Zoya Mazharova - 12 tuổi
Hiện là nhân viên bưu điện
Tôi đã thấy thiên thần.
Người hiện ra, Người đến với tôi trong mơ, khi người ta chở chúng tôi sang Đức, trong một toa tàu. Ở đó không thấy được gì, không một mảng trời nào lọt nổi. Nhưng Người đã tới…
Mọi người không sợ chứ? Những lời của tôi ấy… Tôi sẽ kể ngay đây bởi không phải ai cũng muốn nghe tôi lâu. Ít khi nào người ta mời tôi đến chơi. Đến những chỗ tiệc tùng. Kể cả những người láng giềng. Vì tôi cứ kể và kể. Có thể tôi đã già? Tôi không thể dừng lại được.
Tôi bắt đầu ngay nhé. Năm đầu chiến tranh tôi sống cùng cha mẹ. Tôi gặt và cày. Cắt và tuốt. Để rồi tất cả giao cho người Đức: lúa mì, khoai tây, đậu. Chúng đến vào mùa thu, trên lưng ngựa. Chúng đi dọc các sân phơi và thu gì ấy nhỉ? Tôi quên từ đó mất rồi - à, thu tô. Những tay chỉ điểm cũng đi cùng chúng, chúng tôi đều biết cả. Chúng ở ngay làng bên cạnh. Có thể nói, chúng tôi đã quen. Hitler, theo như những gì người Đức nói với chúng tôi, đã tới Moskva. Gần Stalingrad.
Ban đêm, du kích về và họ kể hoàn toàn khác: Stalin không có lý do gì để giao Moskva. Và cũng sẽ không giao Stalingrad.
Chúng tôi đã sống như thế, gặt hái cày bừa, vào ngày nghỉ và ngày lễ chúng tôi khiêu vũ. Trên đường. Với cây phong cầm.
Tôi nhớ, chuyện xảy ra vào ngày Chủ nhật lễ Lá[1]. Chúng tôi bẻ những nhành liễu và đi đến nhà thờ. Chúng tôi đang tụ tập ngoài phố chờ người chơi phong cầm đến thì bỗng dưng quân Đức ập tới. Trên những cỗ xe phủ bạt che là chó bẹc giê. Chúng bao vây và ra lệnh: Leo lên xe. Chúng ủn bằng báng súng mặc cho kẻ khóc người la. Khi cha mẹ chạy tới, chúng tôi đã ở trên các chiếc xe phủ bạt rồi. Không xa làng chúng tôi là nhà ga đường sắt, chúng chở chúng tôi tới đó. Ở đó đã có sẵn những toa tàu trống. Một tên chỉ điểm kéo tôi vào toa, nhưng tôi vùng ra. Hắn xoắn lấy bím tóc của tôi và nói:
- Đừng kêu la, ngốc ạ. Quốc trưởng sẽ giải phóng các người khỏi Stalin.
- Vậy chúng tôi làm gì ở xứ lạ đó? - Trước đó chúng đã tuyên truyền kêu gọi chúng tôi đi Đức. Hứa hẹn về một cuộc sống tốt đẹp.
- Các người sẽ giúp nhân dân Đức chiến thắng chủ nghĩa bôn sê vích.
- Tôi muốn về với mẹ.
- Các người sẽ sống trong nhà mái ngói, ăn kẹo sôcôla…
- Tôi muốn về với mẹ…
Ôi-ôi-ôi! Nếu người ta biết được số phận của mình, có lẽ họ sẽ không sống nổi đến sáng.
Họ đưa chúng tôi lên tàu và chở đi. Chúng tôi đi rất lâu, nhưng bao lâu thì chúng tôi không biết. Trong toa tất cả đều là người tỉnh Vitebsk. Từ những làng khác nhau. Tất cả đều nhỏ tuổi. Có đứa hỏi tôi:
- Bạn bị đưa lên đây như thế nào?
- Từ chỗ khiêu vũ.
Vì đói vì sợ, tôi lịm dần đi. Tôi nằm nhắm mắt. Và đó là lần đầu tiên tôi trông thấy Thiên thần. Thiên thân bé bỏng với đôi cánh nhỏ nhắn. Như đôi cánh chim. Và tôi biết Người muốn cứu tôi. “Làm sao có thể cứu mình,” tôi nghĩ, “khi mà Người bé nhỏ như thế?” Đó là lần đầu tôi gặp Người.
