Thức ăn trong bệnh viện khan hiếm dần, chúng tôi đã bắt đầu phải ăn theo khẩu phần. Vì nhiệm vụ do Râu đỏ giao, tôi nói chuyện với phó giám đốc bệnh viện, báo cho anh ta là tôi có một số mối quen có thể giúp giải quyết vấn đề thiếu thức ăn. Đèn xanh bật ngay. Tất nhiên là trong hoàn cảnh đấy chẳng ai lại đi từ chối người nào tình nguyện giúp đỡ. Tôi bắt đầu gọi vài cú điện thoại và một lúc sau thì nhận ra nguy cơ chúng tôi sẽ phải chết vì đói là có thật.
Tôi chạy ra ngoài sân bệnh viện để kiểm tra. Không khí nặng nề, bầu trời sụp xuống, có một sự tê liệt chiếm lĩnh, ngự trị khắp không gian. Không một tiếng động, xung quanh vắng ngắt. Không, rõ ràng tôi không nằm mơ, nhưng trước mắt tôi con đường trước cửa bệnh viện mà bình thường vào ban ngày sẽ đông đúc như một phố trung tâm thì bây giờ lại không một bóng người. Không ai lai vãng đến đây hay thậm chí là lảng vảng quanh đấy.
Nỗi sợ bị lây bệnh đã lan ra khắp nơi, tạo ra một vành đai vô hình nhưng cực kỳ hiệu quả. Chúng tôi bị cách ly và không người nào dám vượt qua khu vực đấy.
Tôi quay lại bệnh viện và lại gọi điện. Trước đây trong thời gian đi loanh quanh đánh dấu các điểm trong thành phố, soi mói đám đông trên mọi con đường, mọi nơi chốn để cố tìm một gương mặt phụ nữ, tôi đã dừng chân uống một cốc bia ở Metropole, khách sạn nơi Joan Baez[1] đã từng nghỉ lại và hát dưới làn bom Mỹ. Ở đấy tôi đã làm quen với một người đàn ông ngồi cùng bàn tôi mà tôi nghe thấy nói chuyện điện thoại bằng tiếc Séc.
“Chào anh, tôi là Pavel, người phụ trách đồ ăn uống ở khách sạn này. Liệu tôi có giúp gì được cho người đồng hương không?” Chúng tôi nói những câu chuyện phiếm mà những người cùng quê khi gặp nhau lần đầu ở nước khác vẫn thường nói với nhau. Sau lần đó còn có thêm một vài cuộc rượu buổi tối nữa.
Chị cũng hình dung ra là với anh ta tôi cũng dùng cách giới thiệu quen thuộc, nên Pavel biết tôi làm trong lĩnh vực y tế vân vân và vân vân. Thế nhưng khi nghe cú điện thoại tôi gọi từ bệnh viện Việt Pháp, anh ta vẫn cực kỳ sửng sốt. “Này anh bạn, chắc là anh mất trí rồi. Nhưng mà vì tôi rất mến anh, nên tôi sẽ cố hết sức để giúp các anh trong đấy sống được, tất nhiên là nếu thức ăn đến nhanh hơn virus”. Anh ta gọi lại cho tôi sau vài tiếng, chúng tôi thống nhất với nhau là sẽ giao hàng một lần một ngày, nhiều hơn nữa thì không thể. Thức ăn sẽ được để trong một hộp đựng bằng nhôm, mỗi sáng đặt tại cổng vào sân bệnh viện. Không hơn một mét, Pavel nhấn mạnh. Anh ta chắc hẳn đã phải cố gắng lắm mới thuyết phục được nhân viên mang hàng đến tận đấy. Người của chúng tôi sẽ xuống để nhận hàng và thế là cuối cùng chúng tôi cũng có được đồ ăn tử tế.
