Galina Matuseyeva - 7 tuổi
Hiện đã về hưu
Một con người vừa được sinh ra…
Cạnh em có hai thiên thần đang trao cho em số phận. Họ định đoạt - em sống bao lâu, đường đời dài ngắn thế nào. Còn Thượng đế thì trên cao nhìn xuống, chính ông đã gởi các thiên thần đến đón chào một linh hồn mới. Để nhắn nhủ rằng, Người đang ngự trị.
Em tốt lành của tôi. Tôi nhìn mọi người và biết họ có hạnh phúc hay không. Đâu phải bất kỳ ai trên đường tôi cũng đều chặn lại: “Chàng trai trẻ đẹp, có muốn tôi đoán số mệnh cho không?” Chạy, người ta chạy, và trong đám đông tôi chỉ chọn ra một người, dường như tôi biết, trong ngực tôi có gì đó dội về ấm áp, và ngôn từ xuất hiện. Sức nóng của ngôn từ. Tôi bắt đầu nói… Tôi đọc số phận. Tôi lật những quân bài, trong những quân bài có tất cả mọi thứ: Những gì đã qua và những gì sẽ tới, làm thế nào cho tâm hồn thanh thản, và nó sẽ ra đi cùng những gì. Linh hồn sẽ đi về phía mà nó tới - lên trời. Những quân bài sẽ chỉ ra, con người kiêu hãnh, số phận anh ta đã được viết trên cao xanh. Lời đã có sẵn từ trên đó. Nhưng mỗi người đọc theo kiểu của mình.
Chúng tôi là dân Digan. Dân tộc tự do. Chúng tôi có luật của mình, luật Digan. Tổ quốc của chúng tôi là nơi chúng tôi sống, là nơi trái tim chúng tôi hoan hỉ, đối với chúng tôi - khắp nơi là quê hương. Khắp nơi dưới vòm trời này. Cha đã dạy tôi như thế, và mẹ cũng dạy như thế. Căn nhà lưu động của chúng tôi rung lắc khắp dặm đường, còn mẹ đọc cho tôi nghe những lời nguyện cầu của người Digan. Bà hát. Màu xám… Màu con đường, màu bụi đất… Màu tuổi thơ tôi… Em thân yêu, em có thấy lều trại của người Digan? Tròn và cao, như bầu trời vậy. Tôi ra đời ở nơi đó. Trong rừng. Dưới những vì sao. Từ lúc mặc tã tôi đã không sợ chim đêm, thú dữ. Tôi đã học nhảy múa hát ca bên đống lửa. Không thể tưởng tượng nổi chuyện dân Digan mà không ca hát, chúng tôi ai cũng hát ca và nhảy múa. Thay lời nói. Lời ca của chúng tôi dịu dàng. Và làm khốn khổ… Tôi còn nhỏ không hiểu chuyện mà cũng khóc. Những lời hát lẻn vào trái tim con người, thúc giục con người ta bằng con đường. Bằng tự do. Bằng tình yêu to lớn. Không phải tự nhiên mà người ta nói, người Nga có hai lần chết: Một lần cho Tổ quốc và lần thứ hai - khi nghe những bài hát Digan.
Em thân yêu, sao em đặt nhiều câu hỏi thế? Tự tôi sẽ kể mà.
Tôi đã vô cùng hạnh phúc trong thời thơ ấu. Tin tôi đi!
Mùa hè gia đình tôi cùng sống trong lều trại. Chúng tôi luôn dừng chân bên một con sông cạnh bìa rừng. Một nơi thật xinh đẹp. Buổi sáng có tiếng chim hót, và mẹ đánh thức tôi dậy bằng lời hát ngọt ngào. Còn vào mùa đông, chúng tôi xin người ta cho tá túc trong các căn hộ. Khi đó con người còn hiền hậu lắm. Với trái tim vàng. Chúng tôi sống hòa thuận với họ. Nhưng tuyết càng dày bao nhiêu, chúng tôi càng mong mỏi mùa xuân bấy nhiêu. Chúng tôi chăm sóc lũ ngựa, người Digan quan tâm tới ngựa như chính con cái mình. Vào tháng Tư, dịp lễ Phục sinh, chúng tôi cúi chào những con người tốt bụng và lên đường. Nắng vàng, gió lộng… Chúng tôi sống trọn vẹn mỗi ngày, - có ai đó ôm bạn ban đêm, những đứa con khỏe mạnh và no đủ - thế là đã hạnh phúc. Ngày mai sẽ là ngày mới, mẹ tôi luôn nói thế. Mẹ dạy tôi rất nhiều. Nếu là con của Thượng đế, không cần phải dạy nhiều, đứa bé sẽ tự học được mọi điều.
Tôi lớn lên như thế đấy. Nhưng hạnh phúc của tôi không kéo dài.
Hạnh phúc của người Digan.
Một buổi sáng tôi tỉnh dậy bởi những cuộc trò chuyện. Bởi những tiếng la.
- Chiến tranh!
- Chiến tranh gì?
- Với Hitler!
- Cứ để họ đánh nhau. Còn chúng ta là những người tự do. Là chim trời. Chúng ta sống trong rừng.
Máy bay bắt đầu kéo đến. Chúng quần thảo khắp nơi, bắn đạn xuống đàn bò trên đồng cỏ. Khói bốc khắp trời. Buổi tối, những quân bài của mẹ tung vãi, mẹ ôm đầu lăn mình trên cỏ.
