Anh Em Nhà Karamazov

Lượt đọc: 414 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Những Phụ Nữ Nhà Quê Có Lòng Thành Tin

❊ ❊ ❊

Gần hàng hiên gỗ phía dưới, được dựng áp vào bức tường bên ngoài của khuôn viên, có khoảng hai mươi phụ nữ nông dân đang tụ tập. Họ nghe tin ngài trưởng lão sắp bước ra nên đã cùng nhau đến chờ sẵn. Hai mẹ con phu nhân Hohlakov cũng ra hiên, nhưng ở một khu vực riêng dành cho những người phụ nữ có địa vị cao sang.

Phu nhân Hohlakov là một phụ nữ giàu có, tuổi hãy còn trẻ, duyên dáng và lúc nào cũng ăn mặc có gout. Bà có nước da hơi tái và đôi mắt đen láy hoạt bát. Trạc ba mươi ba tuổi và đã thủ tiết được năm năm, bà có một cô con gái mười bốn tuổi bị bại liệt một phần. Tội nghiệp đứa trẻ, suốt sáu tháng qua em chẳng thể tự đi lại được mà phải ngồi trên chiếc ghế bành dài có bánh xe đẩy. Em sở hữu một gương mặt nhỏ nhắn dễ thương, tuy có hơi húp hím và gầy gò vì bệnh tật nhưng lúc nào cũng ngập tràn nét vui tươi. Ánh lên trong đôi mắt to tối màu với hàng mi dài là một vẻ tinh nghịch lém lỉnh. Mẹ em vẫn hằng ấp ủ dự định đưa con bé đi du lịch nước ngoài từ mùa xuân, ngặt nỗi vướng bận chuyện điền sản nên kéo dài suốt cả mùa hè. Họ đã ở thị trấn của chúng tôi được một tuần, mục đích chuyến đi thiên về công việc làm ăn hơn là lòng sùng kính, song họ cũng đã từng đến diện kiến cha Zossima một lần cách đó ba hôm. Dù biết ngài trưởng lão hầu như chẳng tiếp ai, hai mẹ con bỗng nhiên lại ghé đến lần nữa, tha thiết khẩn cầu “được hưởng niềm hạnh phúc ngắm nhìn lại vị đại y sư thêm một lần nữa”.

Người mẹ ngồi trên chiếc ghế cạnh chiếc xe lăn của con gái, cách bà hai bước chân là một vị tu sĩ già; ông không thuộc tu viện chúng tôi mà là khách hành hương đến từ một tu viện hẻo lánh nào đó ở tận phương bắc xa xôi. Ông cũng đến để xin phước lành từ ngài trưởng lão.

Thế nhưng, khi vừa bước lên hiên, cha Zossima lại tiến thẳng đến chỗ những người nông dân đang tụ đản dưới chân ba bậc thềm dẫn lên hiên. Ngài đứng trên bậc thềm cao nhất, mặc áo lễ vào và bắt đầu ban phước cho những người phụ nữ đang vây quanh. Một người phụ nữ mắc bệnh tâm thần được dìu tới trước mặt ngài. Vừa thoáng thấy ngài trưởng lão, cô ta liền ré lên và quằn quại như thể đang chuyển dạ sinh con. Đặt chiếc khăn thánh lên trán cô, ngài đọc một lời cầu nguyện ngắn, và lập tức cô ta trở nên bình tĩnh, dịu hẳn lại.