Râu đỏ vào, tôi nói cho anh ta biết chúng tôi sẽ không lo phải chết nữa, chí ít thì cũng không chết vì đói. Anh ta lầm bầm trả lời rồi thả người xuống chiếc ghế. “Nếu không kịp tìm ra làm thế nào thắng được con virus quái quỷ này thì tất cả sẽ chết hết trong này ấy chứ.” Anh ta cầm khẩu trang lên, đứng nguyên như thế một lúc, rồi quay lại nhìn tôi bằng đôi mắt màu lục sẫm của mình “Cảm ơn anh, anh làm tốt lắm. Tốt lắm”. Râu đỏ vớ lấy mấy email vừa in, rồi lại nóng nảy vứt lại tờ giấy lên bàn. “Nga vừa bị ngưng tim. Chúng tôi đã cấp cứu kịp cho cô ấy nhưng cô ấy vẫn yếu lắm. Huyết áp tệ hại, phổi thì thôi không phải bàn, phim chụp thì thà không xem còn hơn... Tim cô ấy không chịu được lâu nữa. Nếu ngày mai Nga vẫn không khá hơn thì cô ấy sẽ hôn mê.” Lần đầu tiên Râu đỏ nhìn tôi như thể chờ đợi một phản ứng từ phía tôi, về một việc mà tôi không có chút khả năng nào để góp ý kiến. Tôi nhìn thấy trong mắt anh ta bóng dáng điều mà trước đấy Corinne đã tả cho tôi về anh ta. Lần đầu tiên tôi bỗng dưng muốn nói chuyện với anh ta.
“Anh có sợ cái chết không, Jerome?” Anh ta nhìn tôi, dù cái kiểu câu hỏi này có thể khiến người ta ngạc nhiên nhưng tôi chắc anh ta thì không.
“Tôi sợ cô ấy sẽ không bình phục kịp. Đấy mới là cái tôi sợ. Chúng ta đã phản ứng kịp thời, tôi cảm thấy là bệnh có thể được kìm lại. Nhưng ở trong này mỗi phút trôi qua thì nguy cơ ai đó sẽ không trụ được nữa lại tăng lên. Nhìn thấy bệnh nhân, nhân viên ở đây ra đi, rồi đến hôm sau mới biết được cách chữa loại virus này, đấy là điều tôi sợ.”
“Cách ly vẫn không đủ sao?”
“Cách ly là biện pháp đúng đắn, được thực hiện càng sớm và trên diện càng rộng thì càng tốt.”
Râu đỏ xoay cái khẩu trang trong tay, trầm ngâm: “Ở Việt Nam, chúng ta đã truyền đi được thông điệp này. Về virus thì chỉ có thể đưa ra các giả thuyết. Cho đến bây giờ số liệu cho thấy virus không đến mức báo động.” Đúng lúc đó Corinne vào. “Cô ấy thế nào rồi?” Jerome hỏi cô. Corinne lắc đầu, môi bặm lại, cô đến ngồi xuống trước mặt Râu đỏ rồi cứ tiếp tục lắc đầu như thế. Vài giọt nước mắt chảy dài trên gương mặt cô. Râu đỏ nắm lấy hai tay cô với vẻ che chở. “Tôi không biết có tiếp tục được không nữa, Jerome, nhìn thấy Nga ra đi thế này chân tôi nhũn cả ra rồi.” Tất cả đều im lặng. Trong khoảnh khắc ấy mọi thứ đều bất động “Em có nhớ đã nói gì với anh ở Kenya, trong trại tị nạn kinh khủng đấy không. Tên nó là gì ý nhỉ?” “Dabaad”. “Phải rồi, đúng chỗ đấy đấy. Em nhớ không hả Corinne? Em đã nhớ đã nói gì khi anh hỏi có bao giờ em khóc không?” Cô ngẩng đầu lên, như thể đang quay ngược lại những ký ức ấy. Cô xì mũi, lấy khăn lau nước mắt: “Em đã bảo anh rằng những gì chúng ta thấy trước mắt đáng để khóc lắm, mọi thứ ở cái chỗ đấy đều đáng để khóc cả. Nhưng dù đôi khi em có thể khóc, và em đã khóc, Chúa biết em đã bật khóc đến bao nhiêu lần, thì sau đấy chúng ta có nghĩa vụ phải lau khô nước mắt thật nhanh, để không đem nỗi buồn của mình chồng chất lên sự chịu đựng của những con người tội nghiệp ở đấy. Rằng Chúa đã trao cho chúng ta vai trò này, đặc quyền này và chúng ta phải chứng minh mình xứng đáng với nghĩa vụ được giao”. “Chính xác, anh nghĩ là em vừa nhắc lại đúng những lời đã nói với anh hôm đó. Và anh đã trả lời em... nhớ không Corinne? Rằng chúng ta sẽ làm được, và chúng ta đã làm được. Ở đây cũng sẽ như thế. Chúng ta sẽ vượt qua được”. Corinne có vẻ như đã xốc lại được tinh thần. “Chúa phù hộ cho chúng ta”. Cô đứng dậy, lại gần nhìn vào màn hình rồi với cái vẻ ân cần của mình, cô quan tâm kéo tôi cùng tham gia vào câu chuyện hai người đang nói, Corinne hỏi tôi có tin vào Chúa không.
