Yanya Chernina - 12 tuổi
Hiện là giáo viên
Một ngày bình thường. Ngày hôm ấy bắt đầu bình thường như mọi khi.
Nhưng khi tôi lên tàu điện, mọi người đã nói với nhau: “Kinh khủng quá! Kinh khủng quá!” - và tôi không sao hiểu chuyện gì đã xảy ra. Tôi chạy về nhà và thấy mẹ, bà đang nhào bột mà nước mắt tuôn rơi. Tôi hỏi: “Đã xảy ra chuyện gì?” Và bà nói: “Chiến tranh! Chúng đang đánh bom Minsk”. Chúng tôi vừa từ Minsk trở về Rostov, nơi chúng tôi đến thăm dì.
Ngày 1 tháng Chín chúng tôi tới trường, ngày 10 tháng Chín trường đóng cửa. Rostov bắt đầu di tản. Mẹ nói, chúng tôi cần lên đường, nhưng tôi không chịu: “Di tản là thế nào?” Tôi đến huyện đoàn và đề nghị được kết nạp khẩn cấp. Nhưng họ từ chối, bảo rằng chỉ kết nạp đoàn người từ mười bốn tuổi trở lên, còn tôi mới mười hai. Tôi đã nghĩ rằng nếu vào đoàn, tôi có thể tham gia tất cả mọi thứ, có thể ngay lập tức trưởng thành. Có thể ra mặt trận.
Tôi và mẹ len vào toa tàu. Chúng tôi mang theo một vali, trong vali có hai con búp bê: một lớn một nhỏ. Tôi nhớ, mẹ đã không cho tôi mang theo. Nhưng những con búp bê này đã cứu chúng tôi, chuyện này tôi sẽ kể sau.
Khi chúng tôi đến ga Kavkazkaya, đoàn tàu bị đánh bom. Chúng tôi leo lên một sân ga không mái che. Đi đâu, chúng tôi không rõ, chỉ biết là đi khỏi chiến tuyến. Khỏi các cuộc giao tranh. Mưa dội xuống, mẹ phải lấy người che cho tôi. Chúng tôi xuống ga Balakzhara gần Baku[1], ướt át và đen nhẻm vì khói tàu. Và đói. Trước chiến tranh chúng tôi sống tằn tiện, nhà chẳng có đồ đạc gì tốt để có thể mang ra chợ đổi bán, tôi và mẹ chỉ có mỗi hộ chiếu trong mình. Chúng tôi ngồi ở nhà ga và không biết nên làm thế nào. Nên đi đâu? Có một người lính, cũng không hẳn, là một cậu lính rất nhỏ, đen đúa, vác bị sau vai cùng chiếc cà mèn. Rõ ràng cậu vừa được nhận vào quân đội và đang lên đường ra chiến trường. Cậu ta dừng lại cạnh chúng tôi, tôi nép vào mẹ. Cậu ta hỏi:
- Bà đi đâu vậy?
Mẹ đáp:
- Không biết. Chúng tôi là người di tản.
Cậu ta nói tiếng Nga với chất giọng lơ lớ:
- Đừng sợ, hãy đi đến làng chỗ mẹ tôi đi. Ở chỗ chúng tôi, mọi người ra mặt trận cả rồi: Cha tôi, tôi, hai anh trai. Mẹ tôi ở nhà một mình. Hãy đến giúp bà ấy, hãy sống cùng nhau. Trở về tôi sẽ cưới con gái bà.
Cậu ta đọc địa chỉ, nhưng chẳng có gì để ghi, nên chúng tôi đành nhớ trong đầu: Ga Yevlakh, huyện Kah, làng Qom, Musayev Musa. Chúng tôi nhớ địa chỉ ấy suốt đời, mặc dù không tới đó. Có một phụ nữ độc thân đã nhận chúng tôi, bà sống trong một căn nhà tạm bằng ván ép, ở đó chỉ có một cái giường và một cái tủ nhỏ kế bên. Chúng tôi ngủ thế này: Đầu ở trên lối đi, còn chân thì để dưới gậm giường.
Chúng tôi gặp may với những người tốt bụng.
Tôi nhớ có một người lính đã tới chỗ mẹ, họ trò chuyện, và ông kể cả gia đình ông ở Krasnodar đã chết, còn ông ra mặt trận. Các đồng chí ông gọi ông quay ra xe, nhưng ông cứ đứng và không thể rời chúng tôi.
- Tôi thấy cô gặp nạn, hãy cho phép tôi để lại cho cô và cháu giấy chứng nhận quân nhân[2] của mình, tôi chẳng còn người thân nào hết. - Bỗng dưng ông nói những lời này.
Mẹ bắt đầu khóc. Còn tôi lại hiểu theo kiểu của mình, tôi bắt đầu la lối:
- Đang có chiến tranh và cả nhà ông thì chết, ông phải ra mặt trận trả thù bọn phát xít chứ. Sao ông lại yêu mẹ tôi. Sao ông không xấu hổ vậy!