Khát… Tất cả chúng tôi đều bị cơn khát hành hạ. Toàn bộ bên trong người khô khốc đến độ nếu lè lưỡi ra, tôi sẽ không thể rút vào được nữa. Ban ngày, chúng tôi ngồi trên tàu với những chiếc lưỡi lè ra. Miệng há hốc. Đêm xuống thì đỡ hơn đôi chút.
Tôi sẽ nhớ cả đời không quên.
Trong góc toa có những cái xô để chúng tôi đi tiểu. Và một cô bé bò tới, ôm lấy một chiếc xô bằng hai tay, uống từng ngụm lớn. Sau đó cô lộn ra nôn thốc tháo rồi lại bò đến cái xô. Cứ thế cô lại lộn ra…
Ôi-ôi-ôi. Nếu như người ta biết trước số phận của mình…
Tôi nhớ thành phố Magdeburg, ở đó, họ cạo đầu và bôi lên người chúng tôi một thứ dung dịch trắng. Để ngừa bệnh. Cơ thể chúng tôi như bốc hỏa bởi thứ dung dịch đó. Da nứt toạc ra. Lạy Chúa! Tôi đã không muốn sống. Tôi đã không còn thương xót ai nữa: Cả chính mình, cả mẹ lẫn cha. Nhưng rồi tôi ngước mắt lên - chúng đang đứng xung quanh. Với những con chó bẹc giê dữ tợn. Chó thường không nhìn thẳng vào mắt người, còn lũ bẹc giê này thì khác. Chúng nhìn thẳng vào mắt chúng tôi. Tôi không còn muốn sống…
Tại đây tôi có quen một cô bé, tôi không nhớ chúng tôi đã quen nhau thế nào, chỉ biết bọn Đức đã bắt cả hai mẹ con cô đi. Có thể, bà mẹ đã nhảy lên xe cùng cô con gái. Tôi không rõ.
Suốt đời này tôi sẽ không quên.
Cô bé đứng khóc vì lạc mất mẹ khi chúng tôi bị lùa đi ngừa bệnh.
Mẹ cô còn trẻ đẹp. Trong suốt cuộc hành trình trên tàu, chúng tôi lầm lũi trong bóng tối: Không ai mở cửa toa bởi đây là những toa tàu hàng không cửa sổ. Suốt dọc đường cô bé không tìm thấy mẹ. Cả tháng trời. Cô bé đứng khóc, và một bà già nào đó, cũng bị cạo trọc, đã chìa tay về phía cô, định xoa đầu. Cô vùng chạy khỏi người đàn bà, cho đến khi bà ta gọi: “Con gái…” Và chỉ với giọng nói, cô mới nhận ra đó là mẹ mình.
Ôi! Nếu như, nếu như biết…
Suốt chuyến đi, cơn đói hành hạ tất cả. Tôi không nhớ mình đã ở đâu. Những địa danh, những cái tên trượt đi trong đầu… Vì đói mà chúng tôi như sống trong mơ.
Tôi nhớ mình phải kéo những cái hộp ở nhà máy đạn - thuốc súng, ở đó mọi thứ bốc mùi diêm sinh nồng nặc. Mùi khói… Không có khói, nhưng bốc mùi khói.
Tôi nhớ mình vắt sữa ở một nông trại nào đó. Chẻ củi mười hai tiếng mỗi ngày…
Họ cho chúng tôi ăn vỏ khoai tây, củ cải trắng, uống trà pha đường hóa học. Nhưng cô gái làm cùng đã uống mất trà của tôi. Một cô gái Ukraine to khỏe. Cô ta bảo: “Tôi phải sống, ở nhà tôi chỉ còn mỗi mẹ”. Ngoài đồng cô ta hát những bài hát Ukraine rất hay. Rất đẹp.
Tôi, trong một lần… Chỉ một buổi chiều không thể kể hết được. Không kịp.
Chuyện đó xảy ra ở đâu? Tôi không nhớ, nhưng có lẽ là trong trại. Tôi, hình như, đã rơi vào trại Buchenwald[2].
Ở đó, chúng tôi bốc dỡ xác chết xuống xe và xếp hàng ngay ngắn, theo từng lớp - một lớp xác, một lớp củi quét hắc ín. Một lớp, hai lớp… Cứ thế từ sáng tới tối, rồi chúng tôi đốt lửa. Lửa là từ… Thì rõ rồi, từ xác người. Trong đống xác có cả những người còn sống, và họ muốn nói gì đó với chúng tôi. Những lời gì đó. Nhưng chúng tôi không được phép dừng lại, dù chỉ để nghe…
Ô-ô-ô! Cuộc sống con người… Tôi không biết sống có dễ không với cây cối, với những gì con người thuần hóa: súc vật, chim chóc… Nhưng về con người thì tôi biết.
