Thời gian dường như trôi quá nhanh ở Zurich khi tôi học đại học tại FIT, tựa như tôi không bao giờ có đủ thời gian.
Tôi đọc ngấu nghiến sách, ngón tay tôi lướt nhàu những trang sách, trên từng dòng chữ như thể người mù đọc chữ. Tôi có thói quen như thế với những cuốn sách tôi học, sờ vào sách, tóm chặt nó, để lại vô số những dấu vân tay trên trang sách. Tựa như tôi muốn bù lại tất cả những lần ở thư viện tu viện St. Gallen, nơi tôi chỉ ngắm mà không dám động vào chúng.
Những lúc hiếm hoi mà tôi cho phép mình ngừng học, tôi thường đến ngồi trên bậc thang ở quảng trường Bellevue nhìn thẳng ra đoạn dòng Lumma chảy vào hồ, ngắm vẻ thản nhiên của vịt và thiên nga, rồi sau đó, giống như một mảnh kim loại bị nam châm hút không cưỡng được, tôi đi tiếp đến Bahnhofstrasse, nơi những ánh đèn chiếu lung linh, nơi cửa kính của các hàng hiệu và những biển đồng oai vệ của các ngân hàng Thụy Sĩ sáng bóng lên.
Trong những khoảnh khắc đó, tâm trí tôi giống như một con ngựa được buông lỏng dây cương, phi nước kiệu vào tương lai. Tôi thả cho mình trôi đến với những hình ảnh và tưởng tượng hấp dẫn.
Sau cái cổ kiêu sa của con thiên nga, tôi mơ thấy mình trở thành một doanh nhân đẳng cấp, đi trước mọi người tìm ra giải pháp bảo vệ nguồn vốn lớn, chuyển đầu tư từ nước này sang nước khác, với tấm bản đồ đầy những số hiệu, lãi suất, phần trăm đánh dấu trên từng nước thay vì các đường địa lý.
Ánh phản chiếu của bản đồ trang sức và đá quý bày sau cửa kính an toàn mê hoặc tôi, làm tôi lóa mắt và đưa tôi bay đến các vùng lãnh thổ mà chính phủ đang tìm cách làm giàu bằng các khoáng sản ẩn dưới lòng đất.
Họ làm thế nào trong các cuộc họp hội đồng quản trị của các công ty đa quốc gia? Những Ban giám đốc quyền lực của thế giới, với những người đàn ông tham lam, ranh ma bàn cãi như thế nào về các nguồn lực, vượt thế nào qua các ranh giới?
Chị có theo được những gì tôi nói không?
CÓ CHỨ. ANH CỨ NÓI TIẾP ĐI.
Tuy nhiên óc tưởng tượng của tôi chỉ vươn được đến bên ngoài cách cửa những phòng họp ấy, tâm trí tôi không mơ được thêm. Điều đấy làm tôi bứt rứt, khao khát biết thêm đến không thể nhịn được. Tôi lao đầu vào học và suy ngẫm. Cứ mỗi lần quay về thực tại trong căn phòng sinh viên của mình, tôi lại tự hỏi làm sao để mở được cho mình những cánh cửa ấy.
Các môn học không trả lời được điều ấy mà chỉ làm cho tôi muốn được hiểu biết nhiều hơn. Có những điều tất cả các cuốn giáo trình đều không dạy nổi mà tôi thì khao khát khám phá ra chúng một cách nhanh nhất có thể.
Nỗi ám ảnh ấy luôn hiển hiện.
Tiền chẳng hạn. Tiền được tạo ra thế nào. Sách vở bảo tiền do các Ngân hàng Trung ương quản lý, nhưng không chỉ có vậy.
Một tối, khi chơi poker với nhau, một cậu bạn sinh viên đã kể cho tôi chuyện cậu ấy chơi ở Chicago trong một kỳ nghỉ. Tối hôm đó cậu gặp may nhưng cái tay thua to lại không có tiền mặt mà cũng không có séc. Tay đấy chỉ viết số nợ lên tờ giấy - hàng nghìn đô - viết thêm số chứng minh thư và ký tên rồi bảo cậu sinh viên “mang cái này ra ngân hàng rút tiền”. Lúc đó cậu bạn tôi không tin, nhưng những người chơi khác đều đồng ý và quả thật sau đó cậu ta lấy được tiền. Tôi ấn tượng với chuyện đấy, tựa như một ánh sáng lóe lên và sáng rực kể cả khi tôi nhắm mắt. Và tôi giữ trong đầu cái ý tưởng về việc lấy được tiền bằng những cách không ghi trong sách giáo khoa.
