Sau lần hạ cánh giữa những đám mây, màu xám vẫn lưu lại thành màu nền hàng ngày của tôi. Kể cả khi trời quang hơn, cái sắc xám ấy vẫn trùm lên nặng nề, ám ảnh.
Nhưng theo tôi để ý thì có vẻ như công việc của mọi người không bị ảnh hưởng gì của tiết trời. Tất cả vẫn diễn ra không ngừng nghỉ. Khi trời tối lại và bắt đầu mưa, dân tình mặc áo mưa rồi lại tiếp tục lên xe máy đi, hàng hóa hay những công việc trên đường phố chỉ được che chắn bằng vài động tác đơn giản và thành thạo.
Tất cả đều chuyển động, xê dịch, quay lại chỗ cũ. Y như một tổ kiến sống động đầy các thứ, người, vật, lẫn vào với nhau rồi lại trộn thành một xoáy khổng lồ, rút rồi chảy, liên tục biến mình.
Trên cái nền xám đấy đôi khi có một điểm bật lên, làm tôi chú ý vì sức sống tràn đầy của nó. Một mái chùa mà lối vào đột nhiên hiện ra sau một dãy cửa hàng bán chim, với những đường cong như tạ ơn trời đất xé toạc lớp phủ xám u ám. Hay hình ảnh những người phụ nữ mảnh dẻ, gương mặt khuất sau vành nón, khéo léo mang ở hai đầu đòn gánh làm bằng thân tre những gánh hoa quả trĩu nặng đu đưa một cách cân bằng hoàn hảo.
Trên đầu họ là những búi dây điện trĩu xuống trên các con phố cổ, như một dãy tay vịn bất tận của cõi người tất bật.
Nổi bật trong đám đông xe và người là các kiểu giữ thăng bằng của những chiếc xe máy chở hàng hóa đủ loại, kềnh càng kinh khủng chen lấn nhau.
Rồi đến những căn nhà, nhỏ, hẹp, cái này chống lên cái kia không theo một trật tự chính xác nào, gần như tạo thành một dạng thẳng đứng của khu vườn nhiệt đới ở cách đấy không xa. Kiểu dân cư chồng chất ấy khiến người ta vừa thấy đông đúc vừa liên tưởng đến cảnh nghèo khó.
Những cảnh quen thuộc với chị.
Nhưng tôi không chỉ ngắm chúng, tôi đang ghi lại thực địa.
Vì tôi biết đi loanh quanh trong phố cổ không giúp tôi tìm được thứ cần tìm, nhưng không có chỉ dẫn cụ thể thì đành phải tìm kiếm những điểm quan trọng để làm quen với môi trường.
Tôi đi bộ hàng giờ với sự kiên nhẫn lần tìm của thầy địa lý khi nghe được chuông dò long mạch của mình rung lên.
Thỉnh thoảng tôi đi taxi đến mấy địa chỉ mà sứ quán cung cấp, chịu đựng các bác tài lúc nào cũng săm sắn hỏi han. Anh người nước nào? Bao nhiêu tuổi rồi? Gia đình, con cái? Mấy thằng con trai rồi? Các cuộc gặp đều là xã giao, tôi làm quen với những người mà ai cũng muốn biết lý do khiến tôi quan tâm đến Việt Nam. Ai cũng tò mò, điều có vẻ ngược với tính cách trầm tĩnh của người châu Á.
Ngoài các cuộc gặp công việc mà đối tác thường là đàn ông, thì nhìn đâu tôi cũng thấy phụ nữ. Phụ nữ thuộc đủ các lứa tuổi, ai cũng nhỏ nhắn, mảnh mai, duyên dáng. Trong những ngày đầu tìm hiểu tôi nhận ra một điều khiến tôi lập tức thấy tò mò, đấy là việc những người đi gom rác hầu như đều là phụ nữ. Họ mặc đồng phục, gương mặt khuất sau vành nón và sau khẩu trang chống nắng. Mỗi khi nhìn thấy họ là tôi lại đi chậm lại quan sát. Chưa bao giờ tôi thấy người ta quét đường, gom những đống rác rưởi chất ngất bên vỉa hè vào đầy những túi nhựa bằng những động tác chính xác và duyên dáng như thế. Không một nơi nào khác trên Trái đất người ta lại đẩy cái xe đầy rác với vẻ tận tình và khéo léo như thế.
Người tôi phải tìm là một phụ nữ.
Chỉ một người thôi, giữa đám đông bao nhiêu là phụ nữ ấy.