Ghena Yushkevich -12 tuổi
Hiện là nhà báo
Buổi sáng ngày đầu tiên chiến tranh.
Mặt trời… Sự yên tĩnh bất thường, vẻ im lặng khó hiểu.
Bà hàng xóm chúng tôi, vợ một người lính, bước ra sân giàn giụa nước mắt. Bà thì thầm gì đó với mẹ tôi, nhưng lại ra dấu im lặng. Tất cả đều sợ nói lớn chuyện đang xảy ra, thậm chí cả khi mọi người đều biết, bởi ai đó đã kịp thông báo. Nhưng họ sợ bị gọi là những tên phản động. Những kẻ hoang mang. Mà chuyện đó còn đáng sợ hơn cả chiến tranh. Họ sợ… Đó là bây giờ tôi nghĩ thế. Và, dĩ nhiên, chẳng ai tin. Các người sao thế! Quân đội của chúng ta ở biên giới, lãnh đạo của chúng ta ở điện Kremlin! Đất nước được bảo vệ tin cậy, không kẻ thù nào có thể xâm phạm! Khi đó tôi đã nghĩ thế. Tôi là một đội viên.
Mọi người bật radio chờ bài phát biểu của Stalin[1]. Họ cần giọng nói của ông. Nhưng Stalin im lặng. Sau đó Molotov[2] phát biểu. Mọi người lắng nghe. Molotov thông báo: “Chiến tranh”. Dẫu thế vẫn chẳng ai tin. Stalin đâu rồi?
Những chiếc máy bay tràn vào thành phố. Hàng chục máy bay lạ. Với hình chữ thập. Chúng che phủ bầu trời, che phủ mặt trời. Thật đáng sợ! Bom rải xuống. Những tiếng nổ không ngừng. Đùng đoàng. Mọi thứ xảy ra như trong mơ. Không phải trong đời thực. Tôi đâu còn nhỏ nữa, tôi vẫn nhớ như in những cảm xúc của mình, nỗi sợ hãi của mình, bò lan ra khắp người. Khắp các từ ngữ. Khắp các ý nghĩ. Chúng tôi lao ra khỏi nhà, chạy tán loạn khắp các con đường. Tôi có cảm tưởng đây không còn là thành phố, đây chỉ còn những đống hoang tàn. Khói. Lửa. Ai đó nói: “Phải chạy ra nghĩa trang, chúng sẽ không đánh bom nghĩa địa. Đánh bom người chết làm gì?” Trong vùng chúng tôi có một nghĩa trang Do Thái lớn, với những hàng cổ thụ. Tất cả đều lao ra đó, cả ngàn người. Họ nấp sau các tảng đá, trốn sau các bia mộ.
Tôi và mẹ ngồi ngoài đó tới tận đêm. Xung quanh không một ai nhắc đến “chiến tranh” mà là từ khác - “khiêu khích”. Tất cả đều lặp đi lặp lại từ đó. Chúng tôi chỉ nói những câu chuyện kiểu như quân đội chúng ta sẽ chuyển sang tiến công. Stalin đã ra lệnh. Và tất cả đều tin vào điều đó.
Các nhà máy ở ngoại ô Minsk rúc còi cả đêm.
Những người chết đầu tiên…
Thứ chết chóc đầu tiên mà tôi thấy là một con ngựa. Tiếp đó là một người đàn bà. Điều đấy khiến tôi không khỏi kinh ngạc. Tôi đã tưởng trong chiến tranh người ta chỉ giết đàn ông.
Buổi sáng thức giấc tôi muốn nhổm dậy, nhưng sau chợt nhớ ra -chiến tranh, và tôi nhắm mắt lại. Không muốn tin.
