Khi Alyosha bước vào gian tu phòng của vị Trưởng lão với một nỗi lòng lo âu và đau nhói, cậu đứng khựng lại gần như sững sờ. Trái với cảnh tượng một người bệnh đang hấp hối, có lẽ đã bất tỉnh như cậu từng sợ hãi khi nghĩ tới, cậu thấy ngài đang ngồi thẳng trên ghế; dẫu yếu ớt và kiệt sức, nét mặt ngài lại rạng ngời và tươi vui, xung quanh ngài các vị khách đang vây quanh trong một bầu không khí chuyện trò điềm tĩnh và hoan hỉ. Nhưng ngài chỉ vừa mới rời khỏi giường bệnh trước lúc Alyosha đến chừng mười lăm phút; các vị khách đã tề tựu trong phòng từ trước để chờ ngài tỉnh giấc, sau khi nhận được lời đảm bảo hết sức đinh ninh từ cha Païssy rằng “thầy sẽ dậy, và đúng như ngài đã hứa vào buổi sáng, sẽ có một buổi trò chuyện lần cuối với những người hứa hẹn thân thiết nhất trong lòng.” Lời hứa ấy, quả thực là từng lời của vị Trưởng lão đang lâm终, đều được cha Païssy đặt trọn niềm tin tuyệt đối. Giả sử ngài có thấy ngài bất tỉnh, giả sử ngài có thấy ngài thở hơi tàn, mà vẫn có lời hứa rằng ngài sẽ chỗi dậy và từ biệt mình, có lẽ ngài vẫn chẳng tin vào cái chết, mà sẽ vẫn chờ đợi người đã khuất bình phục và thực hiện lời hứa. Vào buổi sáng khi nằm xuống để nghỉ ngơi, cha Zossima đã quả quyết với ngài rằng: “Ta sẽ không chết mà thiếu đi niềm vui của một cuộc trò chuyện nữa với con, người con yêu dấu của lòng ta. Ta sẽ nhìn lại gương mặt thân thương của con và trút bầu tâm sự với con thêm một lần nữa.” Các tu sĩ tụ họp vì buổi trò chuyện có lẽ là cuối cùng này với cha Zossima đều là những người bạn tận tụy lâu năm của ngài. Có bốn vị: cha Iosif, cha Païssy, cha Mihaïl – người quản lý tu viện, một người chưa già lắm và chẳng học rộng gì. Ngài xuất thân khiêm nhường, có ý chí sắt đá và đức tin vững chãi, vẻ bề ngoài nghiêm nghị nhưng ẩn chứa sự dịu dàng sâu sắc, dẫu ngài luôn cố tình giấu giếm điều đó như thể lấy làm hổ thẹn. Vị thứ tư là cha Anfim, một vị tu sĩ già nua, nhỏ bé và khiêm nhường thuộc tầng lớp nông dân nghèo khó nhất. Ngài hầu như mù chữ, rất ít nói và gần như chẳng trò chuyện với ai. Ngài là người khiêm nhường nhất trong những người khiêm nhường, trông giống như thể đang bị hoảng sợ bởi một điều gì đó vĩ đại và khủng khiếp vượt quá tầm hiểu biết của mình. Cha Zossima rất mực quý mến con người rụt rè ấy, luôn dành cho ngài sự kính trọng rõ rệt, dù có lẽ chẳng có ai quen biết mà ngài lại từng trò chuyện ít hơn thế, mặc cho việc ngài đã dành nhiều năm tháng bôn ba khắp đất nước Nga thánh thiện cùng ngài ấy. Chuyện đó đã từ rất lâu rồi, cách đây bốn mươi năm, khi cha Zossima mới bắt đầu cuộc đời tu hành tại một tu viện nhỏ nghèo nàn ở Kostroma, và chẳng bao lâu sau đó, ngài đã đồng hành cùng cha Anfim trong cuộc hành hương đi khất thực cho tu viện nghèo của họ.
Toàn bộ nhóm người đều ở trong phòng ngủ vốn, như chúng ta đã nhắc đến trước đó, rất nhỏ bé, đến mức suýt chút nữa không còn đủ chỗ cho cả bốn người (chưa kể chú tập sinh Porfiry đang đứng) ngồi vây quanh cha Zossima trên những chiếc ghế mang từ phòng khách sang. Trời đã bắt đầu sẫm tối, căn phòng được thắp sáng bởi những ngọn đèn và nến trước các bức ảnh thánh.
Thấy Alyosha đứng bẽn lẽn ở khung cửa, cha Zossima mỉm cười đầy hoan hỉ và chìa tay ra với cậu.
– Chào con, đứa trẻ trầm lặng của ta, chào con, người con thân mến, con cũng đến đây rồi. Ta biết thể nào con cũng đến.
Alyosha tiến lại gần, phủ phục sát đất trước mặt ngài và bật khóc. Có cái gì đó trào dâng từ đáy lòng, tâm hồn cậu rung lên bần bật, cậu chỉ muốn nức nở.
– Thôi nào, đừng khóc vì ta vội thế chứ, – cha Zossima mỉm cười, đặt bàn tay phải lên đầu cậu. – Con thấy đấy, ta vẫn đang ngồi và trò chuyện cơ mà; biết đâu ta lại sống thêm hai mươi năm nữa ấy chứ, đúng như điều mà người phụ nữ tốt bụng đáng yêu từ Vishegorye, bế theo bé Lizaveta trên tay, đã chúc ta ngày hôm qua. Xin Chúa phù hộ cho người mẹ và cô bé Lizaveta, – ngài làm dấu thánh. – Porfiry, con đã mang món quà dâng cúng của bà ấy đến nơi ta dặn chưa?
Ý ngài là sáu mươi xu do người phụ nữ vui tính mang đến hôm trước để trao cho “ai đó nghèo khó hơn tôi.” Những khoản dâng cúng như vậy, luôn là tiền kiếm được bằng sức lao động cá nhân, được thực hiện như một hình thức chuộc tội tự nguyện. Vị Trưởng lão đã sai Porfiry đến gặp một góa phụ vào tối hôm trước – người có ngôi nhà vừa mới bị thiêu rụi và sau hỏa hoạn đã phải dắt díu các con đi khất thực. Porfiry vội vàng thưa rằng ngài đã trao tiền đúng như lời chỉ dẫn, “từ một vị ân nhân giấu mặt.”
– Đứng lên đi con trai yêu quý, – vị Trưởng lão nói tiếp với Alyosha. – Hãy để ta nhìn con một chút. Con đã về nhà và gặp anh trai mình chưa? Alyosha thấy thật lạ lùng khi ngài hỏi một cách đầy quả quyết và chính xác như vậy về chỉ một người trong số các anh em cậu – nhưng là ai cơ chứ? Lúc đó, có lẽ ngài đã sai cậu đi cả ngày hôm qua lẫn hôm nay cốt vì người anh ấy.
– Con đã gặp một người anh của con, – Alyosha đáp.
