Taisa Nasvetnikova - 7 tuổi
Hiện là giáo viên
Trước chiến tranh…
Như tôi còn nhớ mọi thứ đã từng rất tốt đẹp: nhà trẻ, những tiết mục thiếu nhi, sân nhà chúng tôi. Những bé gái bé trai. Tôi đọc nhiều sách, sợ côn trùng và thích chó. Chúng tôi sống ở Vitebsk[1], ba tôi làm việc trong Sở Xây dựng. Ngày thơ bé tôi nhớ nhất là ba đã dạy tôi bơi thế nào trên sông Dvina.
Sau đó là trường học. Trường học trong tôi còn lưu lại ấn tượng thế này: Cầu thang rất rộng, tường kính trong suốt, rất nhiều ánh nắng, và rất nhiều niềm vui. Có cảm tưởng như cuộc sống là ngày hội.
Vào những ngày đầu chiến tranh, ba tôi ra mặt trận. Tôi nhớ cuộc chia tay ở sân ga. Ba lúc nào cũng thuyết phục mẹ rằng họ sẽ đuổi quân Đức đi, nhưng vẫn muốn chúng tôi phải tản cư. Mẹ không hiểu: Để làm gì? Nếu chúng tôi ở lại, ông sẽ tìm được chúng tôi nhanh hơn. Tìm ra ngay lập tức. Còn tôi thì cứ lặp đi lặp lại: “Ba ơi, ba thương yêu! Ba phải trở về nhanh nhé. Ba ơi, ba thương yêu…”
Ba đi rồi, vài ngày sau chúng tôi cũng lên tàu sơ tán. Dọc đường chúng tôi luôn bị đánh bom, đánh bom chúng tôi rất dễ, bởi các đoàn tàu đi về hậu phương chỉ cách nhau mỗi năm trăm mét. Chúng tôi đi gọn nhẹ: Mẹ mặc đầm satin chấm bi trắng, còn tôi mặc váy hoa đỏ không tay. Những người lớn đều bảo màu đỏ thấy rất rõ từ trên cao, nên mỗi khi có tập kích, mọi người lao vào các bụi, còn tôi thì được che phủ bằng mọi cách, để cái đầm đỏ không lộ rõ, không thì tôi chẳng khác nào cái đèn lồng.
Chúng tôi uống nước từ đầm, mương. Và bệnh đường ruột bắt đầu xuất hiện. Tôi cũng bệnh. Ba ngày nằm mê man. Sau này mẹ kể tôi đã được cứu thế nào. Khi tàu chúng tôi dừng ở Bryansk[2], trên con đường bên cạnh có một đoàn quân xa. Mẹ tôi năm đó hai mươi sáu tuổi, bà rất đẹp. Đoàn tàu chúng tôi dừng rất lâu. Bà bước ra khỏi toa, một viên sĩ quan trong binh đoàn buột miệng khen bà. Và bà đã nói: “Xin tránh ra. Con gái tôi đang hấp hối”. Viên sĩ quan đó hóa ra là y sĩ. Ông ta lao lên toa tàu, khám cho tôi và gọi các đồng chí mình: “Mau mang trà, bánh quy và benlladona đến đây”. Những chiếc bánh quy của lính, chai trà đậm một lít và vài viên benlladona đã cứu mạng tôi.
Khi chúng tôi đến Aktyubinsk[3], cả toa tàu đều mắc bệnh. Lũ trẻ con chúng tôi không được phép lại gần nơi quàn các thi thể, người ta giữ chúng tôi khỏi chứng kiến cảnh tượng này. Chúng tôi chỉ nghe những cuộc chuyện trò: ở đó họ chôn bao nhiêu trong một hố, ở đó bao nhiêu… Mẹ về với gương mặt nhợt nhạt, tay bà run rẩy. Còn tôi cứ hỏi vặn: “Mọi người biến đâu cả rồi?”
Tôi không nhớ phong cảnh nào trên đường di tản. Điều đó thật lạ kỳ, vì tôi rất yêu thiên nhiên. Tôi chỉ nhớ những bụi rậm mà chúng tôi trốn trong đó. Những mương xói. Vì sau đó mà tôi ngỡ chẳng đâu có rừng, tàu chúng tôi chỉ chạy giữa những cánh đồng, sa mạc nào đó. Có lần tôi sợ đến độ về sau tôi không còn sợ trận bom nào nữa. Do người ta không cảnh báo chúng tôi là tàu chỉ dừng chừng mươi, mười lăm phút, ngắn thôi, nên khi tàu chạy, tôi bị bỏ lại. Một mình. Tôi không nhớ ai đã chụp lấy tôi. Người ta ném tôi vào toa đúng nghĩa đen.