Ngoài phố đã không còn tiếng súng. Mọi thứ bỗng dưng yên tĩnh. Được vài ngày. Và sau đó bắt đầu chuyển động. Chẳng hạn, một người đàn ông trắng phơ, trắng từ đầu tới chân, đi trong bụi bột. Vác trên mình bao bột trắng. Một người khác thì chạy. Tay ông ta lỉnh kỉnh đồ hộp, một số còn rơi ra khỏi túi ông ta. Và kẹo. Và những bao thuốc lá. Ai đó ôm trước ngực một chiếc mũ và một cái nồi đầy đường. Không thể tả được! Một người lăn cuộn vải, người khác quấn quanh người vải hoa xanh đỏ. Buồn cười, nhưng không ai cười. Kho thực phẩm của cửa hàng cạnh nhà chúng tôi bị trúng bom. Mọi người lao ra lấy sạch những gì còn lại. Ở nhà máy đường vài người đã chết đuối trong các thùng mật mía. Thật đáng sợ! Cả thành phố cắn hạt hướng dương. Người ta tìm thấy ở đâu đó một kho hạt. Tôi tận mắt nhìn thấy một phụ nữ chạy vào cửa hàng. Bà ta chẳng mang gì theo người, không bao tải, cũng chẳng túi lưới - bà ta cởi bộ áo liền quần ra, nhét đầy lúa mạch vào. Và lê nó đi. Tất cả những chuyện đó chẳng hiểu sao đều diễn ra trong im lặng. Vào những phút đó người ta không nói chuyện với nhau.
Khi tôi gọi mẹ, kho chỉ còn lại mù tạt, những lọ mù tạt vàng. “Đừng lấy gì hết”, mẹ khẩn khoản nói với tôi. Về sau bà thú nhận là bà xấu hổ, vì cả đời đã dạy tôi điều khác. Thậm chí cả khi chúng tôi đói và nhớ lại những ngày đó, chúng tôi cũng không nuối tiếc gì. Mẹ tôi là như vậy.
Trong thành phố, dọc các con đường, lính Đức thản nhiên dạo chơi. Họ quay phim. Họ cười. Trước chiến tranh, bọn trẻ chúng tôi có một trò ưa thích ở trường: Vẽ lính Đức. Chúng tôi vẽ họ với những chiếc răng nanh to tướng. Còn ở đây họ thung thăng. Trẻ, đẹp. Với những quả lựu đạn nhét ống bốt mới cứng. Họ chơi harmonica. Thậm chí còn đùa giỡn với những cô gái đẹp của chúng tôi.
Một người Đức già đẩy cái bao gì đó trông khá nặng. Ông ta gọi tôi lại và chỉ vào nó: Giúp với. Cái bao có hai tay cầm, tôi và ông ta nắm hai đầu khiêng đi. Khi mang nó tới nơi, ông người Đức vỗ vai tôi rồi lấy ra một bao thuốc. Kiểu, đấy, trả công.
Về tới nhà, không nhịn được, tôi xuống bếp châm thuốc. Tôi không nghe thấy tiếng cửa dập và mẹ bước vào:
- Con hút thuốc à?
- Ừmm…
- Thuốc của ai?
- Người Đức.
- Con hút thuốc của kẻ thù sao? Đó là phản bội Tổ quốc.
Đó là điếu thuốc đầu tiên và cuối cùng của tôi.
Một buổi tối nọ mẹ ngồi cạnh tôi:
- Mẹ không chịu nổi việc họ xuất hiện ở đây. Con hiểu mẹ không?
Mẹ muốn đấu tranh. Ngay từ những ngày đầu. Chúng tôi quyết định đi tìm những người hoạt động bí mật, chúng tôi không nghi ngờ gì là có họ. Chúng tôi không một phút nghi ngờ.
- Mẹ yêu con hơn tất thảy mọi thứ trên đời, - mẹ nói. - Nhưng con hiểu mẹ không, có tha lỗi cho mẹ không, nếu như có chuyện gì đó xảy ra với chúng ta?
Tôi yêu mẹ mình, khi đó tôi đã nghe bà mà không hề thắc mắc. Và vẫn như thế suốt cuộc đời này.
❀ ❀ ❀
[1] Iosif Vissarionovich Stalin (1879-1953): nhà cách mạng Nga gốc Gruzia, nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô, từ cuối thập niên 1920 ông nắm quyền tối cao ở Liên Xô qua các thời kỳ cho đến khi qua đời. (Tất cả chú thích trong sách là của người dịch).
[2] Vyacheslav Mikhailovich Molotov (1890-1986): ngoại trưởng Liên Xô, người ký Hiệp ước bất tương xâm giữa Đức và Liên Xô năm 1939 Molotov đã thông báo cuộc tấn công của Đức trên đài phát thanh Liên Xô vào 12 giờ trưa ngày 22-6-1941.