Không còn lều trại. Không đi đâu được nữa. Tôi buồn. Tôi yêu con đường.
Một buổi tối nọ, một bà già Digan tới bên đống lửa, mặt bà nhăn nheo như đất cằn dưới nắng. Tôi không biết bà, bà tới từ một nơi xa.
- Hồi sáng chúng đã bao vây chỗ chúng tôi. Trên những con ngựa xinh đẹp no đủ, bờm sáng óng ánh, móng guốc vững vàng. Người Đức ngồi trên yên, còn bọn chỉ điểm lôi người Digan từ trong lều ra. Chúng lột nhẫn khỏi các ngón tay, tước hoa tai khỏi tai. Tai của các bà nhỏ máu, còn các ngón tay thì bị trật khớp. Chúng lấy lưỡi lê rọc các tấm nệm lông chim tìm vàng rồi bắn. Một cô gái cầu xin chúng: “Xin đừng bắn. Tôi sẽ hát bài hát Digan cho các người nghe”. Chúng cười. Cô ta hát cho chúng nghe, và chúng bắn cô gái. Cả trại nữa. Chúng đốt hết các lều… Chỉ còn lại những con ngựa. Không còn ai nữa cả. Chúng bắt họ theo rồi…
Những người Digan im lặng bên đống lửa cháy. Tôi ngồi cạnh mẹ.
Buổi sáng chúng tôi dọn dẹp tay nải, chăn gối, nồi niêu vào lều lưu động.
- Chúng ta đi đâu vậy mẹ?
- Vào thành phố, - mẹ đáp.
- Tại sao vào thành phố? - Tôi không muốn phải rời bỏ con sông. Rời bỏ mặt trời.
- Người Đức ra lệnh vậy.
Ở Minsk chúng tôi chỉ được sống trên ba con đường. Chúng tôi có ghetto của mình. Mỗi tuần một lần bọn Đức kiểm tra theo danh sách: “Ain tsyganer… Tsvai tsyganer…[1]
Chúng tôi đã sống thế nào à?
Tôi và mẹ vào làng xin ăn. Ai đó mang cho lúa mạch, ai đó cho bắp ngô. Mọi người gọi chúng tôi vào nhà họ: “Ôi, cô bé Digan, hãy vào đây. Bói cho tôi xem nào. Chồng tôi đang ngoài mặt trận”. Chiến tranh li tán con người, tất cả đều phải chia xa. Sống trong chờ đợi, họ muốn nhận được tia hi vọng.
Mẹ tôi giải bài. Tôi ngồi bên lắng nghe. Là già rô… Thấy cái chết - bảy bích đen. Có tình yêu nồng cháy - con già cơ. Người lính - già bích đen. Chẳng bao lâu sẽ lên đường - con sáu rô…
Rời khỏi sân nhà họ, mẹ tôi vui vẻ. Nhưng trên đường đi bà lại khóc. Khó mà nói ra sự thật chồng họ đã bị giết hay con trai họ đã không còn sống. Mặt đất đã đón nhận cậu ta. Những quân bài đã chứng minh…
Chúng tôi qua đêm trong một căn nhà nọ. Tôi không ngủ được. Đến nửa đêm, những người đàn bà xõa những bím tóc dài ra đoán số phận mình. Từng người mở cửa sổ ra, ném vào đêm đen nắm lúa mạch và lắng nghe gió: Nếu lặng gió - người chồng còn sống; còn gió hú hay gõ vào cửa sổ thì đừng đợi nữa, người ấy sẽ không về. Gió hú. Đập vào cửa kính cành cạch.
Chưa bao giờ người ta yêu thương chúng tôi đến thế, như trong thời chiến. Vào giây phút nặng nề. Mẹ luôn biết cách. Bà giúp cả người lẫn gia súc: Bà cứu những con bò, con ngựa qua cơn hiểm nghèo. Bà nói chuyện với tất cả bằng ngôn ngữ của họ.
Tin đồn lan truyền. Bọn Đức đã bắn một trại lều, rồi trại khác… Trại thứ ba chúng dồn cả vào ghetto.
Chiến tranh chấm dứt, chúng tôi vui mừng khôn xiết. Gặp ai cũng ôm hôn. Chúng tôi còn lại không nhiều. Và mọi người tiếp tục bói toán và đoán số phận. Dù giấy báo tử đã nằm dưới tượng thánh trong nhà, những người đàn bà vẫn hỏi: “Ôi, cô nàng Digan, hãy bói đi. Biết đâu chồng tôi còn sống. Biết đâu, họ đã nhầm lẫn?”
Mẹ bói, và tôi lắng nghe…
Người đầu tiên tôi coi bói là cô gái ngoài chợ. Tình yêu lớn của cô xuất hiện. Một quân bài hạnh phúc. Và cô cho tôi một rúp. Tôi đã tặng cho cô hạnh phúc, thậm chí chỉ trong một phút ngắn ngủi.
Cô gái tốt đẹp của tôi, cầu cho cô hạnh phúc! Hãy đến với Chúa. Kể cho Người về số phận dân Digan chúng tôi mà ít người được biết.
Te aves bakhtalo…[2]. Cầu Chúa phù hộ!
❀ ❀ ❀
[1] “Một người Digan, hai người Digan…” (tiếng Đức).
[2] Hãy sống hạnh phúc (tiếng Digan).