Tôi nhìn thấy Corrine đang chống khuỷu tay lên bàn, vô cùng mệt mỏi và kiệt sức. Nhìn thấy tôi, cô ấy quay ngược lại, lắc lắc đầu, chỉ thốt lên được một từ “Nga” rồi lại ngã người ra lưng ghế, nhắm mắt lại suy sụp. Tôi ôm lấy vai rồi ngồi xuống cạnh cô. Corrine bặm môi, gần như muốn cắn hẳn vào môi mình: “Anh không biết Nga đã phải làm gì để ở lại với chúng tôi trong bệnh viện đâu. Bố mẹ cô ấy nhất quyết bắt cô ấy phải về nhà. Hai ông bà tuổi đã khá cao và muốn cô ấy về nhà để chăm họ thay vì ở lại đây, để nhiễm một con virus chết người. Bây giờ sự thể thành ra như thế này”. Cô siết chặt hai nắm tay làm tôi liên tưởng đến cảnh một người đang muốn giữ chặt cát trong nắm tay mình nhưng hạt cát cứ tuồn ra khỏi kẽ tay, chảy xuống qua muôn dòng nhỏ. “Cô ấy dịu dàng thế, chu đáo thế, cực kì giản dị”. Corrine khóc, một vài giọt nước mắt rơi xuống tờ giấy in những email cô vẫn để trong lòng. “Khi chúng tôi bắt đầu hiểu đang có việc gì xảy ra vài ngày trước khi Jerome tuyên bố chính thức, ở đây mọi người bắt đầu tháo chạy, người thì báo trước, người thì lẳng lặng trốn khỏi ca trực, người thì bịa ra những câu chuyện kì quặc, người lại òa lên khóc và thú nhận là sợ, rất sợ, không thể ở lại đây được. Điều lạ là những người lặng lẽ nhất, khiêm tốn nhất thì vẫn ở lại đây đúng chỗ của mình. Còn những người bình thường có vẻ hăng hái, mạnh mẽ thì cứ từng người một biến mất. Nga thì luôn luôn đúng giờ, luôn luôn cần cù, bất cứ lúc nào cần là cô ấy có mặt”. Corrine đưa hai tay lên che mặt, những bàn tay đầy vết nhăn và tĩnh mạch nổi lên đang run nhẹ. “Khi cô ấy hỏi tôi xem nên ở lại hay không, tôi đã bảo cô ấy là hãy lắng nghe lương tâm của mình. Bất cứ lựa chọn nào của cô ấy sẽ đều đúng cả. Gia đình cô ấy theo đạo Thiên chúa và từ nhỏ Nga đã được dạy tinh thần phải phụng sự những người khác. Trong những ngày ấy, cô ấy đã phải đối mặt với một cuộc đấu tranh tinh thần thực sự. Thật tội nghiệp cô ấy. Nga muốn ở lại, không muốn bỏ chúng tôi trong lúc chúng tôi cần cô ấy, nhưng lại cảm thấy có lỗi với bố mẹ bởi vì ông bà lo lắng cho con hơn là lo lắng cho bệnh tật của mình. Nhưng mà họ có lí”.