– Ý ta là người anh lớn, người mà ta đã phủ phục.
– Con chỉ gặp anh ấy hôm qua và hôm nay không sao tìm được, – Alyosha nói.
– Hãy mau chóng tìm nó, ngày mai lại đi tìm và phải thật khẩn trương, bỏ hết mọi việc mà đi. Biết đâu con vẫn còn kịp để ngăn chặn một điều khủng khiếp nào đó. Hôm qua ta đã cúi đầu trước nỗi thống khổ lớn lao đang chờ đón nó.
Ngài đột nhiên im bặt và có vẻ trầm ngâm. Những lời ấy thật kỳ lạ. Cha Iosif, người từng chứng kiến cảnh tượng ngày hôm qua, liền đưa mắt nhìn cha Païssy. Alyosha không sao cưỡng lại được việc cất lời hỏi:
– Thưa cha và thầy, – cậu bắt đầu với niềm xúc động tột cùng, – lời của cha quá ư tối nghĩa... Nỗi thống khổ chờ đón anh ấy là gì vậy ạ?
– Đừng gặng hỏi. Hình như hôm qua ta đã thoáng thấy một điều gì kinh hoàng... như thể toàn bộ tương lai của nó đều hiện lên trong ánh mắt. Có một tia nhìn xuất hiện trong đôi mắt ấy – khiến ta ngay lập tức cảm thấy kinh hãi trước những gì con người đó đang tự chuốc lấy cho mình. Mấy lần trong đời ta từng thấy cái nhìn như thế trên gương mặt một người... phản chiếu như thể định mệnh tương lai của họ, và khốn thay, định mệnh ấy đã thực sự ứng nghiệm. Ta đã sai con đến với nó, Alexey, vì ta nghĩ gương mặt mang tình huynh đệ của con sẽ giúp ích cho nó. Nhưng vạn vật và mọi số phận của chúng ta đều từ Chúa mà ra. “Trừ khi hạt lúa mì rơi xuống đất và chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết đi, nó sẽ sinh ra nhiều trái.” Hãy nhớ điều đó. Hỡi Alexey, ta đã nhiều lần thầm chúc phúc cho gương mặt con vì nó, hãy biết điều đó, – vị Trưởng lão nói thêm với một nụ cười dịu dàng. – Đây là những gì ta nghĩ về con: con sẽ rời khỏi những bức tường này, nhưng sẽ sống như một tu sĩ giữa thế gian. Con sẽ gặp nhiều kẻ thù, nhưng ngay cả những kẻ nghịch với con cũng sẽ yêu quý con. Cuộc đời sẽ mang lại cho con nhiều bất hạnh, nhưng con sẽ tìm thấy hạnh phúc trong chính những điều đó, và sẽ chúc phúc cho cuộc đời, sẽ khiến người khác phải chúc phúc cho nó – đó mới là điều quan trọng nhất. Vâng, tính cách con là thế. Hỡi các cha và các thầy, – ngài quay sang những người bạn của mình với một nụ cười trìu mến, – cho đến tận hôm nay, chưa bao giờ ta nói cho dẫu chính cậu ấy biết lý do vì sao gương mặt của thiếu niên này lại thân thiết với ta đến thế. Giờ thì ta sẽ nói cho các vị nghe. Gương mặt cậu ấy đối với ta giống như một ký ức và một lời tiên tri. Vào buổi bình minh cuộc đời, khi còn là một đứa trẻ, ta có một người anh trai đã qua đời ngay trước mắt ta khi mới mười bảy tuổi. Và sau này trong suốt cuộc đời, ta dần dần xác tín rằng người anh ấy chính là sự dẫn dắt và là dấu hiệu từ trên cao dành cho ta. Bởi nếu cậu ấy không bước vào đời ta, có lẽ – ít ra ta vẫn nghĩ thế – ta đã chẳng bao giờ trở thành tu sĩ và dấn thân vào con đường trân quý này. Cậu ấy xuất hiện lần đầu trước mắt ta thời thơ ấu, và giờ đây, ở chặng cuối cuộc hành hương của mình, hình như cậu ấy lại đến với ta một lần nữa. Thật kỳ diệu làm sao, hỡi các cha và các thầy, khi Alexey – dù có vài nét giống, dẫu không nhiều – lại khiến ta cảm thấy giống hệt người ấy về mặt tâm linh, đến nỗi nhiều lần ta đã lầm tưởng cậu ấy chính là thiếu niên kia, là người anh trai của ta, một cách đầy huyền nhiệm đã quay trở lại với ta vào cuối chặng hành hương, như một lời nhắc nhở và nguồn cảm hứng. Đến mức ta thực sự kinh ngạc trước một giấc mơ kỳ lạ như vậy ở chính mình. Các vị có nghe thấy không, Porfiry? – ngài quay sang chú tập sinh đang hầu hạ mình. – Nhiều lần ta đã nhìn thấy trên gương mặt con sự tổn thương vì tưởng rằng ta yêu Alexey hơn con. Giờ thì con đã biết lý do tại sao rồi, nhưng ta cũng yêu con nữa, hãy biết cho, và nhiều lần ta đã đau lòng trước sự tủi thân của con. Ta muốn kể cho các vị nghe, những người bạn thân mến, về thiếu niên ấy, người anh của ta, bởi chẳng có sự hiện diện nào trong đời ta lại quý giá, ý nghĩa và cảm động hơn thế. Lòng ta tràn ngập sự dịu dàng, và vào khoảnh khắc này, ta nhìn toàn bộ cuộc đời mình như thể đang được sống lại một lần nữa.
Ở đây tôi phải lưu ý rằng cuộc trò chuyện cuối cùng này của cha Zossima với những người bạn đã đến thăm ngài vào ngày cuối cùng của cuộc đời đã được ghi chép lại một phần. Alexey Fyodorovitch Karamazov đã ghi lại từ ký ức, một thời gian sau khi vị Trưởng lão qua đời. Nhưng đây chỉ là cuộc trò chuyện diễn ra lúc đó, hay cậu có bổ sung thêm ghi chép về các phần của những cuộc trò chuyện trước đây với thầy mình hay không, thì tôi không thể xác định được. Trong lời kể của cậu, những lời của cha Zossima diễn ra một mạch không ngắt quãng, như thể ngài đang kể lại cuộc đời mình cho bạn bè nghe dưới hình thức một câu chuyện, dẫu không còn nghi ngờ gì nữa, từ các lời kể khác thì cuộc trò chuyện tối hôm đó mang tính chất chung. Mặc dù các vị khách không ngắt lời cha Zossima nhiều, nhưng chính họ cũng trò chuyện, thậm chí có lẽ còn tự mình kể vài điều gì đó. Hơn nữa, cha Zossima không thể nào duy trì một mạch chuyện liên tục được, vì thỉnh thoảng ngài lại hụt hơi, giọng nói đứt quãng, thậm chí ngài còn nằm xuống giường để nghỉ ngơi, dẫu ngài không hề ngủ thiếp đi và các vị khách vẫn ngồi nguyên tại chỗ. Có một hai lần cuộc trò chuyện bị ngắt quãng bởi tiếng đọc Phúc Âm của cha Païssy. Cũng cần phải lưu ý rằng, không một ai trong số họ nghĩ rằng ngài sẽ qua đời vào đêm hôm đó, bởi vào buổi tối hôm ấy của cuộc đời, sau giấc ngủ say ban ngày, ngài dường như đột nhiên tìm thấy nguồn sức mạnh mới, giúp ngài duy trì suốt buổi trò chuyện dài này. Nó giống như nỗ lực tình yêu cuối cùng mang lại cho ngài năng lượng kỳ diệu; tuy nhiên chỉ trong một chốc lát, bởi cuộc đời ngài đã bị cắt ngắn ngay sau đó... Nhưng chuyện đó sẽ nói sau. Giờ tôi chỉ xin nói thêm rằng tôi thích giới hạn bản thân trong lời kể của Alexey Fyodorovitch Karamazov hơn. Nó sẽ ngắn gọn hơn và đỡ mệt nhọc hơn, dẫu tất nhiên, như tôi phải nhắc lại, Alyosha đã chắt lọc rất nhiều từ các cuộc trò chuyện trước đó và lồng ghép vào.
