Phải rồi, thế giới này... trong căn phòng của tôi, khi quả địa cầu dừng vòng xoay ở Rosenberg, có vẻ như thế giới đã để dành cho tôi chỗ đấy.
Hội đồng nhà trường đã bầu tôi là học sinh xuất sắc nhất khóa tốt nghiệp, và tin rằng trí tuệ của tôi sẽ làm được những điều tuyệt vời trong lĩnh vực nghiên cứu hay giảng dạy. Tôi được một học bổng 3 năm nhờ kết quả ấy và vì bản thân tôi không đề xuất ý kiến gì về việc chọn ngành, nên tôi đã được thử rất nhiều bài kiểm tra để xem mình có năng khiếu ở lĩnh vực nào.
Hoàn cảnh của tôi thậm chí còn không có gia đình bên cạnh để xin ý kiến. Ông bà tôi lúc đó đã qua đời, người thân duy nhất còn lại là bác Ania, chị cả của mẹ tôi. Bác đi cùng con gái, chị Anna đến thăm tôi ở St. Gallen, vì tôi cương quyết không chịu về Geneva trong suốt những kỳ nghỉ dài cuối tuần của trường nội trú. Ở trường, học sinh thường về nhà nghỉ vào Noel và dịp hè để nhà trường tranh thủ sửa lại những chỗ hỏng hóc. Tôi không những không bận tâm gì chuyện ở lại một mình khi các bạn học khác đều về nhà mà còn thấy nhẹ nhõm, cảm giác như khi những vị khách lưu lại quá lâu cuối cùng cũng rời đi để tôi được một mình hưởng trọn căn nhà.
14 tuổi tôi được phép đi vào thành phố một mình. Những ngày Chủ nhật tôi thường xuống bậc thang dài bên ngoài trường dẫn xuống ga, và sau một vòng dạo các phố trung tâm tôi lại ghé vào thư viện nằm bên trong tu viện. Tôi chưa bao giờ thấy nhiều sách thế, tất cả xếp thành hàng theo thứ tự, tự hào phô ra những tên sách mạ vàng hoặc bạc như những người lính kiêu hãnh phô ra những tấm huy chương trên ngực trong một cuộc duyệt binh.
Những căn phòng trong thư viện giữa các cột và mái vòm với đầy ắp những cuốn sách chiếm mọi nơi, mọi góc luôn truyền cho tôi cảm giác lớn lao của kiến thức. Trong những căn phòng đó sự hiểu biết lan đầy đến từng ngóc ngách, chiếm lấy toàn không gian một cách tao nhã, tỏa từ trên cao xuống một sự bình yên phủ khắp vô cùng. Tôi ở đấy hàng giờ nhưng thường không giở trang sách nào, tôi gần như không dám chạm vào chúng, chỉ thưởng thức cái khung cảnh vừa thực lại vừa phi thực ấy.
Ra khỏi thư viện tôi thường hối hả leo ngược lại những bậc thang, thở hổn hển khi leo lên đến đỉnh đồi. Những hôm trời đẹp và trong trẻo tôi hay dừng chân ngắm Santis, đỉnh cao nhất của dãy Alpstein đồ sộ vươn lên ngay phía sau tòa nhà chính của trường. Lúc đấy tôi cũng luôn hướng mắt lên trời và có lẽ chính cái kiểu nghếch mặt lên chiêm ngưỡng những tầm cao và đỉnh núi đã góp phần vào việc hướng tâm trí tôi vào những dự án sau này tôi chọn ở đại học.
Trong những tháng ngày cô đơn ấy, tôi nhận ra kỷ luật và những quy định ở Rosenberg hợp với mình. Tôi thích thức dậy vào một giờ cố định, nghiêm túc thực hiện công việc đã đề ra, ngồi vào bàn với bộ đồng phục, được phục vụ ăn, nói chuyện với hội bạn học mà giờ tôi đã có kinh nghiệm để giữ chúng ở khoảng cách cần thiết. Sống một cuộc sống quy củ.
Thế đấy, quy củ là điều tôi thích nhất, và có lẽ là điều tích cực duy nhất xuyên qua được tấm vỏ bọc vô cảm đã phủ kín lấy tôi sau khi đã gắn lại chỗ xương gẫy trong tai nạn. Tôi cảm nhận được tình thương của bác Ania, bác luôn quan tâm đến tôi trong những năm tháng ấy, nhưng tình cảm của tôi chỉ là sự lễ độ. Giống như tôi lễ độ từ chối khi bác bắt tôi phải ngừng ở lì lại trong trường sau mỗi kỳ học.
Thật ra từ chối cũng không khó lắm, ngay sau khi dạy bảo tôi, những lời của bác bay đi rất nhanh tựa hồ như chính bác cũng không đặt nặng chuyện đó lắm. Bác vốn là người u sầu, nói ít và khi về già thì sức bác cạn kiệt rất nhanh. Khi quyết định việc học tiếp theo của tôi, bác không hề có ý kiến gì mà phó mặc cho hội đồng trường.
Bác mất một năm sau đó. Sau đám ma tôi có gặp lại chị Anna một vài lần, nhưng sau khi tôi rời khỏi Thụy Sĩ thì thôi hẳn. Chị em tôi vẫn viết thư cho nhau trong nhiều năm, những lá thư dài kể về cuộc sống của mỗi người.
Tôi vẫn luôn nghĩ đấy là cách cả hai chị em dù không nói ra bao giờ nhưng đều muốn lưu lại kí ức về bên ngoại mà mẹ tôi và mẹ chị để lại.
Hội đồng trường sau đó đã long trọng giới thiệu tôi vào viện Công nghệ Zurich – nơi các sinh viên vẫn gọi là FIT. Và tôi chấp nhận. Từ năm 1854, Viện đã rất nổi tiếng vì có các sinh viên sau khi tốt nghiệp đã đạt được nhiều đỉnh cao trong khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Cái tương lai học hành sáng lạn ấy không làm tôi phấn khích lắm nhưng tôi vẫn theo.
Tôi vẫn còn mắc trong kiểu sống phải thích nghi: với tai nạn đã tước đi của tôi gia đình, với quyết định đưa tôi đi học ở Rosenberg, với đám bạn phải đối phó, với những dự đoán của các giáo viên về tương lai của tôi.
Kịch bản và vai diễn đang hiện dần lên, nhưng vẫn chưa rõ ràng. Tôi còn phải lục lọi kỹ hơn trong cuộc đời tôi.