Tôi không rõ bây giờ ra sao, chứ thủa nhỏ tôi thường hay bắt gặp và nghe kể về những người phụ nữ bị “quỷ ám” ở các ngôi làng và tu viện. Họ thường được đưa đến các buổi thánh lễ; họ ré lên và sủa như chó để rồi tiếng kêu vọng khắp cả ngôi thánh đường. Thế nhưng khi kiệu thánh được rước vào và họ được dìu đến gần, cơn “quỷ ám” liền dứt hẳn, và những người phụ nữ bệnh tật ấy luôn được xoa dịu đôi chút. Hồi bé, tôi vô cùng kinh ngạc và ấn tượng trước chuyện này; thế nhưng sau đó tôi được những người hàng xóm ở miền quê và các thầy giáo ở thị trấn cho biết rằng toàn bộ căn bệnh ấy chỉ là giả vờ để trốn tránh lao động, và người ta hoàn hảo có thể chữa khỏi bằng sự nghiêm khắc thích đáng; nhiều giai thoại đã được kể ra để chứng thực điều này. Dẫu vậy, về sau tôi lại ngạc nhiên khi được các chuyên gia y tế cho biết rằng chẳng có sự giả dối nào ở đây cả, đó là một căn bệnh kinh khủng mà phụ nữ thường mắc phải, đặc biệt phổ biến ở nước Nga chúng ta, và nguyên nhân bắt nguồn từ cuộc sống cơ cực của những người phụ nữ nông dân. Đó là căn bệnh, theo tôi được biết, phát sinh từ những nhọc nhằn kiệt sức quá sớm sau lao động nặng nhọc, bất thường và không có người trợ giúp trong lúc sinh nở, cùng với sự khốn cùng tuyệt vọng, những trận đòn roi, vân vân, mà một số phụ nữ không thể chịu đựng nổi như những người khác. Sự chữa lành kỳ lạ và tức thì đối với người phụ nữ đang hoảng loạn vùng vẫy ngay khi cô được dìu đến trước bí tích thánh thể — điều mà trước đây tôi từng được giải thích là do thói giả bệnh và chiêu trò của bọn “thầy tu” — có lẽ xuất hiện theo cách tự nhiên nhất. Cả những người phụ nữ dìu cô ấy lẫn bản thân người bệnh đều đinh ninh một điều chắc chắn không thể lay chuyển rằng tà ma đang ngự trị trong thân xác cô ta không thể chống chọi nổi nếu người bệnh được đưa đến trước bí tích thánh thể và cúi đầu bái lạy trước Người. Cứ thế, ở một người phụ nữ bị rối loạn thần kinh và tâm lý, một thứ co giật của toàn bộ cơ thể luôn diễn ra, và bắt buộc phải diễn ra, vào khoảnh khắc cúi mình trước bí tích, được khơi gợi bởi sự mong chờ phép màu chữa lành và niềm tin tuyệt đối rằng điều đó sẽ xảy ra; và quả thực nó đã xảy ra, dẫu chỉ trong chốc lát. Mọi chuyện lúc này cũng y hệt như vậy ngay khi ngài trưởng lão chạm chiếc khăn thánh vào người phụ nữ bệnh tật.

Nhiều phụ nữ trong đám đông đã rơi nước mắt vì xúc động trước thời khắc ấy; có người cố gắng hôn tà áo của ngài, có người cất tiếng khóc ngân nga như hát.

Ngài ban phước cho tất cả và trò chuyện với một số người. Người phụ nữ “bị quỷ ám” thì ngài đã quen từ trước. Cô ta đến từ một ngôi làng chỉ cách tu viện chừng sáu cây số, và từng được đưa đến gặp ngài rồi.

“Nhưng ở đây có một người đến từ phương xa.” Ngài chỉ vào một người phụ nữ không hề già chút nào nhưng rất gầy gò, hốc hác, với khuôn mặt không chỉ sạm nắng mà gần như đen đúa vì dãi dầu sương gió. Cô đang quỳ gối, dán chặt ánh mắt nhìn chằm chằm vào ngài trưởng lão; trong đôi mắt ấy có thứ gì đó gần như cuồng dại.

“Từ phương xa tới, thưa Cha, từ phương xa tới! Cách đây tận hai trăm dặm. Từ phương xa tới, thưa Cha, từ phương xa tới!” người phụ nữ bắt đầu cất giọng ngân nga như đang đọc điếu văn, đầu lắc lư qua lại trong khi má tì lên bàn tay.