Những ghi chép về Cuộc đời của Cố linh mục kiêm tu sĩ, Trưởng lão Zossima, được ghi lại từ chính lời ngài bởi Alexey Fyodorovitch Karamazov.
NHỮNG GHI CHÉP TIỂU SỬ
(a) Người anh của cha Zossima
Hỡi những người cha và người thầy thân kính, tôi sinh ra ở một tỉnh lỵ xa xôi miền bắc, tại thị trấn V. Cha tôi là một quý tộc gốc gác, nhưng không có mấy thế lực hay địa vị. Ông qua đời khi tôi mới được hai tuổi, và tôi hoàn toàn chẳng nhớ gì về ông. Ông để lại cho mẹ tôi một ngôi nhà gỗ nhỏ và một gia tài không lớn, nhưng đủ để bà nuôi sống các con trong cảnh sung túc. Chúng tôi có hai anh em, người anh cả Markel và tôi. Anh ấy lớn hơn tôi tám tuổi, tính tình bồng bột, hay cáu kỉnh nhưng nhân hậu và chưa bao giờ mỉa mai ai. Anh rất ít nói, nhất là khi ở nhà với tôi, mẹ tôi và các gia nhân. Anh học hành rất khá, nhưng không hòa hợp với bạn bè cùng trường, dẫu chưa bao giờ gây gỗ, ít nhất là mẹ tôi đã kể vậy. Sáu tháng trước khi qua đời, khi vừa tròn mười bảy tuổi, anh kết bạn với một người bị lưu đày chính trị từ Mát-xcơ-va đến thị trấn chúng tôi vì tội tự do tư tưởng, và sống một mình ở đó. Ông là một học giả giỏi từng đạt danh hiệu xuất sắc về triết học tại trường đại học. Không hiểu sao ông lại có thiện cảm với Markel và thường hay mời anh đến chơi. Cậu thanh niên thường dành toàn bộ buổi tối bên ông trong suốt mùa đông ấy, cho đến khi người lưu đày được triệu hồi về Petersburg để nhận lại chức vụ theo nguyện vọng riêng, nhờ có những người bạn thế lực.
Đó là đầu mùa chay, và Markel nhất quyết không chịu ăn chay, anh còn tỏ ra hỗn hào và nhạo báng chuyện đó. “Toàn những thứ nhảm nhí ngớ ngẩn, chẳng có Chúa tể nào sất,” anh nói, khiến mẹ tôi, các gia nhân và cả tôi nữa phải hoảng sợ. Bởi dẫu lúc đó tôi mới chín tuổi, tôi cũng vô cùng kinh hãi khi nghe những lời như thế. Nhà chúng tôi có bốn người hầu, toàn là nông nô. Tôi nhớ mẹ tôi đã bán một trong bốn người, mụ đầu bếp Afimya đã già và thọt chân, lấy sáu mươi rúp tiền giấy, rồi thuê một người hầu tự do đến thay thế.
Vào tuần thứ sáu của mùa chay, người anh tôi – vốn dĩ thể lực chưa bao giờ khỏe mạnh và có mầm mống bệnh lao – bỗng lâm bệnh. Anh cao gầy, có vẻ mỏng manh nhưng nét mặt rất đỗi dễ mến. Chắc là anh đã nhiễm lạnh, dù sao thì vị bác sĩ đến khám cũng sớm thì thầm với mẹ tôi rằng đó là bệnh lao cấp tính, rằng anh sẽ không thể qua khỏi mùa xuân. Mẹ tôi bắt đầu khóc lóc, và để tránh làm anh hoảng sợ, bà van xin anh hãy đến nhà thờ, xưng tội và rước lễ, vì anh vẫn còn đi lại được. Điều đó khiến anh nổi giận, và anh thốt lên những lời bất kính về nhà thờ. Tuy nhiên, anh bắt đầu trầm ng ngâm suy nghĩ; anh nhận ra ngay mình đã bị bệnh nặng, và đó là lý do vì sao mẹ đang khẩn khoản xin anh xưng tội và rước lễ. Quả thực, từ lâu anh đã ý thức được rằng sức khỏe mình chẳng lấy gì làm tốt, và một năm trước từng thản nhiên nói trong bữa ăn với mẹ và tôi rằng: “Đời con ở giữa mọi người sẽ chẳng kéo dài đâu, có lẽ con chẳng sống nổi qua năm sau nữa,” giờ đây câu nói đó ngẫm lại giống như một lời tiên tri.
Ba ngày trôi qua và Tuần Thánh đã đến. Vào sáng thứ Ba, người anh bắt đầu đi nhà thờ. “Con làm điều này cốt vì mẹ thôi, để làm mẹ vui lòng và an lòng đấy,” anh nói. Mẹ tôi khóc nức nở trong nỗi vui mừng lẫn buồn tủi. “Chắc tận cùng của nó đã gần kề rồi,” bà nghĩ, “nếu nó có sự thay đổi lớn đến thế.” Nhưng anh chẳng thể đi nhà thờ lâu được, anh phải nằm liệt giường, thế là đành phải xưng tội và rước lễ ngay tại nhà.
Năm ấy Lễ Phục sinh đến muộn, những ngày trời sáng sủa, đẹp đẽ và ngập tràn hương thơm. Tôi nhớ anh cứ ho suốt đêm và ngủ rất kém, nhưng buổi sáng anh vẫn mặc quần áo và cố gắng ngồi dậy trên chiếc ghế bành. Đó là dáng hình tôi nhớ về anh khi ấy: ngọt ngào, dịu dàng, mỉm cười, nét mặt rạng rỡ và hân hoan dẫu bệnh tật vây quanh. Một sự biến đổi kỳ diệu đã diễn ra nơi anh, tâm hồn anh như được hóa phép. Mụ vú già bước vào và nói: “Để em thắp ngọn đèn trước ảnh thánh nhé, cậu chủ nhỏ của tôi.” Có những lúc trước kia anh nhất định không cho phép và sẽ thổi tắt ngay.