Tôi nhìn cô, cô ấy vẫn đang lau nước mắt. “Tôi chưa bao giờ cảm thấy mình cần phải thuộc về nhà thờ hay tuyên bố mình vô thần. Tôi không đi lễ, không theo nghi lễ hay giới luật nào. Tôi tự thiết lập một quan hệ riêng giữa mình với số phận, theo một nghĩa nào đấy thì đấy chính là tôn giáo của tôi. Tôi không thắc mắc sau khi chết chuyện gì sẽ xảy ra, còn về những chuyện xảy ra trên Trái đất này tôi không tin đều là do con người gây ra.” Cả hai người chăm chú nhìn tôi.“Tôi không biết trả lời như thế có rõ không, nhưng đấy chính là điều mà tôi cảm thấy”.
“Rõ”, Râu đỏ đáp, “câu trả lời cũng nói lên rất rõ anh là người thế nào”. Tôi nhìn anh ta nhưng không nắm được ý anh ta định nói gì, có lẽ là lại định tấn công tôi. Tôi không muốn anh ta lại giở cái chuyện với Quỳnh ra nói lại ở đây; tôi nhìn Corinne như cố dùng ánh mắt mình van vỉ cô ấy nói về mình hay bất cứ chuyện gì khác để tránh việc đấy. Và cô ấy cất lời “Tôi thì lại coi đức tin là tất cả, về bản chất y học cũng là một đức tin. Khi các đồng nghiệp phản đối tôi bằng các luận điệu khoa học, tôi trả lời chính đức tin đã khiến y học là một khoa học. Đấy chính là sức mạnh mà Jerome nói đến khi nãy. Sức mạnh ấy hỗ trợ tôi, tiếp sức cho tôi mỗi khi tôi thấy mình trở nên yếu đuối.” Lại thêm một khoảnh khắc lặng im, mọi thứ bất động. Tôi nghĩ về điều Corinne nói, về lựa chọn của những người như cô ấy. Rồi tôi lại nghĩ tới nửa tối của thế giới này, tôi không phân biệt được nó nữa, không tách nó ra được nữa; hai nửa đấy đối trọng với nhau, nhưng không độc lập. Cứ xét đến những chuyện kia thì chẳng đúng là thế sao. Một kẻ như Wang đang ở trong này, mạng sống của hắn giờ đây đang phụ thuộc vào sự cống hiến, hy sinh của những người như hai bác sĩ đang đứng trước mặt tôi đây. Quả là một nghịch lý: đường đi, cuộc đời của những con người khác biệt lại trộn vào nhau, chồng lên nhau cho đến khi lẫn vào nhau và khiến nguồn căn mỗi chuyện riêng lẻ đều trở nên mờ nhạt.
“Nhưng làm sao anh chị có thể...” Giọng tôi vụt vang lên như thể chính những suy nghĩ của tôi đang cất lên thành lời nói. Râu đỏ và Corinne nhìn tôi chờ nốt những lời còn lại. Tôi hiểu mình không thể nói thật những điều mình đang nghĩ, nhưng bây giờ tôi đã lỡ bắt đầu nên sẽ bắt buộc phải nói ra điều gì đấy.