Ở tầng lớp nông dân, người ta có thể bắt gặp nỗi buồn lặng thầm và chịu đựng bền bỉ. Nó thu mình vào nội tâm và chết lặng. Nhưng cũng có thứ đau khổ bùng phát, và từ phút giây đó nó vỡ òa thành những giọt nước mắt cùng tiếng khóc than. Điều này đặc biệt phổ biến ở phụ nữ. Dù vậy, nó chẳng hề nhẹ nhàng hơn nỗi buồn lặng thầm là bao. Tiếng khóc than chỉ đem lại sự khuây khỏa bằng cách cứa rách trái tim thêm nữa. Nỗi đau ấy chẳng màng đến sự an ủi. Nó nuôi dưỡng bản thân bằng cảm giác tuyệt vọng khôn cùng. Tiếng khóc than chỉ xuất phát từ nỗi khao khát khôn nguôi được cào xé lại vết thương lòng.

“Con thuộc tầng lớp tiểu thương phải không?” cha Zossima hỏi, tò mò nhìn cô.

“Chúng con là dân thị thành, thưa Cha, là dân thị thành. Nhưng dẫu sống ở thành phố thì chúng con vẫn là nông dân. Con đã đến để yết kiến ngài, thưa Cha! Chúng con nghe danh ngài, thưa Cha, chúng con đã nghe danh ngài. Con vừa chôn cất đứa con trai bé bỏng của mình, rồi con cất bước hành hương. Con đã đi qua ba tu viện, nhưng họ bảo con rằng: ‘Hãy đi đi, Nastasya, hãy đến gặp họ’—tức là đến gặp ngài đấy ạ. Con đã đến; hôm qua con tham gia thánh lễ, và hôm nay con đã đến gặp ngài.”

“Con đang khóc vì điều gì thế?”

“Con đang đau buồn vì đứa con trai bé bỏng của mình, thưa Cha. Thằng bé mới tròn ba tuổi — thiếu đúng ba tháng là tròn ba tuổi. Vì đứa con trai bé bỏng của con, thưa Cha, lòng con đau như cắt, vì đứa con trai bé bỏng của con. Đó là đứa con duy nhất còn lại. Vợ chồng con, tôi và anh Nikita, sinh được bốn đứa, thế mà giờ đây chúng chẳng còn đứa nào, những đứa con yêu quý của chúng con đã đi hết cả. Ba đứa đầu con chôn cất mà lòng không đau đớn quá mức, thế mà đến đứa cuối cùng này thì con chẳng sao quên được nó. Thằng bé cứ như đang đứng lù lù trước mặt con vậy. Nó chẳng rời con nửa bước. Nó đã vắt kiệt trái tim con rồi. Con nhìn những món quần áo nhỏ xíu của nó, chiếc áo sơ mi bé xíu, đôi giày con con, rồi con lại khóc than. Con bày biện tất cả những gì còn sót lại của nó, toàn bộ đồ đạc bé xíu của nó ra. Con ngắm chúng rồi khóc lóc. Con bảo với chồng con là anh Nikita: ‘Hãy để tôi đi hành hương nhé, mình ơi.’ Anh ấy là một phu đánh xe. Chúng con đâu phải người nghèo, thưa Cha, không nghèo đâu; anh ấy đánh chiếc xe ngựa của chính nhà mình. Mọi thứ đều là của chúng con, cả ngựa lẫn xe. Thế nhưng giờ đây tất cả những thứ ấy còn có ích gì cho chúng con nữa chứ? Anh Nikita nhà con đã bắt đầu uống rượu trong lúc con đi vắng rồi. Chắc chắn là thế. Trước đây cũng vậy mà. Hễ con quay lưng đi là anh ấy lại sa đà vào chén tạc chén thù. Nhưng giờ thì con chẳng màng nghĩ đến anh ta nữa. Đã ba tháng từ ngày con rời nhà đi. Con quên bẵng anh ta rồi. Con quên sạch mọi thứ. Con chẳng muốn nhớ đến nữa. Và giả sử chúng con còn sống chung với nhau thì đời nào ra thể thống gì nữa? Con dứt tình với anh ta rồi, dứt khoát rồi. Con dứt tình với tất cả bọn họ luôn. Con chẳng màng nhìn đến ngôi nhà và của cải của mình nữa. Con chẳng muốn nhìn thấy bất cứ thứ gì trên đời này nữa hết!”