– Thắp đi, thắp đi em, anh thật tệ hại khi đã ngăn cản em làm việc đó. Em đang cầu nguyện lúc thắp đèn, còn anh đang cầu nguyện khi hoan hỉ nhìn em. Thế là chúng ta đang cùng hướng về một vị Chúa.
Những lời ấy đối với chúng tôi thật lạ lùng, và mẹ sẽ lui về phòng riêng mà khóc, nhưng khi bước vào phòng anh, bà lại lau khô nước mắt và trưng ra vẻ mặt tươi vui. “Mẹ ơi, đừng khóc nữa, cục cưng của mẹ,” anh sẽ bảo, “con còn sống lâu chán, còn lâu mới hết chuyện để vui vầy cùng mẹ, cuộc đời này thật sung sướng và hoan hỉ.”
– Ôi con trai ngoan, sao con lại có thể nói về niềm vui khi mà ban đêm con cứ nằm sốt, ho rũ rượi như muốn xé nát cả lồng ngực cơ chứ.
– Đừng khóc, mẹ ạ, – anh đáp, – cuộc đời này chính là thiên đường, và tất cả chúng ta đều đang ở trong thiên đường, chỉ là chúng ta không chịu nhìn ra đấy thôi; nếu chúng ta muốn, ngay ngày mai thôi trần gian này sẽ hóa thiên đường.
Mọi người đều kinh ngạc trước những lời nói của anh, cách anh nói sao mà kỳ lạ và quả quyết đến thế; tất cả chúng tôi đều xúc động và rơi nước mắt. Bạn bè đến thăm. “Những người thân yêu của tôi ơi,” anh thường bảo họ, “tôi đã làm gì nên tội để các người yêu quý tôi đến thế, sao các người có thể yêu thương một kẻ như tôi, và tại sao trước kia tôi lại không biết, lại không trân trọng điều đó cơ chứ?”
Khi những người hầu bước vào phòng, anh liên tục nói: “Những con người tốt bụng, hiền hậu ơi, sao các người lại làm nhiều điều vì tôi đến thế, tôi có đáng được hầu hạ không? Nếu Chúa muốn cho tôi sống, tôi sẽ là người hầu hạ các người, bởi lẽ hết thảy mọi người đều nên hầu hạ lẫn nhau.”
Mẹ lắc đầu lắng nghe. “Cục cưng của mẹ ơi, chính bệnh tật mới khiến con ăn nói như thế.”
– Mẹ yêu dấu ơi, – anh sẽ nói, – thiên hạ ắt phải có kẻ ăn người ở, nhưng nếu đã thế thì con sẽ làm người hầu cho những kẻ hầu của con, y như cách họ đối xử với con vậy. Và thêm điều này nữa, mẹ ạ, mỗi người trong chúng ta đều đã phạm tội chống lại tất cả mọi người, và con là kẻ tội lỗi hơn ai hết.
Mẹ quả thực đã mỉm cười trước câu nói ấy, mỉm cười qua làn nước mắt. “Kia kìa, sao con lại có thể phạm tội chống lại tất cả mọi người, lại còn hơn tất cả nữa chứ? Bọn cướp bóc và kẻ sát nhân mới làm thế, chứ con đã phạm tội gì cơ chứ, mà lại tự nhận mình là kẻ có tội đầm đìa hơn hết thảy mọi người?”
– Mẹ ơi, trái tim bé bỏng của con, – anh nói (anh bắt đầu dùng những từ ngữ vuốt ve kỳ lạ ấy từ dạo đó), – trái tim bé bỏng của con, niềm vui của con, tin con đi, thực sự thì mỗi người đều phải chịu trách nhiệm trước mọi người về tất cả mọi người và mọi thứ. Con không biết phải giải thích cho mẹ hiểu thế nào, nhưng con cảm thấy nó là như vậy, thậm chí đau đớn là đằng khác. Thế mà sao trước kia chúng ta vẫn cứ sống, cứ nổi giận với nhau mà chẳng hề hay biết gì cơ chứ?
Cứ thế, ngày nào anh cũng chỗi dậy, ngày càng ngọt ngào, hoan hỉ và tràn ngập tình yêu thương. Khi vị bác sĩ, một lão người Đức tên là Eisenschmidt, đến thăm:
– Nào bác sĩ, tôi còn được sống trên cõi đời này thêm ngày nào nữa không? – anh thường hỏi, đùa cợt.
– Cậu còn sống thêm nhiều ngày nữa ấy chứ, – bác sĩ sẽ đáp, – và cả tháng lẫn năm nữa cơ.
– Tháng với chả năm! – anh sẽ thốt lên. – Sao lại phải tính đếm từng ngày làm gì? Chỉ một ngày thôi cũng đủ để con người ta thấu triệt mọi niềm hạnh phúc rồi. Hỡi những người thân yêu của tôi, sao chúng ta cứ phải cãi vã, cứ cố vượt qua nhau và mang trong lòng những mối hằn thù? Nào chúng ta hãy cùng ra thẳng khu vườn, đi dạo và nô đùa ở đó, hãy yêu thương, trân trọng, ôm hôn nhau và ca tụng cuộc đời.
– Con trai bà chẳng sống được lâu nữa đâu, – bác sĩ bảo mẹ tôi khi bà tiễn ông ra tận cửa. – Căn bệnh đang tác động lên bộ não của cậu ấy rồi.
Các cửa sổ phòng anh nhìn ra khu vườn, và khu vườn nhà chúng tôi rất râm mát, với những cổ thụ đang nhú lộc non. Những cánh chim đầu mùa xuân bay lượn qua các cành cây, hót líu lo và ca hát ngoài khung cửa sổ. Nhìn ngắm và trầm trồ trước chúng, anh bỗng bắt đầu khẩn khoản xin cả loài chim tha thứ: “Hỡi những cánh chim trên trời, những chú chim hạnh phúc, hãy tha thứ cho tôi, vì tôi cũng đã phạm tội với các bạn nữa rồi.” Lúc bấy giờ chẳng ai trong chúng tôi hiểu được điều đó, nhưng anh đã rơi những giọt nước mắt hoan hỉ. “Đúng vậy,” anh nói, “vinh quang của Chúa hiện diện khắp nơi quanh tôi: chim chóc, cây cối, đồng cỏ, bầu trời; chỉ có tôi là sống trong sự hổ thẹn, phỉ báng tất cả những điều ấy mà chẳng mảy may nhận ra vẻ đẹp và vinh quang.”
– Con cứ vơ lấy lắm tội lỗi vào người thế, – mẹ thường bảo, vừa khóc vừa nói.