“Ý tôi là, những bác sĩ như hai anh chị, đang ở trong này hay ở bao nhiêu chỗ khác nữa, đang hàng ngày mạo hiểm mạng sống của mình... làm sao có thể chung hòa sự cống hiến hết mình đấy với lựa chọn của những người khác muốn gây ảnh hưởng thao túng y tế và ngành dược? Các anh chị làm thế nào trước những người nhét vào túi mình những nguồn lợi khổng lồ thu được từ sự ốm đau nhưng đồng thời lại bỏ mặc những người khác chỉ đơn giản vì không kiếm chác được gì.” Râu đỏ cười mỉa mai: “Rõ là anh chỉ quen đi lại giữa các khách sạn năm sao và những phòng họp có trang bị điều hòa nhiệt độ. Phải rồi, như thế thì dễ đưa ra những nhận định ân cần cao quý hơn nhiều. Tôi dám thề là anh chưa từng nhỏ một giọt mồ hôi nào khi đi tìm hiểu những nước đang phát triển vì chỉ biết di chuyển từ phòng VIP trong các sân bay lên thẳng các xe hai cầu cửa sổ dán kính mờ để đi vào thành phố... ” “Jerome, em nghĩ Jo không muốn...” Corinne thử bênh vực tôi nhưng Râu đỏ đã cắt lời cô: “Tất nhiên rồi Corinne, anh ta đâu định giảng giải hay dạy đời ở đây. Nhưng để anh kể cho anh ta một chuyện mà chắc chắn anh ta chưa hề nghe đâu, chắc là nó sẽ có tính giáo dục cho một người như anh ta đấy”.
Râu đỏ lại có cái nhìn rực lửa, có vẻ như tôi không thể tìm nổi một kênh để hòa hợp được với anh ta. “Carlo, người bác sĩ mà tôi kể với anh, người mà nếu chúng ta thoát được khỏi căn bệnh SARS này thì chính là nhờ anh ta. Carlo đã từng đến cái địa ngục Dabaad kia với tư cách là một bác sĩ chuyên về các bệnh truyền nhiễm. Nói đơn giản là anh ấy chuyên về giun sán, những loại giun sán kinh khủng lớn lên trong bụng anh và có thể dài đến hàng mét. Carlo cố chữa bệnh sán máng. Cái tên đấy chắc chẳng có ý nghĩa gì với anh, nhưng chính là một chứng bệnh do một loại sán rất nguy hiểm gây ra. Nó từ sông bám vào người, chui qua da, đi theo đường máu đến ruột. Ở đấy nó bắt đầu làm vỡ các tĩnh mạch trong ổ bụng. Bệnh nhân sẽ bị đau bụng kinh niên, đi ngoài ra phân có lẫn máu và chất nhờn, bụng trương lên vì lá lách và gan phình to ra trước khi bị chảy máu đến chết. Chỉ riêng ở châu Phi đã có đến năm mươi triệu người chết vì bệnh này. Thế nhưng anh có biết làm thế nào để trị loại sán đó không? Một thứ thuốc tên là Praziquantel, đơn giản, bình thường, và rất rẻ. Nhưng ở Dabaad cũng như ở hàng loạt những nơi địa ngục trần gian như thế, nơi những người bệnh cần thì lại không có thuốc đấy. Theo anh thì Carlo phải làm gì? Vò đầu bứt tóc vì Big Pharma không chịu bán Praziquantel ở Kenya ư? Bỏ nghề vì một thử thách không vượt qua được ư? Không! Anh ấy đã chiến đấu với những đầu óc quan liêu ở hội sở, viết thư, giải thích, cương quyết theo đuổi, xin xỏ bọn họ gửi thuốc đến cho anh ấy. Kết quả là khi bác sĩ kế nhiệm đến thay cho anh ấy ở Dabaad thì đã có đến mười thùng thuốc Praziquantel ở đấy.”
Tôi gật đầu, Râu đỏ có vẻ bình tĩnh lại. “Anh có biết một gói muối bổ sung có thể cứu bọn trẻ con bị tiêu chảy khỏi chết vì mất nước giá bao nhiêu tiền không? Hai mươi xen. Chúng tôi cũng từng chất vấn chuyện thị trường với những người mua có điều kiện hơn đã khiến giá cả bị sai lệch chứ. Nhưng lúc đó những người dân rất cần nên điều duy nhất chúng tôi nghĩ tới là tìm cách mua được loại thuốc đó. Đấy, chúng tôi làm như thế đấy”. Tôi không muốn tranh cãi thêm với Râu đỏ, thật ra anh ta nghĩ thế cũng có lý.