Tôi thích kinh tế ngay khi vừa học thử, và tôi đã không rời bỏ nó nữa.
Đến kỳ thi môn thống kê, tôi quyết định phân tích một mô hình về tỷ lệ phân bổ của cải trên toàn cầu. Thầy tôi thì nhăn mặt vì ông cho đấy là một phân tích dựa trên quá nhiều những thông số bất định và không phù hợp với đặc thù của môn thống kê, nhưng vẫn để tôi làm.
Với tôi thì công trình ấy giống như kê thêm một bậc thang để lên đỉnh cao trên trời kia. Mô hình đó chia dân số thành bốn loại. Những kẻ khốn cùng, sống trong nghèo khổ, thu nhập chỉ đủ ăn để tồn tại là loại đông nhất. Rồi đến những kẻ chật vật, loay hoay thoát được ra khỏi cảnh nghèo, phần nào ngẩng được mặt lên khỏi những khó khăn vây tỏa họ trước đây, dễ thở hơn.
Loại thứ ba gồm những kẻ tranh đấu, đã đạt được một mức thu nhập nhất định và nếu chăm chỉ làm việc thì sống được dư dả. Và cuối cùng là những kẻ đứng đầu, sống thoải mái với mức hưởng thụ cao. Khi phân chia các con số để tính tỷ trọng phần trăm dân số toàn cầu, bốn loại đấy đạt được 99%.
99%.
Qua môn đấy, mô hình đã làm vẫn bám theo tôi, dai dẳng như một cái bóng.
Các con số và tính toán là tương đối, nhưng tôi đã làm đi làm lại nhiều lần, áp dụng các cách tính khác nhau để thấy kết quả cuối cùng chỉ lệch đi không đáng kể.
Một điều bí ẩn không rõ thôi thúc tôi thử đi thử lại với các con số đấy trong hàng đêm dài, một lực hấp dẫn dần dần thành hình nối tôi với các giả định, tính toán, suy luận ấy.
Mỗi khi rời khỏi các con số, tôi lại thấy mình nghĩ về phần trăm ấy.
Không phải về 99%, mà là 1% còn lại. 1% còn lại mê hoặc tôi, cái phần bé nhỏ thoát ra khỏi các tính toán của tôi, cái phần tôi không thể hình dung ra nhưng lại đeo bám dai dẳng trong đầu tôi. 1% đấy chắc phải là số ít vẫn di chuyển bằng phản lực riêng và chuyển các khoản vốn khổng lồ cũng bằng tốc độ máy bay ấy chứ. 1% đấy của những người mà sự giàu có của họ thì 99% còn lại thậm chí không tưởng tượng ra nổi. Những vị thần Olympia trần thế.
Mô hình của tôi được xây dựng bằng các chỉ số phức tạp, tính đến cả yếu tố chính trị - địa lý, thế nhưng 1% đấy vẫn lẩn đi được. Nó là gì, nó nằm ở đâu? Nó lấp ló trong trí tưởng tượng của tôi, như một điểm phải đến được.
Thế giới ấy, vùng Eden không vào được ấy dường như được những vị thần bảo vệ, cái vùng chỉ hiện ra lờ mờ sau các tính toán thống kê, nó cũng phải có cửa vào chứ. Phải có cách xâm nhập vào thế giới đấy.
Tôi muốn tìm được một lối vào bằng bất cứ giá nào, muốn biết bằng bất cứ giá nào. Biết tất cả chứ không để bị chặn lại ngoài cửa như trí tưởng tượng của tôi mỗi khi mon men đến gần với những phòng họp quyền lực.
Tôi phải vào được đấy, phải có một chỗ ngồi ở những bàn họp đấy. Và có một phần trong chỗ của cải kia.
Cái tôi muốn là của cải thật. Không phải vinh quang, không phải để được công nhận, không phải để nổi tiếng. Ngược lại là khác, tôi thấy thoải mái hơn khi ẩn mình.
Nhưng tôi muốn là một phần của thế giới ấy, của cái câu lạc bộ cao quý ấy. Tôi biết đó không phải loại câu lạc bộ với thẻ thành viên nhưng chắc chắn là một câu lạc bộ cực kỳ khắt khe, hạn chế với một nhóm nhỏ thoát lọt khỏi mô hình thống kê của tôi. Nơi trước sau gì tôi sẽ phải vào được.
Câu lạc bộ 1%, từ lúc đấy tôi bắt đầu gọi nó như thế.