– Mẹ yêu dấu ơi, con khóc vì sung sướng chứ có phải vì đau buồn đâu. Dù con không thể giải thích cho mẹ hiểu, nhưng con thích được hạ mình trước chúng, bởi con chẳng biết làm sao để yêu chúng cho đủ. Nếu con có phạm tội với tất cả mọi người, thì tất cả mọi người cũng đều tha thứ cho con, và đó chính là thiên đường. Chẳng phải giờ đây con đang ở chốn thiên đường đó sao?
Và còn rất nhiều điều nữa mà tôi không tài nào nhớ hết. Tôi nhớ có lần mình bước vào phòng anh khi chẳng có ai ở đó. Đó là một buổi chiều rạng rỡ, mặt trời đang lặn và cả căn phòng ngập tràn ánh sáng. Anh ra hiệu gọi tôi, và tôi tiến lại gần. Anh đặt hai tay lên vai tôi, trìu mến và yêu thương nhìn sâu vào mắt tôi; anh lặng thinh suốt một phút, cứ thế nhìn tôi chăm chú.
– Thôi, – anh nói, – chạy đi chơi đi con, hãy tận hưởng cuộc đời thay cả phần của ta nữa nhé.
Lúc đó tôi bước ra ngoài và chạy đi chơi. Để rồi sau này, trong suốt cuộc đời, có rất nhiều lần tôi nhớ lại – thậm chí rơi nước mắt – lời anh dặn hãy tận hưởng cuộc đời thay cả phần anh. Còn rất nhiều lời nói kỳ diệu và tốt đẹp khác của anh, dẫu lúc đó chúng tôi chẳng thể hiểu nổi. Anh qua đời vào tuần thứ ba sau Lễ Phục sinh. Anh hoàn toàn tỉnh táo dẫu không thể cất lời; cho đến tận giờ phút cuối cùng, anh vẫn không hề thay đổi. Trông anh hạnh phúc, đôi mắt ánh lên rạng rỡ tìm kiếm chúng tôi, anh mỉm cười và ra hiệu gọi chúng tôi. Chuyện về cái chết của anh đã lan truyền và bàn tán xôn xao khắp cả thị trấn. Lúc bấy giờ tôi thực sự bị ấn tượng bởi tất cả những điều đó, nhưng cũng không quá mức, dẫu tôi đã khóc rất nhiều trong đám tang anh. Khi ấy tôi còn nhỏ, hãy còn là một đứa trẻ, nhưng một ấn tượng sâu đậm, một cảm giác ngầm ẩn về tất cả những điều đó vẫn ở lại trong tim tôi, sẵn sàng trỗi dậy và hưởng ứng khi thời cơ đến. Quả nhiên sự thật đã là như vậy.
(b) Về Kinh Thánh trong cuộc đời của cha Zossima
Tôi ở lại một mình với mẹ. Bạn bè bắt đầu khuyên bà nên gửi tôi đến Petersburg giống như những bậc cha mẹ khác. “Chị chỉ còn mỗi đứa con trai,” họ bảo, “lại có thu nhập khá giả, nếu giữ nó ở đây rất có thể chị sẽ tước mất của nó một tương lai rực rỡ.” Họ đề nghị cho tôi vào học trường Sĩ quan Thiếu sinh quân ở Petersburg, để sau đó tôi có thể gia nhập Đội Cận vệ Hoàng gia. Mẹ tôi ngập ngừng suốt một thời gian dài, việc phải rời xa đứa con duy nhất thật là cay đắng, nhưng cuối cùng bà cũng quyết định, dẫu không tránh khỏi những giọt nước mắt, vì tin rằng mình đang làm điều tốt nhất cho hạnh phúc của tôi. Bà đưa tôi đến Petersburg, cho tôi vào học trường Sĩ quan Thiếu sinh quân, và từ đó tôi không bao giờ gặp lại bà nữa. Bởi bà cũng qua đời chỉ ba năm sau đó. Bà đã dành trọn ba năm trời ấy trong niềm tiếc thương và đau buồn cho cả hai mẹ con.
Từ ngôi nhà thời thơ ấu, tôi chẳng mang theo gì ngoài những kỷ niệm trân quý, bởi chẳng có ký ức nào quý giá hơn những ký ức tuổi thơ ấu tại mái ấm đầu đời. Và hầu như luôn là như thế nếu trong gia đình vẫn có đôi chút tình yêu thương và hòa hợp. Quả thực, những kỷ niệm trân quý thậm chí có thể ở lại ngay cả trong một gia đình tồi tệ, miễn là con người ta biết cách tìm ra những điều trân quý ấy trong tim. Cùng với những kỷ niệm về mái nhà xưa, tôi còn gom góp cả những ký ức về Kinh Thánh – cuốn sách mà khi còn là một đứa trẻ, tôi đã vô cùng háo hức được đọc ngay tại nhà. Lúc đó tôi có một cuốn lịch sử Kinh Thánh với những hình minh họa tuyệt đẹp, mang tựa đề Một Trăm Lẻ Bốn Câu Chuyện Từ Cựu Ước và Tân Ước, và tôi đã học đọc từ chính cuốn sách đó. Bây giờ nó vẫn đang nằm trên giá sách của tôi, tôi giữ nó như một bảo vật thiêng liêng của quá khứ. Nhưng ngay cả trước khi học đọc, tôi nhớ lần đầu tiên trái tim mình rung động trước cảm xúc sùng kính là năm lên tám tuổi. Mẹ đưa một mình tôi đi làm lễ (tôi không nhớ lúc đó anh tôi đang ở đâu) vào ngày thứ Hai trước lễ Phục sinh. Hôm ấy trời đẹp, và đến tận hôm nay, tôi vẫn nhớ như in – cứ như thể nó đang hiện ra trước mắt – làn khói trầm hương từ chiếc đỉnh xông trầm bay bổng nhẹ nhàng lên cao và, ở phía trên mái vòm, hòa quyện trong những làn sóng ánh sáng mặt trời rọi qua khung cửa sổ nhỏ. Cảnh tượng ấy đã lay động tôi, và lần đầu tiên trong đời, tôi đã ý thức được việc tiếp nhận hạt giống lời Chúa vào tâm lòng mình. Một thiếu niên bước ra giữa giáo đường mang theo một cuốn sách lớn, to đến mức lúc đó tôi tưởng cậu suýt chẳng nổi nó. Cậu đặt nó lên bục đọc, mở ra và bắt đầu cất tiếng đọc, rồi bỗng nhiên, lần đầu tiên tôi hiểu được một điều gì đó được đọc trong ngôi nhà của Chúa. Tại xứ Uz, có một người sống công chính và kính sợ Chúa, ông có rất nhiều tài sản, nào lạc đà, nào cừu và lừa, các con của ông mở tiệc ăn mừng, và ông rất mực yêu thương chúng, hằng cầu nguyện cho chúng. “Biết đâu các con ta đã phạm tội trong những bữa tiệc tẻ.” Bấy giờ quỷ dữ đến trước mặt Chúa cùng với các con cái của Thiên Chúa, và thưa với Chúa rằng nó đã đi ngược về xuôi khắp mặt đất và bên dưới lòng đất. “Ngươi có để ý đến tôi tới Gióp của ta không?” Chúa hỏi nó. Và Chúa khoe khoang với quỷ dữ, chỉ vào người tôi tớ vĩ đại và thánh thiện của Ngài. Quỷ dữ bật cười trước lời của Chúa. “Xin hãy phó nó cho ta và Ngài sẽ thấy tôi tớ của Ngài sẽ oán trách Ngài và nguyền rủa danh Ngài cho mà xem.” Và Chúa đã phó người công chính mà Ngài hằng yêu quý ấy cho quỷ dữ. Thế là quỷ dữ ra tay đánh đập con cái cùng gia súc của Gióp và tàn phá tài sản của ông, chớp nhoáng như một tia chớp từ trời giáng xuống. Gióp liền xé áo choàng, phủ phục xuống đất và cất tiếng khóc lớn: “Thân trần truồng tôi lọt lòng mẹ, và tôi sẽ trở về nơi đất lạnh cũng với thân trần; Chúa đã ban cho và Chúa đã cất đi. Nguyện danh Chúa được chúc tụng đời đời kiếp kiếp.”