“Em lên xem Nga thế nào”. Corinne ra khỏi phòng với nhịp chân nhẹ nhàng, đều đặn của cô. Tôi liếc sang phía Râu đỏ, anh ấy vẫn đang ở nguyên tư thế cũ, nhíu mày trầm ngâm. “Anh có biết tỷ lệ tiền dùng để nghiên cứu năm căn bệnh gây nên số lượng tử vong cao nhất trên thế giới chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng nguồn lực được huy động để làm nghiên cứu trên thế giới không? 0,3%. Không-phẩy-ba-phần-trăm! Anh nghĩ là tôi không điên tiết vì chuyện ở Nairobi người nhiễm HIV dương tính bị gửi về nhà vì không thể chữa cho họ do không có bản quyền thuốc à. Hay cả triệu cái chết vì bệnh lao do theo đánh giá của nền công nghiệp dược thì chỉ một phần nhỏ, quá nhỏ là có tiền để mua được thuốc, và vì thế thuốc không được sản xuất. Ngành công nghiệp ấy được bảo vệ bởi các bản quyền, có cơ sở ở những nơi mà bệnh lao chỉ còn là một ký ức từ những thuở xa xưa. Bản quyền sáng chế được coi như quyền được bảo hộ của những thiên tài đã nghĩ ra, của những thử nghiệm, của các khoản đầu tư. Phải, tất thảy những điều ấy đều đáng được tôn trọng, nhưng khi trở thành những rào cản không thể vượt qua với những người khốn khổ kia thì những điều ấy lại trở thành vũ khí giết họ.
Tôi điên tiết lắm chứ, nhưng rồi tôi chỉ biết đeo khẩu trang lên rồi đi xem bệnh nhân của mình thế nào, bọn họ thậm chí còn không có được may mắn hay sức mạnh để đứng lên làm điều gì có ích”.
Râu đỏ quay ra nhìn mấy tấm phim treo trên bảng. Tôi những muốn nói cho anh ta biết việc tôi ở đây, nơi anh ta đang cố thực hiện nhiệm vụ của mình chính là vì có kẻ đã reo rắc những thứ chết người này. Chính là kẻ mà anh ta đang điều trị cho và không khéo sẽ cứu sống hắn. Rồi hắn sẽ ra khỏi đây, đào sâu thêm cái hố phân cách giữa nhu cầu của một số rất nhiều người và lợi nhuận của một số rất ít khác.
Tôi những muốn chia sẻ rằng những điều tôi nói mà anh ta tưởng được rút ra từ những phòng họp sang trọng thật ra lại là từ những chỗ gần với anh ta hơn nhiều, từ chỗ tôi chìm sâu dưới làn nước đục ngầu, từ những suy nghĩ đã bùng lên xui khiến tôi ở lại trong bệnh viện, từ việc lơ lửng giữa hai nửa trái ngược, không thể dung hòa... Tôi những muốn nói với anh ta rằng chưa bao giờ tôi lại cảm nhận được rõ ràng và điên rồ đến thế mâu thuẫn giữa 99% và 1% kia... Tôi muốn nói cho anh ta biết trong căn phòng này của bệnh viện sự trớ trêu của cuộc đời đã đặt cạnh nhau hai người đàn ông thuộc hai thế giới khác biệt, đối lập, xa cách... Và rằng dù sao thì tôi cũng hiểu anh ta.
Đến khi tôi cũng ngoảnh ra nhìn những tấm phim trên bảng, Râu đỏ đứng lên với cái vẻ thô bạo ra ý cuộc nói chuyện của chúng tôi đến đây là kết thúc. Khi hướng ra phía cửa chuẩn bị đeo khẩu trang vào, anh ta nhìn tôi vẻ thách thức. “Còn với câu hỏi kia của anh thì câu trả lời là không. Tôi không sợ cái chết. Ngược lại là đằng khác... Anh biết những cú lên đỉnh điên rồ, cái khoảnh khắc đôi khi ta chia sẻ với một người đàn bà không? Khi mọi thứ bỗng nhiên biến thành nguồn ánh sáng? Cái chết với tôi là thế đấy? Một cú làm tình tuyệt diệu với cuộc đời”.