Nhưng không phải toa của chúng tôi, mà vào toa áp cuối. Đó là lần đầu tiên tôi sợ sẽ chỉ còn lại một mình, còn mẹ thì đi mất. Khi có mẹ bên cạnh, không có gì đáng sợ cả. Còn ở đây tôi tê dại vì sợ. Và khi mẹ tôi chưa kịp chạy đến, chưa kịp ôm thốc lấy tôi, tôi đã hoàn toàn câm nín, không ai có thể cạy răng tôi một từ. Mẹ - đó là thế giới của tôi. Hành tinh của tôi. Thậm chí nếu như có ốm đau gì đó, chỉ cần nắm lấy tay mẹ là tôi sẽ hết. Ban đêm tôi luôn ngủ bên mẹ, càng gần mẹ bao nhiêu, càng ít sợ bấy nhiêu. Có mẹ ở bên, mọi thứ vẫn hệt như trước kia ở nhà. Nhắm mắt lại - không còn cuộc chiến tranh nào cả. Chỉ có điều mẹ không thích nói về cái chết. Còn tôi thì luôn cật vấn mẹ về nó…
Từ Aktyubinsk, chúng tôi đi về Magnitogorsk, nơi anh ruột của ba tôi sống. Trước chiến tranh ba có một gia đình lớn toàn đàn ông, nhưng khi chúng tôi đến, trong nhà chỉ còn phụ nữ. Tất cả đàn ông trong nhà đã ra trận. Cuối năm bốn mốt, nhà chúng tôi nhận hai giấy báo tử - hai con trai của bác đã hi sinh…
Tôi còn nhớ dịch thủy đậu mùa đông năm đó, cả trường tôi đều bị lây. Và cái quần đỏ. Mẹ được cấp một mẩu vải nỉ đỏ theo tem phiếu, và mẹ may quần cho tôi. Bọn trẻ ghẹo tôi “Thầy tu mặc quần đỏ”. Tôi rất bực. Sau một thời gian nhà chúng tôi nhận được tem phiếu giày cao su. Tôi buộc dây rồi cứ thế mà chạy. Dây giày cọ trầy mắt cá chân, nên tôi luôn phải lót thứ gì đó để tránh những vết thương này. Nhưng mùa đông lạnh đến độ chân tay tôi lúc nào cũng cóng buốt, ở trường lò sưởi thường xuyên bị hỏng, trong lớp nước trên sàn đóng băng, và chúng tôi thì trượt giữa các bàn. Chúng tôi mặc nguyên áo khoác ngồi học, tay mang găng, chỉ thò hai ngón tay để cầm bút. Tôi nhớ, chúng tôi không được chọc giận hay trêu ghẹo những bạn có cha hi sinh. Tội đó bị phạt rất nghiêm. Và chúng tôi còn đọc rất nhiều. Như chưa bao giờ được đọc. Chúng tôi đọc hết sách thiếu nhi, thiếu niên. Rồi đọc qua sách người lớn. Những đứa con gái khác thì sợ, thậm chí bọn con trai cũng bỏ qua những trang mô tả cái chết. Nhưng tôi đã đọc.
Tuyết rơi nhiều. Tất cả trẻ con chạy ra đường nặn người tuyết. Còn tôi băn khoăn: Làm sao có thể nặn người tuyết và vui sướng khi đang có chiến tranh.
Người lớn lúc nào cũng nghe radio, không có radio họ không sống nổi. Chúng tôi cũng thế. Chúng tôi mừng với mỗi loạt súng chào ở Moskva, lo cho mỗi thông tin: Mặt trận thế nào? Còn những người hoạt động bí mật, còn du kích quân? Chúng tôi xem phim về trận chiến ở Stalingrad và ngoại ô Moskva tới mười lăm, hai mươi lần. Phim được chiếu ba lần liền mạch, và chúng tôi xem đủ cả ba. Phim được chiếu trong trường học, do không có phòng chiếu nên phim chiếu ngay trong hành lang, và chúng tôi ngồi trên sàn để xem. Suốt hai ba tiếng đồng hồ. Tôi nhớ rõ những cảnh chết chóc. Mẹ mắng tôi vì chuyện đó. Bà hỏi các bác sĩ tại sao tôi như thế. Tại sao tôi lại quan tâm đến những thứ trẻ con không nên biết đến, như cái chết? Làm sao để hướng tôi đến những chuyện trẻ thơ.