Hai người họ đứng đó, nước mắt tràn mi, còn tôi thì không hiểu sao mẹ lại có thể nói chuyện với một người xấu xa như thế: Ông ta không muốn ra trận, ông ta chỉ nói về tình yêu, mà tình yêu chỉ có thể nói ở thời bình. Tại sao tôi lại cho rằng họ nói về tình yêu? Bởi câu chuyện chỉ nhắc đến giấy chứng nhận quân nhân của ông ta.
Tôi cũng muốn kể về Tashkent[3]. Tashkent - đó là cuộc chiến tranh của tôi. Chúng tôi sống ở chung cư nhà máy, nơi mẹ làm việc. Nó nằm ở trung tâm thành phố, họ cấp chỗ ở trong câu lạc bộ chung cư. Các gia đình sống trong phòng giải lao và phòng xem phim, còn trên sân khấu là những người “độc thân” - những công nhân có gia đình đi sơ tán hết. Tôi và mẹ ở trong một góc phòng xem phim.
Người ta cho chúng tôi phiếu nhận một pút[4] khoai tây, mẹ từ sáng đến tối làm việc ở nhà máy, nên tôi đi lãnh số khoai này. Hết nửa ngày trời tôi đứng xếp hàng, sau đó kéo lê bao khoai tây qua bốn, năm khu phố, vì tôi không khiêng nổi. Trẻ em không được đi các phương tiện giao thông công cộng vì đang có dịch cúm, và có lệnh cách ly. Lại đúng vào những ngày ấy. Xin cách nào họ cũng không cho tôi lên xe buýt. Khi chỉ còn cách một con đường ở phía trước chung cư, tôi đã không còn sức nữa. Tôi ôm lấy bao khoai tây và khóc nức nở. Những người xung quanh đã đến giúp - họ khênh cả tôi lẫn bao khoai tây về nhà. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ sức nặng đó. Mỗi khu nhà đó. Bỏ khoai tây thì tôi không đành, đó là sự cứu rỗi của chúng tôi. Tôi thà chết chứ không bỏ nó. Mẹ trở về từ chỗ làm, luôn đói run và xanh xao.
Chúng tôi đói, mẹ cũng gầy yếu như tôi. Ý nghĩ về việc phải giúp mẹ bám riết lấy tôi. Khi không còn gì để ăn, tôi quyết định bán cái chăn bông độc nhất của chúng tôi để lấy tiền mua bánh mì. Trẻ con không được phép buôn bán, nên tôi bị đưa vào đồn công an. Tôi ngồi ở đó cho đến khi người ta thông báo với mẹ tôi. Sau ca làm mẹ đến đưa tôi về, còn tôi nức nở vì xấu hổ và vì việc mẹ đói trong khi nhà không còn dẫu chỉ một mẩu bánh mì. Mẹ tôi bị hen phế quản, ban đêm bà ho rất dữ và ngạt thở. Bà cần được nuốt chút gì đó, như vậy sẽ đỡ hơn. Tôi luôn giấu dưới gối một mẩu bánh mì đen cho mẹ, mặc dù, tưởng là đã ngủ, nhưng tôi vẫn luôn nhớ dưới gối có một mẩu bánh mì, và tôi thèm kinh khủng.
Tôi lén mẹ đến nhà máy xin làm việc. Mà tôi thì nhỏ xíu, một ca suy dinh dưỡng điển hình, chẳng ai muốn nhận tôi. Tôi đứng khóc. Ai đó mủi lòng, đưa tôi vào làm việc ở phòng kế toán của xưởng: Công việc của tôi là điền giấy nhận hàng cho công nhân, nhận biểu giá tiền công và nhân lên với số phụ tùng để tính lương. Tôi làm việc với một cái máy, tiền thân của máy tính sau này. Hiện giờ máy tính không gây tiếng ồn, nhưng hồi đó nó kêu như máy kéo, và chỉ làm việc dưới đèn. Mười hai tiếng đồng hồ tôi như ở dưới ánh mặt trời nóng bỏng, và vì tiếng ầm ầm của máy mà cuối ngày tôi như hóa điếc.
Có lần một trường hợp kinh khủng xảy ra với tôi: Một người công nhân thay vì được nhận 280 rúp tôi lại tính thành 80 rúp. Mà ông ta có đến sáu đứa con, và không ai nhận ra lỗi của tôi cho đến ngày phát lương. Tôi nghe ai đó chạy ngoài hành lang và hét lên: “Tao giết! Tao giết! Tao sẽ nuôi con bằng cái gì đây?” Mọi người bảo tôi:
- Trốn đi, chắc ông ta nói cháu đấy.
Cửa bật ra, tôi nép sát vào máy - không có chỗ nào để trốn. Một người đàn ông lực lưỡng lao vào, trong tay ông ta là vật gì đó nằng nặng:
- Nó đâu?
Người ta chỉ tôi.
- Nó đó.
