Jo đã ở lì trong nhà, tê liệt và thờ ơ với mọi chuyện trong suốt một thời gian, hệt như một người suýt chết đuối được kéo lên khỏi làn nước lạnh buốt rồi được cuộn lại trong một tấm chăn ấm áp nên không muốn rời ra nữa.
Mỗi khi tuột tấm chăn khỏi người anh lại theo một lịch trình tẻ nhạt, lần nào cũng như lần nào. Làm sao để không có bất ngờ gì, cũng như không có thay đổi gì trong lịch trình ấy. Thời gian đấy với Jo là để phục hồi với cách điều trị anh đề ra là đặt cho mình một thói quen. Bất cứ cử chỉ, một hành động nào sẽ dẫn đến một cử chỉ tiếp theo đã được lập trình trước và cứ như thế. Giống như việc dùng thuốc cứ đến những giờ nhất định là phải uống. Không đích đến, không mục tiêu gì ngoài việc sắp xếp lịch trình hàng ngày để nó cứ thế trôi qua.
Anh viết cho Corrine và Jerome một lá thư để giải thích việc mình đột ngột rời bệnh viện. Rằng anh không ở lại thêm được. Anh đã cảm thấy ốm sau khi được Corrine khám và đã hoảng sợ đến mức quyết định rời bệnh viện. Sau khi ra khỏi đấy anh không còn muốn quay lại nữa và vì visa cũng đã hết hạn nên anh đã ra khỏi Việt Nam ngay lập tức. Anh cũng thông báo cho nhân viên phòng thương mại của Đại sứ quán Séc ở Hà Nội rằng anh đã rời khỏi Việt Nam sau khi kết thúc thời gian công tác ở đó. Cảm ơn anh ta đã cung cấp những đầu mối liên lạc hết sức có giá trị.
Xong đâu đấy Jo từ chối tất cả các lời mời có thể khiến anh phải đến các nước khác. Kiên nhẫn từ chối tất cả các đề nghị muốn anh đổi ý và lần nào cũng cố gắng dùng một con số ấn tượng để cố thuyết phục anh. Trong hoàn cảnh lúc đấy anh cảm thấy chỉ có thể sống ngày qua ngày ở chính thành phố này, nơi anh đã có bước nhảy vọt đầu tiên trong đời và bây giờ lại đang trở thành nơi trú ẩn cho anh.
Điều mà Jo cảm thấy anh thực sự cần lúc đó là một cuộc sống có phương pháp và có kỉ luật. Và để dựng lên cho mình cách sống đó anh nghĩ có lẽ cũng đã đến lúc phải sửa lại ngôi biệt thự cho phù hợp với vai trò mới là nơi trú ẩn của nó.
Ngôi biệt thự là vụ đầu tư đầu tiên của anh, một vụ mua bán rất hời mà anh có được thông qua một công ty bất động sản. Lần ấy Jo đã có những thành tích xuất sắc cho công ty của mình. Thế nên đến một hôm giám đốc đã gọi anh ra và nói có một món quà để tặng cho anh. “Và không, anh không cần phải cảm ơn đâu, chỉ là một món quà nhỏ thôi mà”. Nhưng sau đó người thanh niên trẻ đã cực kỳ ngỡ ngàng khi nghe người giám đốc nói về một biệt thự trên đỉnh một quả đồi, ở một nơi rất đẹp chứ không phải đang nói về một ngôi nhà ở ngay gần đấy. Lúc đấy cả hai đang ở New York. Ông giám đốc thông báo đấy chính là một ngôi biệt thự trong thành phố nơi anh đã học. Không chỉ thế, nó còn nằm tại một quận giàu có, nơi mà trong suốt thời đi học, khi người sinh viên trẻ vẫn đi qua khi anh leo lên khu rừng trên đỉnh đồi để chiêm ngưỡng khung cảnh lung linh của thành phố dù chỉ trong vài phút. Thế mà một biệt thự như thế đã chuẩn bị là của anh. Anh có thể mua nó với một giá rẻ mạt. Những chi tiết khác thì người giám đốc không hề nhắc đến.
Ngôi nhà đấy với anh đã trở thành một giải thưởng xổ số đặc biệt. Ở cái thời điểm ký hợp đồng anh đã từng cảm thấy như thế. Nhưng sau đấy anh chưa bao giờ yêu ngôi nhà đó cả. Biệt thự nằm trên đỉnh quả đồi Dolder, từ đó có thể nhìn thấp thoáng thấy hồ và những ngọn đồi bên cạnh trong những ngày đẹp trời. Một ngôi biệt thự cổ và ở phía trong người ta nghe thấy những tiếng rên rỉ, cót két như thể những bức tường đều tham gia vào dàn đồng ca của linh hồn nào đó còn sót lại. Sau này mỗi khi Jo có dịp công tác qua Zurich, anh chỉ ngủ lại đấy một, hai đêm. Và lần nào cũng thế, những bức tường trong ngôi biệt thự lại truyền đến cho anh một cảm giác bi thảm, những dấu ấn đau khổ còn đọng lại trên tường như những mảnh giấy dán tường cũ kĩ còn sót lại.
Căn phòng duy nhất không bị ám cái mùi cũ kỹ và cảm giác bi thảm đó là trên gác. Có vẻ như chưa ai từng ở đó. Jo quyết định nơi ấy sẽ là nơi trú ẩn của anh. Jo xây thêm một gác lửng và thay cái lỗ nhỏ lấy sáng bằng một cửa sổ rất rộng để từ đó anh có thể ngắm nhìn toàn bộ khung cảnh trên hồ. Sau rất nhiều những cuộc thảo luận, tranh cãi với kiến trúc sư, Jo đã thuyết phục được anh ta tận dụng phía đất dốc ở đằng sau để xây thêm một cầu thang dẫn thẳng lên gác, như thế anh có thể lên chỗ trú ẩn của mình mà không phải đi qua cổng chính. Những phần còn lại của biệt thự thì Jo không hề động đến, cho dù kiến trúc sư cứ mỗi lần gặp lại kêu ca phàn nàn với anh rằng như thế chẳng khác gì một người phụ nữ sau khi đã làm đầu, uốn tóc, trang điểm cẩn thận lại mặc một bộ quần áo và xỏ dép lê để ra ngoài đi chơi.
Nhưng với Jo thì như thế là được. Anh đã trả lời kiến trúc sư như thế mỗi lần anh ta phàn nàn. Jo chưa từng tiếp khách ở nhà và hoàn toàn không có ý định sẽ tiếp khách một dịp nào đó trong tương lai.
Trên căn gác lửng, mái nhà chéo xuống chỉ vừa đủ để Jo đứng thẳng. Cái giường và cái bàn nhỏ được đặt ngay trước cửa sổ là tất cả những gì anh cần.
Anh đã tìm ra cho mình không gian sống ở đúng cái nơi mà anh cảm thấy được che chở nhất. Nó sẽ che chở anh khỏi thế giới bên ngoài. Và nơi ấy đã lập tức khiến Jo cảm thấy yên tâm hơn. Cái mà trong mắt kiến trúc sư có vẻ là một dự án vô nghĩa thì với anh lại đáp ứng nhu cầu cảm thấy mình đang được neo chắc vào một bến đỗ, giúp anh tìm lại được nguồn sức mạnh cội rễ của mình.
Một nơi để có thể kiên nhẫn chờ đợi thời gian trôi qua.
Và thời gian, như một người bạn đồng hành tử tế, cứ trôi dần đi theo mong muốn của Jo.