cháu có muốn nghe một câu chuyện dài không?”
Chúng gật đầu.
Ông hắng giọng. “Cách đây nhiều thế kỷ, tại nơi mà giờ chúng ta gọi là Borneo, một hoàng tử nhặt từ dưới một lòng sông khô hạn lên một viên đá màu xanh vì ngài thấy nó đẹp. Nhưng trên đường quay về cung điện, hoàng tử bị bọn cướp cưỡi ngựa tấn công và đâm dao vào tim ngài.”
“Đâm vào tim sao?”
“Thật à?”
Một cậu bé gắt lên, “Im đi.”
“Bọn cướp lấy nhẫn, ngựa và mọi thứ của hoàng tử. Nhưng vì hoàng tử siết chặt viên đá màu xanh nhỏ trong tay nên bọn chúng không phát hiện ra nó. Vị hoàng tử đang hấp hối cố gắng bò về nhà. Sau đó, hoàng tử bất tỉnh suốt mười ngày. Đến ngày thứ mười, trước sự kinh ngạc của các bảo mẫu, hoàng tử ngồi dậy, xòe tay ra và trong lòng bàn tay ngài là viên đá.
“Các ngự y nói rằng đó là một phép màu, vì hoàng tử lẽ ra không thể sống sót với một vết thương chí mạng như thế. Các bảo mẫu nói rằng ắt hẳn viên đá có quyền năng chữa lành vết thương. Các thợ kim hoàn của đức vua lại nói khác: họ bảo rằng viên đá là viên kim cương thô lớn nhất trên đời. Người thợ đẽo đá giỏi nhất mất tám mươi ngày để chế tác, khi hoàn thành, viên kim cương có màu xanh khác thường, màu xanh của vùng biển nhiệt đới, thế nhưng ngay chính giữa viên kim cương lại có một vệt đỏ, giống như những ngọn lửa bên trong một giọt nước. Đức vua gắn viên kim cương lên vương miện của hoàng tử, dân gian truyền tụng rằng khi vị hoàng tử trẻ ngồi lên ngai vàng và lúc ánh mặt trời soi chiếu xuống hoàng tử thì ngài trở nên sáng chói đến nỗi người khác không thể phân biệt hoàng tử với ánh sáng mặt trời.”
Một cô bé thắc mắc, “Ông có chắc đó là thật không ạ?”
“Im đi.” Cậu bé lúc nãy lên tiếng.
“Viên đá được gọi là Lửa Biển. Người ta tin rằng hoàng tử là một vị thần, chừng nào ngài còn giữ viên đá thì không ai có thể giết ngài. Nhưng những chuyện kì lạ bắt đầu xảy ra: hoàng tử càng giữ viên đá thì ngài càng gặp nhiều bất hạnh. Trong vòng một tháng, hoàng tử mất đi hai người em trai, một người bị chết đuối, người kia bị rắn cắn. Trong vòng sáu tháng, vua cha chết vì bệnh hiểm nghèo. Mọi việc thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn khi thám báo của nhà vua báo rằng một đội quân hùng mạnh đang tập hợp ở phía Đông.
“Hoàng tử triệu tập các cố vấn của cha ngài. Tất cả đều khuyên ngài nên chuẩn bị chiến đấu, ngoại trừ một người, một thầy tư tế* nói rằng ông đã có một giấc chiêm bao. Trong giấc chiêm bao của thầy tư tế, nữ thần Trái Đất đã nói với ông rằng nữ thần đã tạo ra viên đá Lửa Biển để làm quà tặng cho người mình yêu, vị thần của Biển Cả và đang dùng dòng sông để gửi món quà. Nhưng khi con sông khô hạn và hoàng tử nhặt lấy viên đá, nữ thần đã nổi giận. Nữ thần nguyền rủa viên đá và bất cứ người nào giữ nó.”
Là người được giao phụ trách trông coi về tế tự, lễ nghi, cúng tế, thờ phụng.
Mọi đứa trẻ đều chồm tới, Marie-Laure cũng vậy.
“Lời nguyền như sau: người giữ viên đá sẽ bất tử, nhưng chừng nào còn giữ viên đá, thì tai ương sẽ liên tục ập đến với những người mà người đó yêu thương, hết người này đến người khác.”
“Bất tử ạ?”
“Nhưng nếu người giữ viên đá ném nó xuống biển, bằng cách đó giao viên đá đến đúng người nhận, nữ thần sẽ phá bỏ lời nguyền. Vậy là hoàng tử, giờ đã là vua, suy nghĩ trong suốt ba ngày ba đêm và cuối cùng quyết định giữ lại viên đá. Nó đã từng cứu mạng ngài, ngài tin rằng nó sẽ khiến cho ngài trở nên bất khả chiến bại. Ngài cắt lưỡi của thầy tư tế.”
“Ối”, cậu bé nhỏ nhất kêu lên.