Tôi đọc lại truyện cổ tích. Và tôi nhận thấy gì? Tôi thấy trong đó người ta giết hại nhau nhiều quá. Nhiều máu. Và đó là khám phá của tôi.
Cuối năm bốn tư. Tôi thấy những tù binh Đức đầu tiên. Họ đi thành hàng dọc phố. Và điều khiến tôi kinh ngạc là người ta tới gần đưa họ bánh mì. Chuyện đó làm tôi thấy lạ đến độ phải chạy ngay tới chỗ mẹ làm việc để hỏi: “Tại sao dân mình lại cho quân Đức bánh mì?” Mẹ không nói gì, chỉ khóc. Đó cũng là lần đầu tiên tôi thấy có người chết trong bộ quân phục Đức, ông ta cắm cúi đi - đi trong hàng rồi gục xuống. Dòng người khựng lại một chút rồi đi tiếp, bên cạnh cái xác người ta bố trí một người lính của ta xử lý. Tôi chạy lại gần. Tôi bị lôi cuốn bởi cái chết thật gần, ngay cạnh mình. Đôi lúc trên radio người ta công bố tổn thất của quân địch, và chúng tôi luôn lấy đó làm mừng vui. Còn ở đây tôi đã thấy. Người chết dường như đang ngủ. Ông ta thậm chí không nằm, mà ngồi cong người, đầu hơi gục xuống vai. Tôi không rõ mình căm thù hay thương xót ông ta? Đó là kẻ thù. Kẻ thù của chúng tôi! Tôi không nhớ ông ta trẻ hay già? Nhưng trông rất mệt mỏi. Vậy nên tôi khó mà căm thù. Tôi kể cho mẹ điều đó. Và mẹ lại khóc.
Sáng ngày 9 tháng Năm chúng tôi thức giấc khi dưới cổng ai đó hét rất to. Hẵng còn rất sớm. Mẹ chạy ra xem chuyện gì rồi chạy về trong ngỡ ngàng: “Chiến thắng! Chẳng lẽ là chiến thắng?”. Chuyện đó thật xa lạ, chiến tranh chấm dứt, cuộc chiến dài như thế… Ai đó khóc, ai đó cười, ai đó la hét. Những ai mất người thân thì bật khóc, rồi sau lại vui mừng vì dẫu sao cũng là chiến thắng! Ai đó lấy ra một nhúm ngũ cốc, ai đó - khoai tây, ai đó - củ cải, tất cả cùng mang vào một căn hộ. Tôi không bao giờ quên ngày hôm ấy. Ngay buổi sáng hôm ấy. Thậm chí đến chiều mọi thứ đã không còn như thế.
Hồi chiến tranh vì sao đó mà ai cũng nói nhỏ, thậm chí tôi cảm tưởng chỉ như thì thầm, còn giờ đây bỗng nhiên tất cả đều nói rất to. Lũ trẻ chúng tôi bám theo người lớn, họ đãi chúng tôi ăn, âu yếm rồi đuổi chúng tôi đi: “Đi xuống phố chơi đi. Hôm nay là ngày hội”. Rồi họ lại gọi trở lại. Chúng tôi chưa bao giờ được ôm được hôn như ngày hôm ấy.
Và tôi là người hạnh phúc, vì ba tôi đã trở về từ chiến tranh. Ông mang về những món đồ chơi rất đẹp. Đồ chơi Đức. Tôi không thể hiểu tại sao những món đồ chơi đẹp thế lại là của người Đức.
Với ba, tôi cũng thử trò chuyện về cái chết, về những trận bom, khi tôi và mẹ tản cư. Về chuyện dọc hai bên đường thi thể binh lính chúng tôi nằm chết ra sao. Mặt họ được phủ tạm bằng cành lá. Trên đó ruồi bay vo vo. Rất nhiều ruồi. Về người lính Đức chết gục. Tôi kể về cha bạn mình, sau chiến tranh ông trở về được vài ngày thì mất. Chết vì bệnh tim. Tôi không thể hiểu làm sao có thể chết sau chiến tranh, khi tất cả đều hạnh phúc?
Ba chỉ im lặng.
❀ ❀ ❀
[1] Thủ phủ hành chính của vùng Vitebsk, nằm ở đông bắc Belarus, giáp giới Nga.
[2] Một thành phố của Nga, nằm cách Moskva 379 ki-lô-mét về phía tây nam.
[3] Tên hiện nay là Aktobe, thành phố thủ phủ tỉnh Aktobe của Kazakhstan, nằm bên sông Ilek.