Yakov Kolodinsky - 7 tuổi
Hiện là giáo viên
Những trận bom đầu tiên.
Quân Đức bắt đầu đánh bom. Chúng tôi đẩy ra gốc anh đào ngoài vườn nào gối chăn, nào quần áo. Những cái gối to che giấu chúng tôi, chỉ có những cái chân là còn thò ra. Máy bay bay đi, chúng tôi lại đẩy tất cả vào nhà. Cứ thế vài lần trong ngày. Sau đó chúng tôi chẳng còn tiếc rẻ, mẹ chỉ lo bảo vệ chúng tôi, đám con của bà, những thứ còn lại thì vất hết.
Ngày hôm đó… Có lẽ câu chuyện của tôi ít nhiều bị ảnh hưởng bởi lời cha kể, nhưng nhiều chuyện chính tôi vẫn nhớ.
Buổi sáng, sương mù giăng khắp vườn. Người ta đã lùa bò ra đồng. Mẹ đánh thức tôi dậy và đưa cho cốc sữa ấm. Chúng tôi sắp ra đồng. Cha thì đang tán đinh cái hái.
- Volodia. - Bác hàng xóm gõ vào cửa sổ gọi cha.
Cha bước ra đường.
- Phải chạy nhanh lên. Bọn Đức đang cầm danh sách đi khắp làng. Kẻ nào đó đã ghi lại tên những người cộng sản. Chúng đã bắt cô giáo…
Hai người họ băng qua vườn vào rừng. Một lúc sau có hai tên Đức và một tên chỉ điểm đến nhà chúng tôi.
- Chủ nhà đâu?
- Đi cắt cỏ rồi. - Mẹ đáp.
Chúng đi khắp nhà khám xét, nhưng không động đến chúng tôi và bỏ đi.
Màu thanh thiên buổi sáng lẩn trong màn sương lạnh. Tôi và mẹ đứng nhìn sau cửa rào: Chúng đẩy một người hàng xóm ra đường và cả cô giáo… Chúng trói tay tất cả ra sau lưng và xếp hai người một hàng. Tôi chưa bao giờ thấy ai bị trói. Một cơn ớn lạnh chạy dọc người tôi. Mẹ đuổi tôi: “Đi vào nhà, mặc áo khoác vào”. Tôi đang mặc áo may ô, run rẩy vì lạnh, nhưng không chịu trở vào nhà.
Nhà chúng tôi nằm giữa làng. Chúng dồn hết mọi người về đây. Mọi thứ diễn ra rất nhanh. Những người bị trói đứng cúi đầu. Chúng đọc danh sách rồi giải họ ra sau làng. Nhiều người đàn ông và cả cô giáo.
Phụ nữ và trẻ con chạy theo họ. Chúng lùa họ đi rất nhanh. Chúng tôi tụt lại. Khi chạy tới kho chứa cuối cùng, chúng tôi nghe thấy những tiếng súng. Người ngã, người gượng đứng dậy. Chúng bắn nhanh rồi lên xe bỏ đi. Một tên Đức vòng mô tô lại, chạy quanh những xác người. Trong tay hắn là thứ gì đó nằng nặng. Hoặc là dùi cui, hoặc là tay quay khởi động chiếc mô tô, tôi không nhớ rõ lắm. Hắn không xuống xe, mà cho xe chạy chậm lại rồi đánh mạnh vào đầu những cái xác. Một tên khác muốn rút súng bắn nốt, nhưng tên này lắc đầu, kiểu không cần. Hắn chưa đi, cho đến khi đầu tất cả nứt toác ra. Những chiếc sọ vỡ toang như những quả bí mà cha tôi bổ bằng rìu, còn tôi chọn hạt.
Tôi sợ đến nỗi để mẹ đứng lại, và chạy đi đâu đó. Một mình. Tôi không trốn trong nhà, mà ra kho chứa, làm mẹ phải tìm tôi rất lâu. Suốt hai ngày trời tôi không thể thốt một lời. Không một từ nào.
Tôi sợ ra đường. Qua cửa sổ tôi thấy người mang ván tấm, người mang rìu, người xách xô trên tay. Người ta đẽo gọt các tấm ván, mùi gỗ tươi mới xẻ ở khắp mọi sân nhà, vì gần như nhà nào cũng có một quan tài. Cho đến bây giờ, mùi gỗ tươi vẫn luôn làm tôi nghẹn ngào. Đến tận ngày nay.
Trong quan tài là những người tôi quen biết. Không một ai còn đầu. Thay vào đó là khăn choàng trắng cùng những gì người ta còn nhặt được.
…Cha trở lại với hai người du kích. Buổi tối yên tĩnh, bò đã được lùa vào chuồng. Đến giờ đi ngủ, nhưng mẹ lại chuẩn bị cho cả nhà lên đường. Tôi còn hai em trai, một em bốn tuổi và một em mới chín tháng. Tôi là lớn nhất. Chúng tôi đi đến chỗ lò rèn, ở đó chúng tôi dừng lại. Cha ngoái lại nhìn. Tôi cũng ngoái lại. Ngôi làng đã không còn giống ngôi làng, mà như một cánh rừng đen xa lạ.
Mẹ tôi bồng em út trên tay, cha mang tay nải và bồng em giữa. Còn tôi cố chạy theo kịp họ. Người du kích trẻ nói: “Hãy để tôi cõng nó lên lưng”.
Anh mang súng và tôi…