“Sai lầm nghiêm trọng”, cô bé cao nhất nhận xét.
Người gác cổng kể tiếp. “Quân xâm lược kéo đến và phá hủy cung điện, giết hết mọi người chúng gặp và không ai gặp lại hoàng tử nữa, trong vòng hai trăm năm chẳng ai nghe được gì về viên đá Lửa Biển. Một vài người nói rằng viên đá được cắt thành nhiều viên đá nhỏ hơn; người khác lại nói rằng hoàng tử vẫn cất giữ viên đá và ngài đang ở Nhật hay Ba Tư, là một nông dân hèn mọn dường như trẻ mãi không già.
“Vì vậy, viên đá chìm vào quên lãng. Cho đến một ngày, khi một nhà buôn kim cương người Pháp, trong chuyến đi đến Golconda Mines ở Ấn Độ, tìm thấy một viên kim cương hình quả lê khổng lồ. Nặng 133 cara. Độ tinh khiết gần như hoàn hảo. Ông ta viết rằng, nó to như trứng chim bồ câu, xanh như biển cả, nhưng có một vết màu đỏ ở ngay chính giữa. Ông ta đúc một phiên bản sao y của viên đá và gửi cho một công tước say mê đá quý ở Lorraine, cảnh báo công tước những tin đồn thổi về lời nguyền. Nhưng vị công tước rất muốn có được viên kim cương. Vì vậy, nhà buôn mang nó đến châu Âu, vị công tước gắn nó lên trên đầu bịt của cây ba toong và mang nó đi khắp mọi nơi.”
“Ừm. Ồ.”
“Trong vòng một tháng, nữ công tước bị ung thư vòm họng. Hai gia nhân họ yêu mến ngã từ trên mái nhà xuống và gãy cổ. Rồi cậu con trai duy nhất của công tước chết trong một tai nạn cưỡi ngựa. Dù mọi người nói với công tước là trông ông khỏe mạnh hơn bao giờ hết, nhưng công tước trở nên sợ ra khỏi nhà, sợ phải tiếp khách. Rốt cuộc, công tước đã phải tin rằng viên kim cương của mình chính là viên đá Lửa Biển bị nguyền rủa, vì vậy, ông đã thỉnh cầu đức vua cất kỹ viên đá trong viện bảo tàng dưới một căn hầm đặc biệt được khóa kỹ và không được mở hầm trong hai trăm năm.”
“Và?”
“Và một trăm chín mươi sáu năm đã trôi qua.”
Bọn trẻ vẫn im lặng trong một lúc. Vài đứa làm tính bằng ngón tay. Rồi chúng đồng loạt giơ tay lên. “Chúng cháu có thể nhìn viên đá được không ạ?”
“Không.”
“Thậm chí mở cánh cửa đầu tiên cũng không được sao?” .
“Không được.”
“Ông đã thấy nó chưa?”
“Chưa.”
“Vậy làm thế nào mà ông biết là nó thật sự ở đó?”
“Các cháu phải tin câu chuyện.”
“Thưa ông, nó khoảng bao nhiêu tiền ạ? Có thể mua được tháp Eiffel không ạ?”
“Một viên kim cương lớn và hiếm như vậy rất có thể mua được tới năm tháp Eiffel.”
Những tiếng thở hổn hển.
“Tất cả những cánh cửa đó là để ngăn bọn trộm lấy cắp nó ạ?”
“Có lẽ”, người hướng dẫn trả lời và nháy mắt, “những cánh cửa đó để ngăn lời nguyền ứng nghiệm.”
Lũ trẻ chìm vào yên lặng. Hai hoặc ba đứa bước lùi lại.
Marie-Laure tháo kính ra và mọi thứ trở nên mờ ảo. Cô hỏi, “Tại sao không thể đơn giản là lấy viên kim cương và ném xuống biển chứ?”
Người gác cổng nhìn cô. Những đứa trẻ khác cũng nhìn cô. Một cậu bé lớn hơn nói, “Từ trước đến giờ mày đã thấy ai ném năm cái tháp Eiffel xuống biển chưa?”
Một tràng cười vang lên. Marie-Laure cau mày. Đó chỉ là một cánh cửa bằng sắt với một lỗ khóa bằng đồng thau.
Chuyến tham quan kết thúc, bọn trẻ giải tán và Marie-Laure quay lại Gian trưng bày chính với cha. Ông chỉnh lại chiếc kính trên mũi cô, nhặt chiếc lá ra khỏi mái tóc cô. “Con có vui không, con yêu?”
Một con chim sẻ màu nâu nhỏ từ trên xà nhà sà xuống đậu trên những hàng gạch trước mặt cô. Marie-Laure ngửa lòng bàn tay ra. Con chim sẻ nghiêng đầu, xem xét. Rồi vỗ cánh bay đi mất.
Một tháng sau, cô bị mù.