Hỡi các cha và các thầy, xin hãy tha thứ cho những giọt nước mắt lúc này của tôi, bởi toàn bộ tuổi thơ tôi lại ùa về trước mắt, và lồng ngực tôi lúc này đang thở dốc như lồng ngực của đứa trẻ tám tuổi ngày xưa, tôi lại cảm thấy sự kinh ngạc, sùng kính và hoan hỉ y như thuở ấy. Những con lúc đó đã chiếm trọn trí tưởng tượng của tôi, cả Satan – kẻ đã đối thoại như thế với Chúa, và Thiên Chúa – Đấng đã phó mặc tôi tớ của mình cho sự hủy diệt, cùng với lời kêu than của người tôi tớ: “Nguyện danh Ngài được chúc tụng dẫu Ngài trừng phạt con,” rồi tiếp đó là tiếng hát du dương êm dịu trong nhà thờ: “Nguyện xin lời cầu nguyện của con dâng lên trước nhan Ngài,” rồi lại làn khói trầm từ lư hương của linh mục, cùng những nhịp quỳ lạy và lời cầu nguyện. Kể từ dạo đó – mãi cho đến tận hôm qua khi tôi cầm nó lên – tôi chưa bao giờ có thể đọc câu chuyện thánh thiêng ấy mà không rơi nước mắt. Và trong đó biết bao điều vĩ đại, huyền nhiệm và khôn lường làm sao! Sau này tôi từng nghe những lời chế giễu và chê trách, những lời ngạo mạn rằng: “Sao Chúa có thể phó mặc người thánh thiện nhất của Ngài cho trò tiêu khiển của quỷ dữ, cướp đi con cái của ông, đánh đập ông bằng nhữngh nhọt mưng mủ đến mức ông phải dùng mảnh sành gạt bỏ mủ hôi thối từ các vết lở loét – và chẳng vì mục đích gì ngoài việc khoe khoang với quỷ dữ! ‘Hãy nhìn xem tôi tớ của Ta có thể chịu đựng những gì vì Ta.’ ” Nhưng sự vĩ đại của nó lại nằm chính ở chỗ đó là một điều huyền nhiệm – nơi bức tranh trần thế phù du và chân lý vĩnh hằng hòa quyện làm một. Trước mặt chân lý trần thế, chân lý vĩnh hằng được thực hiện. Đấng Tạo Hóa, y như những ngày đầu tiên của công trình sáng tạo khi Ngài kết thúc mỗi ngày bằng lời ca tụng: “Những gì Ta tạo dựng thật tốt đẹp,” ngài nhìn Gióp và một lần nữa ca ngợi công trình của mình. Và Gióp, khi ca ngợi Chúa, không chỉ phụng sự một mình Ngài mà còn phụng sự toàn thể thọ tạo của Ngài qua muôn đời muôn thuở, đời đời kiếp kiếp, bởi vì ông đã được định sẵn cho sứ mệnh đó. Lạy Chúa tôi, đó là một cuốn sách thế nào cơ chứ, và trong đó ẩn chứa biết bao bài học! Kinh Thánh quả là một cuốn sách vĩ đại, là một phép màu, một nguồn sức mạnh dường bao được ban cho con người! Nó giống như một chiếc khuôn đúc nên thế giới, con người và bản tính nhân loại, vạn vật đều có đủ ở đó, và có cả luật lệ cho mọi thời đại. Biết bao điều huyền nhiệm được giải đáp và phơi bày! Chúa phục hồi cho Gióp, ban lại cho ông của cải. Nhiều năm trôi qua, ông có những đứa con khác và yêu thương chúng. Nhưng làm sao ông có thể yêu những đứa con mới ấy khi những đứa con đầu lòng chẳng còn nữa, khi ông đã mất chúng rồi? Khi nhớ về chúng, làm sao ông có thể hoàn toàn hạnh phúc với những đứa con mới, dẫu chúng có đáng yêu đến đâu đi nữa? Thế mà ông vẫn có thể, ông có thể đấy thôi. Đó chính là huyền nhiệm vĩ đại của đời người rằng nỗi đau buồn cũ dần nhường chỗ cho niềm vui thanh thản, dịu dàng. Sự bình thản hiền hòa của tuổi già thay thế cho dòng máu sôi sục của tuổi trẻ. Tôi chúc phúc cho mặt trời mọc mỗi ngày, và như trước kia, trái tim tôi cất tiếng ca chào đón nó, nhưng giờ đây tôi còn yêu hơn cả buổi hoàng hôn của nó, những tia nắng dài xiên khoác cùng những ký ức ngọt ngào, dịu êm, mềm mại kéo theo đó, những hình ảnh thân thương từ suốt cuộc đời dài hạnh phúc của tôi – và trên tất cả là Chân Lý Thiên Thượng đang vỗ về, hòa giải và dung thứ! Cuộc đời tôi đang dần khép lại, tôi thừa hiểu điều đó, nhưng mỗi ngày còn lại tôi đều cảm nhận rõ đời sống trần thế của mình đang chạm đến một cõi vô biên mới mẻ, ẩn mật, chính là cuộc đời đang tới gần ấy, sự gần gũi của nó khiến tâm hồn tôi run rẩy vì ngất ngây, tâm trí tôi bừng sáng và trái tim tôi bật khóc vì hoan hỉ. Hỡi những người bạn và người thầy, tôi đã nghe không chỉ một lần, và dạo gần đây còn nghe thường xuyên hơn, rằng các tu sĩ, trên hết là các linh mục làng xã, đang than vãn khắp nơi về mức thu nhập khốn cùng và số phận nhục nhã của họ. Họ nói thẳng ra, thậm chí cả trên báo chí – chính tôi đã đọc được – rằng họ không đủ khả năng để dạy Kinh Thánh cho người dân vì phương tiện nghèo nàn quá hạn hẹp, và nếu phái Lu-thơ hay dị giáo có đến dẫn dụ bầy chiên đi lạc lối, thì họ đành buông xuôi để mặc chúng lôi kéo bởi họ quá nghèo khó không đủ sống. Nguyện xin Chúa gia tăng của cải nuôi thân vô cùng trân quý ấy cho họ, bởi lời than vãn của họ cũng có lý. Nhưng quả thực tôi nói rằng, nếu có ai đáng trách trong chuyện này, thì một nửa lỗi lầm thuộc về chúng ta. Bởi linh mục ấy có thể thiếu thời gian, ông có thể nói đúng rằng suốt ngày ông bị vây quanh bởi công việc và các thánh lễ, nhưng dẫu sao thì cũng chẳng phải lúc nào cũng bận, dẫu gì thì một tuần ông cũng có lấy một tiếng để nhớ đến Chúa. Và ông đâu có làm việc quanh năm suốt tháng. Hãy để ông quy tụ mọi người lại một lần trong tuần, vào một giờ nào đó buổi tối, chí ít là trẻ con trước đã – rồi các bậc cha mẹ nghe tiếng cũng sẽ bắt đầu đến