Ông ta thậm chí còn dựa vào tường:
- Hừ! Chẳng đáng ra tay. Những đứa con tôi cũng hệt thế này. -Nói rồi ông ta quay lưng bỏ đi.
Còn tôi ngã khụy, òa khóc …
Mẹ tôi làm ở bộ phận kiểm tra kỹ thuật của nhà máy. Nhà máy sản xuất đạn cho tên lửa Kachiusha, với hai cỡ, 16 và 8 ki-lô-gam. Độ bền vỏ đạn được kiểm tra bằng áp suất. Cần phải nâng đạn lên, cố định rồi bơm một lượng không khí cần thiết. Nếu vỏ đạn chất lượng, cây kim trên mặt khắc độ đẩy lên được cực điểm, khi đó người ta hạ quả đạn xuống và cho vào hộp. Còn nếu không, mối nối sẽ bị bung, đạn sẽ rít lên và bay vọt lên tới đỉnh vòm rồi lao xuống đâu đó. Cùng với tiếng rít đó là nỗi hoảng sợ, khi đạn bay lên. Tất cả đều nấp dưới những cỗ máy.
Mẹ tôi giật mình và la hét hằng đêm. Tôi ôm bà, và bà dịu lại.
Gần cuối năm bốn ba. Quân đội của ta tiến công. Tôi hiểu mình cần phải học. Tôi đến gặp giám đốc nhà máy. Phòng làm việc của ông có một chiếc bàn cao, và vì thế mà gần như ông không thấy được tôi. Tôi bắt đầu bài phát biểu đã chuẩn bị trước của mình:
- Cháu muốn nghỉ việc, cháu cần đi học.
Giám đốc nổi đóa:
- Không ai được nghỉ việc cả. Giờ đang là thời chiến.
- Cháu đã làm sai phiếu nhận hàng vì không được học. Mới đây cháu còn tính thiếu tiền cho một người.
- Cháu sẽ được học. Nhưng giờ ta đang thiếu người.
- Sau chiến tranh cần những người có học, chứ không phải người thiếu học.
- Ôi bé tí hin, - giám đốc đứng dậy từ sau cái bàn, - mà cái gì cũng biết!
Tôi đến trường, vào lớp Sáu. Trong giờ văn học và lịch sử, thầy giáo giảng bài, còn chúng tôi ngồi đan tất, bao tay, túi đựng thuốc cho quân đội. Chúng tôi đan và học thơ. Chúng tôi đồng thanh đọc thơ Pushkin.
Chúng tôi chờ chiến tranh kết thúc, khao khát đó lớn đến độ tôi và mẹ thậm chí sợ nhắc đến nó. Lúc mẹ ở nhà máy, những người được ủy quyền đến chỗ tôi và hỏi tất cả: “Các bạn có thể quyên gì cho quỹ quốc phòng?” Họ cũng hỏi tôi. Chúng tôi có gì? Chúng tôi chẳng có gì cả, ngoài một số trái phiếu mà mẹ dành dụm. Ai cũng quyên gì đó, làm sao chúng tôi có thể không có gì? Tôi đưa tất cả chỗ trái phiếu ấy ra.
Tôi nhớ, mẹ trở về từ chỗ làm, bà không trách mắng tôi mà chỉ nói: “Đó là tất cả những gì chúng ta có, ngoài búp bê của con”.
Rồi tôi cũng phải chia tay với búp bê của mình. Mẹ làm mất phiếu bánh mì, chúng tôi xem như chết rồi. Lúc đó trong đầu tôi nảy ra ý tưởng: Thử lấy hai con búp bê của tôi đi đổi xem sao - một con lớn và một con nhỏ. Chúng tôi đem búp bê ra chợ. Tôi đến chỗ một ông già người Uzbek hỏi: “Giá bao nhiêu?” Chúng tôi nói mình cần phải sống được một tháng, chúng tôi không còn tem phiếu. Ông già Uzbek đưa cho chúng tôi hai pút gạo. Nhờ vậy chúng tôi đã không chết đói. Sau đó mẹ nói: “Mẹ sẽ mua cho con hai con búp bê thật đẹp, khi nào mình trở về nhà”.
Khi chúng tôi về nhà, mẹ không thể mua chúng cho tôi, vì chúng tôi lại lần nữa lâm vào túng thiếu. Bà mua chúng vào ngày tôi tốt nghiệp đại học. Hai con búp bê - một lớn và một nhỏ.
❀ ❀ ❀
[1] Thủ đô Azerbaijan, từng là một nước trong Liên bang Xô viết.
[2] Giấy chứng nhận quân nhân của quân đôi Liên Xô dùng để nhận được các trợ cấp tương ứng như quần áo, tiền bạc, thực phẩm. Gia đình các chiến sĩ có thể dùng giấy này để nhận tiền trợ cấp.
[3] Thủ đô Uzbekistan.
[4] Đơn vị đo lường cổ của Nga, bằng 16,38 ki-lô-gam.