“Hãy lắng nghe ta, con ạ,” ngài trưởng lão nói. “Thuở xưa, có một vị thánh nọ nhìn thấy trong đền thờ một người mẹ cũng đang khóc than vì đứa con thơ, đứa con độc duy nhất đã bị Chúa cất đi. ‘Ngươi có biết không,’ vị thánh bảo bà ấy, ‘lũ trẻ này mạnh dạn biết bao trước ngai vàng của Thiên Chúa? Quả thật chẳng có ai bạo dạn hơn chúng ở Vương quốc Thiên Chúa. “Chúa đã ban sự sống cho chúng con, lạy Chúa,” chúng thưa, “và chúng con vừa mới kịp nhìn ngắm nó thì Ngài đã cất lại rồi.” Và cứ thế, chúng mạnh dạn nài xin hết lần này đến lần khác để Thiên Chúa lập tức ban cho chúng phẩm vị thiên thần. Thế nên,’ vị thánh bảo tiếp, ‘cả ngươi nữa, hỡi người mẹ, hãy vui mừng và đừng khóc lóc nữa, bởi đứa con trai bé bỏng của ngươi đang ở cùng Chúa trong hội đoàn của các thiên thần.’ Vị thánh nọ đã nói với người mẹ đau khổ thuở ấy như thế đấy. Ngài là một bậc đại thánh và chắc chắn không thể nói sai sự thật. Vì vậy, cả con nữa, hỡi người mẹ, hãy biết rằng đứa con bé bỏng của con chắc chắn đang ở trước ngai vàng của Thiên Chúa, đang hân hoan hạnh phúc, và đang cầu nguyện cùng Chúa cho con, thế nên đừng khóc nữa, hãy vui lên đi.”

Người phụ nữ lắng nghe ngài, cúi gằm mặt với má tì trên bàn tay. Cô thở dài sườn sượt.

“Anh Nikita nhà con cũng dùng những lời ấy để an ủi con. ‘Đồ ngốc này,’ anh ấy bảo, ‘sao lại khóc? Con trai chúng ta chắc chắn đang ca hát cùng các thiên thần trước mặt Chúa rồi.’ Anh ấy nói với con vậy, thế mà bản thân lại sướt mướt khóc. Con thấy anh ấy cũng khóc lóc giống hệt con. ‘Em biết chứ, Nikita,’ con đáp. ‘Nó còn có thể ở đâu ngoài chỗ Chúa Trời nữa chứ? Chỉ là, giờ đây nó không còn ở bên chúng ta như hồi nó ngồi cạnh chúng ta trước kia nữa thôi.’ Giá mà con được ngắm thằng bé dù chỉ một lát, giá mà con được lén nhìn nó dù chỉ một tẹo, chẳng cần đến gần, chẳng cần nói năng gì, chỉ cần được giấu mình trong góc nhà và ngắm nó đúng một phút thôi, được nghe nó chơi đùa ngoài sân, cất giọng tít tắp gọi ‘Mẹ ơi, mẹ ở đâu rồi?’, giá mà con được nghe tiếng chân nó lẹt đẹt chạy quanh phòng dù chỉ một lần, đúng một lần thôi; bởi vì con nhớ lắm, nhớ xiết bao cảnh nó hay chạy đến bên con rồi la hét và cười vang, giá mà con được nghe tiếng chân nho nhỏ ấy thì con sẽ nhận ra ngay con mình! Thế nhưng nó đi mất rồi, thưa Cha, nó đi hoài đi mãi, và con sẽ chẳng bao giờ được nghe lại tiếng nó nữa. Đây là chiếc dải lót áo bé xíu của nó, còn người thì con sẽ chẳng bao giờ được thấy hay được nghe nữa rồi.”

Cô rút từ trong ngực áo ra chiếc dải lót áo thêu hoa văn của con trai, và vừa nhìn thấy nó, cô bắt đầu nấc nghẹn run rẩy, lấy các ngón tay che đôi mắt để những giọt nước mắt bỗng tuôn trào thành dòng.