theo. Chẳng cần phải xây dựng những hội trường lớn lao gì cho cam, cứ đưa chúng vào chính túp lều của mình ấy. Chúng có làm hỏng túp lều của ông đâu, chúng chỉ ở đó có một tiếng đồng hồ thôi mà. Hãy để ông mở cuốn sách ấy ra và bắt đầu đọc mà không cần những lời lẽ đao to búa lớn hay vẻ trịch thượng, không cần sự ban ơn trỏng trơn, mà hãy đọc một cách dịu dàng, nhân hậu, tỏ ra hoan hỉ vì mình đang đọc cho họ nghe và họ đang chăm chú lắng nghe, tự mình yêu mến những con chữ ấy, chỉ thỉnh thoảng dừng lại để giải thích những từ ngữ mà những người nông dân không hiểu. Đừng lo lắng, họ sẽ hiểu tất cả, trái tim của người tín đồ chính thống sẽ hiểu hết mọi điều! Hãy để ông đọc cho họ nghe về Abraham và Sarah, về Isaac và Rebecca, về việc Jacob đã đi đến chỗ Laban và vật lộn với Chúa trong giấc mơ rồi thốt lên: “Nơi này thật thánh thiện” – và ông sẽ khắc ghi vào tâm trí sùng kính của người nông dân. Hãy đọc cho họ nghe, nhất là lũ trẻ, về việc các người anh em đã bán Joseph, cậu thiếu niên dịu dàng, người mang giấc mơ và lời tiên tri, làm kẻ nô lệ, rồi phơi bày chiếc áo đẫm máu của cậu cho cha nghe và nói rằng cậu đã bị thú dữ ăn thịt. Hãy đọc cho họ nghe về việc sau đó những người anh em đã hành trình sang Ai Cập để mua lúa mì, và Joseph, lúc bấy giờ đã là một nhà cai trị vĩ đại, không bị họ nhận ra, đã giày vò họ, buộc tội họ, giữ người em Benjamin lại, và tất cả đều xuất phát từ tình yêu thương: “Ta yêu các ngươi, và vì yêu các ngươi nên ta mới giày vò các ngươi.” Bởi suốt cuộc đời, ông vẫn nhớ mãi cách họ từng bán ông cho đám thương nhân bên cái giếng giữa sa mạc cát cháy, nhớ cách ông vặn vẹo đôi bàn tay, khóc lóc van xin các người anh em đừng bán mình làm nô lệ ở một xứ sở xa lạ. Và cách ông, khi gặp lại họ sau bao năm dài, đã yêu thương họ vô bờ bến, nhưng vẫn làm khổ và giày vò họ trong tình yêu. Cuối cùng, không thể chịu đựng nổi nỗi thống khổ trong tim, ông đã rời khỏi họ, ngã gối xuống giường và bật khóc. Rồi lau khô nước mắt, ông bước ra gặp họ với vẻ mặt hoan hỉ và bảo rằng: “Hỡi các anh em, em chính là Joseph, người em của các anh đây!” Hãy đọc tiếp cho họ nghe về việc cụ già Jacob đã hạnh phúc biết bao khi biết đứa con trai cưng của mình vẫn còn sống, và cách ông đi đến Ai Cập rời bỏ quê hương xứ sở, qua đời nơi xứ người, để lại di chúc về lời tiên tri vĩ đại vốn ẩn giấu một cách huyền nhiệm trong trái tim hiền hòa và rụt rè suốt cuộc đời ông, rằng từ dòng dõi của ông, từ chi tộc Judah, sẽ xuất hiện niềm hy vọng lớn lao của nhân loại, chính là Đấng Mêsia và Đấng Cứu Thế.
Hỡi các cha và các thầy, xin hãy tha thứ và đừng nổi giận, khi tôi như một đứa trẻ cứ lải nhải về những điều mà các vị đã tường tận từ lâu, và có thể dạy dỗ tôi khéo léo hơn gấp trăm lần. Tôi chỉ nói ra từ niềm ngất ngây, và xin hãy tha thứ cho những giọt nước mắt của tôi, bởi tôi quá đỗi yêu mến Kinh Thánh. Linh mục của Chúa cũng hãy khóc đi, và hãy tin chắc rằng trái tim của những thính giả sẽ đập rộn ràng hưởng ứng. Chỉ cần một hạt giống nhỏ xíu thôi – hãy gieo nó vào tâm hồn người nông dân và nó sẽ không chết đâu, nó sẽ sống trong linh hồn họ suốt cuộc đời, sẽ ẩn giấu giữa chốn tối tăm và tội lỗi như một đốm sáng rực rỡ, như một lời nhắc nhở vĩ đại. Và chẳng cần phải giảng dạy hay giải thích gì nhiều đâu, họ sẽ hiểu tất cả một cách thật bình dị. Các vị cứ tưởng nông dân không hiểu gì sao? Hãy thử đọc cho họ nghe câu chuyện cảm động về nàng Esther xinh đẹp và người hoàng hậu ngạo mgn Vashti; hay câu chuyện kỳ diệu về Jonah trong bụng cá. Đừng quên cả những lời ví dụ của Chúa chúng ta, hãy chọn lọc đặc biệt từ Phúc Âm theo thánh Luca (đó là điều tôi đã làm), rồi từ Sách Công Vụ Tông Đồ về cuộc ho cải của thánh Phaolô (tuyệt đối không được bỏ sót phần đó), và từ các Sự Tích Các Thánh, chẳng hạn như cuộc đời của Alexey, người của Chúa, và vĩ đại nhất trong số đó, vị thánh tử vì đạo hạnh phúc và là kẻ được chiêm ng ngưỡng Chúa, Maria xứ Ai Cập – và các vị sẽ thấu triệt tâm can họ bằng những câu chuyện bình dị ấy. Hãy dành ra một lần một tuần cho việc đó dẫu các vị có nghèo khó, chỉ một tiếng ngắn ngủi thôi. Và các vị sẽ tự mình thấy rằng dân tộc chúng ta thật nhân hậu và biết ơn, họ sẽ báo đáp các vị gấp trăm lần. Ghi nhớ lòng tốt của vị linh mục và những lời lẽ cảm động đã nghe từ ngài, họ sẽ tự nguyện giúp đỡ ngài trong ruộng rồng lẫn việc nhà, và sẽ đối xử với ngài bằng sự kính trọng hơn trước – nhờ đó thậm chí còn làm gia tăng cả sự sung túc trần thế của ngài nữa. Mọi chuyện đơn giản đến mức thỉnh thoảng người ta còn ngại cất lời, sợ bị thiên hạ chê cười, thế mà sao nó lại chân lý đến thế! Kẻ không tin nơi Chúa sẽ chẳng thể tin nơi nhân dân của Chúa. Kẻ tin nơi nhân dân của Chúa sẽ nhìn thấy sự Thánh Thiện của Ngài, dẫu cho trước đó hắn chưa từng tin. Chỉ có nhân dân và sức mạnh tâm linh tương lai của họ mới có thể cảm hóa được những kẻ vô thần nước nhà – những kẻ đã tự rứt mình ra khỏi cội rễ quê hương.
