Thi thể tù nhân vẫn được cột vào cọc ở sân trong cả tuần trời, da thịt của ông ta đông cứng thành màu xám. Bọn thiếu niên dừng lại và hỏi xác chết đường đi; ai đó đeo cho thi thể băng đạn và mũ sắt. Sau vài ngày, hai con quạ đứng trên vai thi thể, mỏ chúng khoét vào thi thể, cuối cùng người canh giữ đến với hai học viên năm thứ ba, họ dùng vồ chặt chân xác chết ra khỏi lớp băng rồi quăng thi thể lên một chiếc xe đẩy và chở đi mất.
Trong chín ngày thì ba lần Frederick bị chọn là kẻ yếu kém nhất trong bài tập quân sự. Thầy Bastian đi xa hơn bao giờ hết, đếm nhanh hơn bao giờ hết, vì vậy Frederick phải chạy bốn hoặc năm trăm thước, thường là chân ngập sâu trong tuyết và bọn thiếu niên đua nhau đuổi theo cậu ấy như thể sinh mạng của chúng phụ thuộc vào điều đó. Mỗi lần bị bắt được cậu ấy cũng bị đánh đập trong khi thầy Bastian đứng nhìn, chẳng lần nào Werner làm gì để ngăn lại.
Frederick chịu được bảy cú đánh trước khi ngã xuống. Rồi còn sáu. Rồi ba. Cậu ấy không bao giờ kêu khóc, không bao giờ xin rời khỏi trường, dường như điều này đặc biệt khiến cho sĩ quan chỉ huy run lên vì thất vọng đến nỗi muốn giết người. Sự khác biệt, sự mơ mộng của Frederick - như một mùi hương tỏa ra từ người cậu ấy và mọi người đều có thể ngửi thấy.
Werner cố vùi mình vào công việc trong phòng nghiên cứu của tiến sĩ Hauptmann. Cậu dựng lên nguyên mẫu chiếc máy thu phát sóng của họ, kiểm tra cầu chì, đèn điện tử chân không, máy thu phát cầm tay và đầu cắm - nhưng thậm chí trong những giờ làm việc khuya lắc, bầu trời như thể tối mờ và ngôi trường trở nên tối hơn, ma quái hơn bao giờ hết. Bụng cậu khó chịu. Cậu bị tiêu chảy. Cậu thức dậy bốn lần trong đêm và nhìn thấy hình ảnh Frederick trong căn phòng ngủ ở Berlin, đeo kính và cà vạt, phóng thích những con chim bị mắc bẫy khỏi những trang trong cuốn sách dày cộp.
Cháu là một cậu bé thông minh. Cháu sẽ làm tốt thôi.
Một tối nọ, khi tiến sĩ Hauptmann đi xuống hành lang vào văn phòng của mình, Werner liếc qua Volkheimer độc đoán, đang lim dim trong góc và nói, “Tù nhân đó.”
Volkheimer chớp mắt, đá chuyển thành thịt. “Năm nào họ cũng làm thế.” Anh ta tháo mũ ra, lướt một tay qua mái tóc dày bù xù. “Họ nói ông ta là người Ba Lan, một tên cộng sản, một gã Cô-dắc. Ông ta trộm rượu, dầu hỏa hay tiền. Năm nào cũng giống nhau.”
Trong nhiều giờ liền, những thiếu niên vật lộn với một tá xung đột khác nhau. Bốn trăm đứa trẻ bò dọc trên mép lưỡi dao bén.
Volkheimer thêm vào. “Cũng luôn là cách nói giống nhau. ‘Chờ chết’.”
“Nhưng để ông ta ngoài đó như vậy có đúng không? Ngay cả sau khi ông ta đã chết sao?”
“Với họ đúng sai không quan trọng.” Rồi tiếng gót giày cứng của tiến sĩ Hauptmann lộp cộp vang lên trong phòng, Volkheimer dựa lưng vào góc, đôi mắt anh ta lại phủ đầy bóng tối và Werner không có cơ hội để hỏi anh ta họ là ai.
Bọn thiếu niên bỏ chuột chết trong giày của Frederick. Chúng gọi cậu ấy là đồ ẻo lả, gã đồng tính, vô số những biệt danh trẻ con khác. Một đứa học viên năm thứ năm hai lần lấy ống nhòm của Frederick và bôi phân lên ống kính.
Werner tự nhủ là cậu phải cố. Đêm nào cậu cũng đánh bóng giày cho Frederick cho đến khi chúng bóng loáng - một lí do nhỏ khiến giám thị kí túc xá, hoặc thầy Bastian, hay học viên lớp trên mắng nhiếc cậu ấy. Buổi sáng Chủ nhật ở trong phòng ăn, họ ngồi yên lặng dưới ánh nắng mặt trời và Werner giúp cậu ấy làm bài tập. Frederick thì thầm rằng cậu ấy hi vọng tìm được tổ chim chiền chiện trên bãi cỏ bên ngoài các bức tường của trường vào mùa xuân. Một lần cậu ấy cầm cây bút chì lên, nhìn chằm chằm vào khoảng không và nói, “Chim gõ kiến nhỏ sườn đỏ” và Werner nghe thấy tiếng gõ lóc cóc của một con chim từ xa xa, vang qua bãi đất, xuyên qua bức tường.
Trong giờ khoa học kỹ thuật, tiến sĩ Hauptmann giới thiệu định luật nhiệt động lực học. “Entropy*, ai có thể nói đó là gì?”
Entropy là một đơn vị đo nhiệt năng phát tán, hấp thụ khi một hệ vật lý chuyển trạng thái tại một nhiệt độ tuyệt đối xác định.
Bọn thiếu niên cúi xuống bàn. Không ai giơ tay lên. Thầy Hauptmann đi qua các hàng ghế. Werner cố gắng không co rút cơ.
“Pfennig.”
“Thưa thầy, entropy là mức độ lộn xộn hay hỗn loạn của một hệ thống.”
Đôi mắt thầy nhìn Werner chăm chú trong một khắc, một ánh mắt vừa ấm áp vừa lạnh lẽo. “Sự hỗn loạn. Các cậu nghe sĩ quan chỉ huy nói về nó. Các cậu nghe giám thị kí túc xá nói về nó. Phải có trật tự. Cuộc sống là sự hỗn độn, thưa các quý ông. Và chúng ta tượng trưng cho một trật tự trước sự hỗn độn đó. Thậm chí đến cả gen di truyền. Chúng ta đang định đoạt sự tiến hóa của các loài. Sàng lọc ra những kẻ yếu kém, ngang bướng, vô dụng. Đó là kế hoạch vĩ đại của Đức Quốc xã, công trình vĩ đại nhất mà con người từng bắt tay làm.”
Thầy Hauptmann viết lên bảng đen. Các học viên chép lại vào trong vở mình. Entropy của một hệ cô lập không bao giờ giảm. Mỗi trạng thái đều tuân theo định luật biến đổi của hệ.*
Entropy không có tính bảo toàn. Đại lượng này có thể tăng một cách đột ngột trong một quá trình không thuận nghịch. Entropy của một hệ cô lập không thể giảm, mà chỉ có thể tăng hoặc giữ nguyên giá trị trong trường hợp quá trình biến đổi là thuận nghịch. Tất cả các sự biến đổi thực đều được thực hiện với sự tăng lên của sự ‘hỗn loạn’ chung.