“Đó chính là hình ảnh Rachel thuở xưa,” ngài trưởng lão nói, “đang khóc thương cho những đứa con của mình, và không chịu khuây khỏa bởi vì chúng không còn nữa. Định mệnh trần gian an bài cho các bà mẹ là thế đấy. Đừng khuây khỏa. An ủi không phải là thứ con cần. Hãy khóc đi và đừng tìm sự xoa dịu, cứ khóc đi. Chỉ là mỗi lần con khóc, hãy nhớ cho kỹ rằng đứa con trai bé bỏng của con nay đã là một trong những thiên thần của Chúa, rằng nó đang nhìn xuống con từ chốn cao xanh ấy, đang chứng kiến và vui mừng trước những giọt nước mắt của con, rồi chỉ tay vào chúng mà thưa với Thiên Chúa; và con sẽ còn phải ôm ấp nỗi đau của người mẹ vĩ đại ấy trong một thời gian dài nữa. Nhưng cuối cùng nó sẽ chuyển hóa thành niềm vui thanh bình, và những giọt nước mắt cay đắng của con sẽ chỉ còn là lệ xót xa dịu dàng tẩy rửa tâm trí và giải thoát nó khỏi tội lỗi. Và ta sẽ cầu nguyện cho sự bình yên trong linh hồn đứa trẻ. Tên nó là gì vậy con?”

“Alexey, thưa Cha.”

“Một cái tên ngọt ngào. Lấy theo tên thánh Alexey, người của Thiên Chúa phải không?”

“Vâng, thưa Cha.”

“Quả là một vị thánh! Ta sẽ ghi nhớ thằng bé, hỡi người mẹ, ghi nhớ nỗi đau của con trong lời kinh nguyện, và ta sẽ cầu nguyện cho sức khỏe của chồng con. Con bỏ bê anh ấy là mang tội đấy. Đứa con bé bỏng của con ở trên thiên đường mà thấy con ruồng bỏ cha nó, nó sẽ khóc thương cho con đấy. Sao con lại nỡ làm tổn hại đến hạnh phúc của thằng bé? Nó vẫn đang sống, bởi linh hồn là bất tử, và dẫu không hiện diện trong nhà thì nó vẫn ở gần con, dù vô hình. Làm sao nó có thể về nhà khi con cứ bảo rằng ngôi nhà ấy đáng ghét đối với con? Nó sẽ về với ai nếu thấy cha mẹ nó không còn ở bên nhau? Hiện tại nó vẫn về thăm con trong những giấc mơ đấy thôi, để rồi con lại đau buồn. Nhưng mai đây nó sẽ mang đến cho con những giấc mơ êm đềm. Hãy về với chồng con đi, hỡi người mẹ; hãy về ngay ngày hôm nay.”

“Con sẽ về, thưa Cha, theo lời ngài dạy. Con sẽ về. Ngài đã chạm thấu tâm can con rồi. Anh Nikita của con ơi, anh Nikita ơi, anh đang đợi em đấy phải không,” người phụ nữ bắt đầu cất giọng ngân nga; nhưng ngài trưởng lão đã quay đi từ lúc nào để đến bên một cụ bà rất già, ăn mặc như người thị thành chứ không giống khách hành hương. Ánh mắt cụ lộ rõ vẻ có chuyện muốn thưa và cần bẩm báo điều gì đó. Cụ nói mình là vợ của một hạ sĩ quan và sống ngay gần đây trong thị trấn. Con trai cụ là Vasenka làm việc trong ngành quân lương và đã đi Irkutsk ở vùng Siberia. Thằng bé từng viết thư về hai lần, nhưng ngửa tay tính thì đã một năm nay bặt vô âm tín chẳng thấy thư từ gì nữa.

“Mới dạo trước đây, bà Stepanida Ilyinishna — một phu nhân thương gia giàu có — bảo với con rằng: ‘Bà Prohorovna này, bà cứ đến ghi tên cầu nguyện cho con trai mình ở nhà thờ đi, rồi cầu cho linh hồn nó được yên nghỉ cứ như thể nó đã chết rồi ấy. Linh hồn nó sẽ thấy bồn chồn,’ bà ấy bảo, ‘rồi nó sẽ viết thư về cho bà ngay.’ Và Stepanida Ilyinishna còn bảo đó là chuyện chắc như đinh đóng cột đã được nghiệm chứng nhiều lần rồi. Chỉ là con cứ thấy băn khoăn... Ơi ánh thái dương của chúng con! Chuyện đó là thật hay giả vậy ngài, và làm thế có phải đạo không?”