Và những lời của Chúa Kitô sẽ có ích gì, nếu chúng ta không tự thân làm gương? Con người sẽ lầm đường lạc lối nếu thiếu đi Lời Chúa, bởi tâm hồn họ hằng khắc khoải khát khao Lời Chúa và mọi điều thiện lương.
Thời trẻ của tôi, từ rất lâu rồi, gần bốn mươi năm trước, tôi đã đi dọc khắp nước Nga cùng cha Anfim để quyên góp quỹ cho tu viện, và chúng tôi có một đêm dừng chân bên bờ một dòng sông lớn có tàu bè qua lại cùng một nhóm ngư dân. Một cậu thiếu niên nông dân khôi ngô, chừng mười tám tuổi, đã nhập bọn với chúng tôi; sáng hôm sau cậu phải vội vã quay về để kéo một chiếc xà lan thương thuyền dọc theo bờ sông. Tôi để ý thấy cậu cứ nhìn thẳng về phía trước với đôi mắt trong trẻo và dịu dàng. Đó là một đêm tháng Bảy rạng rỡ, ấm áp và tĩnh lặng, một lớp sương mù mát lạnh bốc lên từ dòng sông rộng lớn, chúng ta có thể nghe thấy tiếng cá quẫy nước, chim chóc ngừng hót, vạn vật đều chìm trong tĩnh mịch và tuyệt mỹ, tất cả đều đang cầu nguyện dâng lên Chúa. Chỉ có hai chúng tôi là không ngủ, cậu thiếu niên và tôi, và chúng tôi trò chuyện về vẻ đẹp của thế giới Chúa tạo cùng với huyền nhiệm vĩ đại ẩn chứa trong đó. Từng ngọn cỏ, từng con côn trùng, chú kiến, chú ong vàng, tất cả đều biết rõ lối đi của mình một cách kỳ diệu dẫu chẳng có trí khôn, chúng làm chứng cho huyền nhiệm của Chúa và tự mình liên tục hoàn thành điều đó. Tôi thấy trái tim cậu thiếu niên thân thương ấy đã bị lay động. Cậu kể cho tôi nghe rằng cậu rất yêu khu rừng và những chú chim trong rừng. Cậu là một thợ bẫy chim, thuộc làu tiếng kêu của từng loài, có thể gọi bất kỳ chú chim nào. “Chẳng có gì tuyệt bằng việc ở trong rừng,” cậu nói, “dẫu mọi thứ đều tốt đẹp cả.”
– Quả thật vậy, – tôi đáp cậu, – vạn vật đều tốt đẹp và xinh tươi, bởi tất cả đều là chân lý. Hãy nhìn xem, – tôi bảo, – con ngựa kìa, loài sinh vật to lớn ấy lại gần gũi với con người biết bao; hay chú bò hiền lành, trầm tư, kẻ mang lại thức ăn và lao động cho con người; hãy nhìn gương mặt chúng xem, sự hiền từ biết bao, lòng tận tụy nhường nào đối với con người – kẻ thường tàn nhẫn đánh đập chúng. Sự dịu dàng biết bao, lòng tin tưởng nhường nào và vẻ đẹp dường bao! Thật cảm động khi biết rằng chẳng có chút tội lỗi nào trong chúng, bởi tất cả, tất cả ngoại trừ con người, đều vô tội, và Chúa Kitô đã ở cùng chúng trước cả chúng ta.
– Sao cơ, – cậu bé hỏi, – Chúa Kitô cũng ở cùng chúng ư?
– Chắc chắn là phải thế rồi, – tôi nói, – bởi Lời Chúa dành cho muôn loài. Toàn thể thọ tạo và mọi sinh vật, từng chiếc lá đều đang vươn về phía Lời Chúa, ca tụng vinh quang Chúa, khóc than cùng Chúa Kitô, vô tình hoàn thành điều đó qua huyền nhiệm của một đời sống vô tội. Đằng kia, – tôi bảo, – trong khu rừng sâu thẳm kia đang lang thang con gấu đáng sợ, hung hãn và hiểm độc, thế mà nó vẫn vô tội trong hình hài đó. Và tôi kể cho cậu nghe về việc có lần một con gấu đã đến gặp một vị thánh nhân ẩn dật trong một túp lều nhỏ xíu trong rừng. Vị thánh vĩ đại động lòng trắc ẩn, ngài tiến đến gần nó không chút sợ hãi và trao cho nó một miếng bánh mì. “Đi đi,” ngài bảo, “Chúa Kitô ở cùng ngươi,” và con mãnh thú hung dữ ấy đã lủi thủi bước đi một cách hiền lành, vâng lời, chẳng gây tổn hại gì. Cậu bé vui sướng khôn tả khi biết con gấu đã bỏ đi mà không làm hại vị thánh, và rằng Chúa Kitô cũng ở cùng nó. “Ồ,” cậu thốt lên, “thật tuyệt làm sao, công trình của Chúa mới đẹp đẽ và tuyệt diệu làm sao!” Cậu ngồi ngẫm nghĩ trong niềm êm đềm, ngọt ngào. Tôi thấy cậu đã hiểu. Và cậu ngủ thiếp đi bên cạnh tôi trong một giấc ngủ thanh thơi, vô tội. Nguyện xin Chúa phù hộ tuổi trẻ! Và tôi đã cầu nguyện cho cậu khi chìm vào giấc ngủ. Lạy Chúa, xin hãy ban bình an và ánh sáng cho dân tộc Ngài!