“Corrine này, nếu Nga đã tự quyết định ở lại đây thì chị không có gì phải cắn rứt cả. Cô ấy đã hoàn thành con đường của mình”. Corrine nhìn tôi ngơ ngác, như thể không hiểu ý tôi muốn nói gì. “Đường đời của cô ấy, thời gian của cô ấy, Corrine ạ. Chị đã bao giờ tự hỏi tại sao chúng ta lại tin rằng hầu như mọi sự vật đều có thời hạn của nó, trừ cuộc sống con người. Như thể tất cả mọi người chỉ có thể chết vì già. Nhưng không phải thế. Chị có nghĩ rằng lẽ ra tất cả chúng ta đều phải có quyền sống một lượng thời gian như nhau không? Có thể! Nhưng đời không diễn ra như thế”. Chúng tôi lại yên lặng. Từ sau phía cánh cửa vọng đến những âm thanh như nghẹn lại, như thể việc cách ly đã tạo ra tác dụng không chỉ cách ly chúng tôi với thế giới bên ngoài mà còn chặn lại không cho cả những âm thanh trong căn phòng này được lọt ra ngoài. “Hồi còn học đại học, có một anh bạn người Mỹ vẫn thường nói đi nói lại với chúng tôi một quan niệm về số phận, về sự sống và cái chết. Này các bạn, các bạn đã nhầm khi đo cuộc sống bằng năm. Năm chỉ là một số liệu có ích, dễ dùng và rất nhiều người đã cho nó là quá quan trọng. Nhưng điều quan trọng là đường đời, là cách bạn sống thế nào. Sống không phải bao lâu mà sống thế nào. Anh ta cứ nhắc đi nhắc lại như thế. Mỗi người đều có xuất phát điểm khác nhau. Mỗi người có một đường đời khác nhau, mỗi người đến một điểm khác nhau và mỗi người đi quãng đường tốn một khoảng thời gian khác nhau. Tôi muốn được nghe lại những lời đó của anh ta. Anh ý nói thuyết phục lắm!” Corrine nhìn tôi. Trông cô có vẻ không tin vào những gì tôi nói. “Chẳng lẽ anh không thấy khủng khiếp khi một đứa trẻ chết trên tay anh hay một cô gái như Nga chết ngay trước mắt anh, khi mới chỉ 25 tuổi, với nụ cười và lời nói vẫn còn trẻ thơ như thế hay sao?” Tôi nhìn cô, tôi đang đứng trước một người phụ nữ mà ba ngày trước đây tôi còn chưa quen biết, thế mà bây giờ chúng tôi đang cùng nhau động đến những cung bậc đau khổ nhất của kiếp người.
Tôi nhớ lại khi ở Rosenberg, những lần tôi lăn lộn, hoảng loạn trên mặt đất. “Corrine chị có biết điều gì xảy ra khi tôi mất trí không? Lúc ấy cuộc đời với tôi chỉ là một sự hỗn loạn, một trò hề khổng lồ mà vận rủi mù quáng giáng xuống bất kì ai với sự nhẫn tâm man rợ. Một thế giới mà kiếp người lênh đênh như một cái bè trôi nổi, không có chỗ đậu. Nhưng sau đó một thời gian, cái hình ảnh tận thế của số phận độc ác, thất thường và bị chi phối đấy làm tôi chán ghét, và thế là tôi quay lại với ý tưởng quen thuộc của mình về số phận, về vai diễn, về đường đời, về những lựa chọn cá nhân sẽ quay lại chi phối những gì số phận đã quyết định, đã cài đặt trước. Tôi không còn hành hạ mình với những câu hỏi không thể trả lời. Chính vì vậy mà tôi nói với chị rằng Nga đã tự có lựa chọn của mình. Cô ý đã hoàn thành đường đời của mình”. Corrine nhìn tôi với một ánh sáng lạ trong đôi mắt. “Thật là ngớ ngẩn, buồn cười khi mà anh phải đứng đây để an ủi một người sùng đạo như tôi về cái chết. Nhưng cứ mỗi khi một người thân ra đi tôi lại cảm thấy cô đơn. Tôn giáo cho ta sức mạnh và sự dũng cảm nhưng không cứu được tôi khỏi cái cảm giác cô đơn ngày càng tăng, càng lúc càng bị bỏ rơi. Mỗi lần như vậy, tưởng như một phần trong tôi đã chết theo. Nhưng có lẽ đành phải chấp nhận mọi chuyện như thế, giống như anh nói lúc nãy, người ta ra đi, mỗi người theo một cách, điều quan trọng có lẽ sau đó mới đến”. Cánh cửa phòng bất chợt lại mở tung, bây giờ chắc chị cũng đã hiểu ra mỗi lần như thế đều không có tin tức gì tốt lành cả. “Bác sĩ Corrine, đến đây nhanh lên, lại có bệnh nhân mới được đưa vào, có vẻ nặng lắm, chắc phải đưa ngay đến Khu đỏ. Corrine đeo lại khẩu trang, cử chỉ chậm chạp, máy móc. “Jo, đi với tôi, làm ơn giúp tôi một tay. Trong vài phút tới chúng ta có thể không nhìn màn hình để trông chờ tìm thấy cách chống lại bệnh SARS này cũng được. Chúa phù hộ cho chúng ta”.