Tôi muốn chết. Tôi không còn tiếc thương ai nữa… Tôi đã chuẩn bị rồi, tôi đang tìm con dao thì thiên thần của tôi bay tới. Tôi không nhớ Người an ủi những gì, chỉ nhớ những lời ấy đầy âu yếm. Người đã dỗ dành tôi rất lâu. Khi tôi kể những người khác nghe về thiên thần, mọi người đều nghĩ tôi hóa điên. Lâu lắm rồi tôi không thấy ai quen, quanh tôi toàn là người lạ. Toàn những người xa lạ. Không ai muốn làm quen với nhau, bởi ngày mai hoặc người này hoặc người kia sẽ chết. Quen nhau để làm gì? Nhưng tôi thương một cô bé, Mashenka. Tóc em rất sáng và em rất lặng lẽ. Tôi kết bạn với em được một tháng. Trong trại, một tháng là cả một cuộc đời, đó là vĩnh cửu. Em bắt chuyện với tôi trước:
- Chị có bút chì không?
- Không.
- Còn giấy thì sao?
- Cũng không. Mà em định làm gì?
- Em biết chẳng bao lâu nữa mình sẽ chết, nên em muốn viết thư cho mẹ.
Trong trại, điều đó không được phép - cả bút chì lẫn giấy viết. Nhưng chúng tôi vẫn tìm ra cho em. Ai cũng quý em hết - tóc sáng như thế và lặng lẽ như thế. Còn giọng nói thì nhỏ nhẻ.
- Rồi em tính gởi bằng cách nào? - Tôi hỏi.
- Ban đêm em sẽ mở cửa sổ để gió mang tờ giấy đi.
Tôi không rõ, có thể em tám tuổi, hoặc mười. Làm sao đoán được qua những ống xương? Ở đây không có con người, ở đây chỉ có những bộ xương đang di chuyển… Một thời gian sau, em ốm và không thể dậy đi làm. Tôi đã van xin em hãy cố lên. Ngày đầu tiên tôi thậm chí còn đẩy em ra tới cửa, em vịn vào cửa, nhưng không thể nào lê chân đi. Em nằm liệt hai ngày, đến ngày thứ ba chúng vào và cáng em ra. Lối thoát khỏi trại chỉ có một - qua ống khói. Tất cả chúng tôi đều biết. Lên trời.
Suốt đời tôi sẽ không quên.
Lúc em ốm, chúng tôi trò chuyện:
- Thiên thần có bay đến với em không? - Tôi muốn kể em nghe về Thiên thần của mình.
- Không. Chỉ có mẹ đến với em thôi. Mẹ mặc áo choàng trắng. Em nhớ chiếc áo đó, nó thêu hoa bắp màu xanh.
Mùa thu. Tôi sống được tới mùa thu. Bằng phép lạ nào nhỉ? Tôi không biết. Buổi sáng chúng lùa chúng tôi ra đồng thu hoạch cà rốt, bắp cải - tôi thích công việc này. Đã lâu tôi không ra đồng, không thấy thứ gì mang màu xanh. Trong trại không thấy được bầu trời, không thấy cả mặt đất - vì khói. Ống khói cao, đen, đêm ngày tỏa khói. Trên cánh đồng, tôi thấy một bông hoa vàng, tôi không nhớ nổi nó đã mọc như thế nào. Tôi vuốt ve bông hoa. Những phụ nữ khác cũng vuốt ve nó. Chúng tôi biết người ta mang tro từ lò thiêu tới đổ nơi đây, và mỗi người chúng tôi đều có ai đó thân quen đã chết. Ai đó có chị, ai đó có mẹ. Còn tôi có Mashenka.
Nếu biết mình sẽ sống, tôi đã hỏi địa chỉ mẹ em. Nhưng tôi đâu nghĩ thế.
Tôi sống được bằng cách nào, khi nhẽ ra đã chết cả trăm lần? Tôi không biết. Có lẽ thiên thần đã cứu tôi. Đã giảng thuyết cho tôi. Giờ đây Người cũng hiện ra. Người thích những đêm thế này, khi mặt trăng rọi sáng qua cửa sổ. Ánh trăng bàng bạc.
Mọi người có sợ tôi không? Khi nghe tôi kể…
Ô-ô-ô…
❀ ❀ ❀
[1] Ngày lễ rơi vào Chủ nhật trước lễ Phục sinh.
[2] Một trong những trại tập trung lớn nhất trên lãnh thổ Đức, nằm gần Weimar và Thuringen.