“Đừng nghĩ đến chuyện đó nữa. Hỏi câu ấy thật là hổ thẹn. Làm sao có thể đem linh hồn của một người còn đang sống ra để cầu siêu? Mà lại là mẹ ruột của nó nữa chứ! Đó là một tội trọng, chẳng khác gì tà thuật cả. Chỉ vì con dốt nát nên mới được tha thứ đấy. Tốt hơn hết hãy cầu nguyện cùng Nữ Vương Thiên Thiên, đấng hằng che chở và cứu giúp chúng ta, xin Người ban cho nó sức khỏe dồi dào, và xin Người tha thứ cho lầm lỗi của con. Còn một điều nữa ta muốn dặn bà, thưa bà Prohorovna. Hoặc là con trai bà sẽ sớm quay về với bà, hoặc nó nhất định sẽ gửi thư tới. Cứ về đi, và từ nay hãy yên lòng. Con trai bà vẫn còn sống, ta bảo đảm với bà đấy.”

“Lạy ơn cha, xin Chúa thưởng công cho ngài, ân nhân của chúng con, người luôn cầu nguyện cho tất cả chúng con và cho những tội lỗi của chúng tôi!”

Thế nhưng ngài trưởng lão đã kịp nhận ra trong đám đông có đôi mắt rực sáng đang dán chặt vào mình. Một phụ nữ nông dân trẻ tuổi trông kiệt sức, phảng phất nét tiêu tụy đang nhìn ngài trân trân trong im lặng. Ánh mắt cô khẩn khoản, nhưng có vẻ e dè chẳng dám lại gần.

“Có chuyện gì thế con?”

“Xin hãy giải tội cho linh hồn con, thưa Cha,” cô cất lời khe khẽ, đoạn từ từ quỵ xuống sụp lạy dưới chân ngài. “Con có tội với Chúa, thưa Cha. Con sợ tội lỗi của mình lắm.”

Ngài trưởng lão ngồi xuống bậc thềm thấp. Người phụ nữ trườn tới sát bên ngài, tư thế vẫn đang quỳ.

“Con góa chồng đã ba năm nay rồi,” cô bắt đầu bằng giọng nửa như thầm thì, kèm theo một điệu bộ rùng mình gợn sóng. “Con có một cuộc hôn nhân khốn khổ với ông ấy. Ông ấy là một lão già hay đánh đập con tàn nhẫn. Có bận ông ấy đổ bệnh nằm liệt giường; ngắm nhìn ông ấy lúc bấy giờ, con tự nhủ nhỡ lão ta mà khỏe lại, nhỡ lão ta gượng dậy nổi thì đời con ra sao? Và rồi ý nghĩ ấy xẹt qua đầu con—”

“Đứng lại!” ngài trưởng lão lên tiếng, rồi áp sát tai vào đôi môi cô.

Người phụ nữ tiếp tục nói bằng thứ âm thanh thì thầm đứt quãng đến mức hầu như chẳng thể bắt kịp từ nào. Chẳng mấy chốc cô đã thổ lộ xong.

“Ba năm rồi ư?” ngài trưởng lão hỏi.

“Ba năm ạ. Ban đầu con chẳng bận tâm đến nó, nhưng giờ đây khi thân thể bắt đầu đau yếu thì ý nghĩ ấy cứ bám riết lấy con mãi không thôi.”

“Con ở tận đẩu tận đâu đến đây thế?”

“Cách đây hơn ba trăm dặm đường ạ.”

“Con đã xưng tội chưa?”

“Con đã xưng tội rồi. Con xưng hai bận rồi ạ.”

“Con đã được rước lễ chưa?”

“Vâng. Con sợ lắm. Con sợ chết lắm.”

“Đừng sợ hãi điều gì và muôn đời đừng sợ hãi; cũng đừng dằn vặt bản thân nữa. Miễn là sự sám hối của con không vơi cạn, Thiên Chúa sẽ thứ tha tất cả. Chẳng có tội lỗi nào, và tuyệt đối không thể có tội lỗi nào trên mặt đất này mà Chúa lại không dung thứ cho kẻ thực lòng ăn năn! Con người không thể phạm tội nào lớn lao cho bằng tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Liệu có tội lỗi nào vượt qua nổi tình yêu của Ngài chăng? Hãy chỉ nghĩ đến việc sám hối, sự sám hối không nguôi, nhưng hãy gạt bỏ hoàn toàn nỗi sợ hãi. Hãy tin rằng Thiên Chúa yêu thương con theo cách con không tài nào tưởng tượng nổi; rằng Ngài yêu thương cả tội lỗi lẫn con người con trong tội lỗi ấy. Thuở xưa người ta từng nói rằng trên thiên đàng, niềm vui dành cho một tội nhân ăn năn hối cải còn lớn hơn cả niềm vui trước chín mươi chín người công chính. Hãy đi đi, và đừng sợ hãi gì nữa. Đừng cay đắng với người đời. Đừng giận hờn nếu con bị đối xử bất công. Hãy tha thứ trong thẳm sâu trái tim những lỗi lầm mà người quá cố từng gây ra cho con. Hãy thực lòng hòa giải với ông ấy. Nếu con biết ăn năn, tức là con đang yêu thương. Và nếu con yêu thương, tức là con thuộc về Thiên Chúa. Mọi lỗi lầm đều được đền bù, mọi thứ đều được cứu rỗi nhờ tình yêu thương. Nếu ta, một kẻ tội nhân y hệt như con, còn có lòng xót thương và trắc ẩn với con, thì huống hồ là Thiên Chúa. Tình yêu là món quà vô giá đến mức con có thể dùng nó để chuộc lại cả thế gian, và không chỉ đền bù tội lỗi của chính mình mà còn gánh vác cả tội lỗi của người khác.”

Ngài làm dấu thánh ba lần trên người cô, tháo chiếc huy hiệu nhỏ trên cổ mình đeo vào cho cô. Cô cúi rạp người sát đất không nói năng gì.

Ngài đứng dậy, tươi cười nhìn một phụ nữ nông dân khỏe mạnh đang bế trên tay một đứa bé đỏ hỏn.

“Từ Vyshegorye đến đây đấy thưa Cha kính yêu.”

“Con đã lê lết năm dặm đường cùng với đứa nhỏ cơ à. Con muốn gì nào?”

“Con đến để ngắm ngài thôi. Con từng đến gặp ngài rồi cơ mà — hay ngài quên béng mất tiêu rồi? Trí nhớ của ngài kém quá đấy nếu đã quên mất con. Người ta bảo chúng con là ngài đang ốm. Con tự nhủ, mình phải đến tận nơi thăm ngài mới được. Giờ thì con thấy ngài rồi, ngài có ốm đau gì đâu! Ngài sẽ còn sống thêm hai mươi năm nữa cơ đấy. Chúa phù hộ ngài! Có biết bao nhiêu người hằng cầu nguyện cho ngài; làm sao mà ngài ốm đau cho được chứ?”

“Ta cảm ơn con vì tất cả, con gái ạ.”

“Nhân tiện đây, con có chuyện muốn nhờ vả, chẳng to tát gì đâu. Đây là sáu mươi xu. Xin ngài, thưa Cha kính yêu, hãy trao chúng cho một ai đó nghèo khổ hơn con. Lúc đi dọc đường con cứ nghĩ, tốt hơn là cứ qua tay ngài. Ngài sẽ biết nên bố thí cho ai mà.”

“Cảm ơn con, con yêu, cảm ơn con nhé! Con là một phụ nữ tốt. Ta rất quý con. Ta nhất định sẽ làm đúng như thế. Kia là con gái của con phỏng?”

“Dạ con gái con đấy thưa Cha, bé Lizaveta.”

“Nguyện xin Chúa ban phước lành cho cả hai mẹ con, cho cả con và bé Lizaveta nhé! Con đã làm cho trái tim ta ngập tràn niềm hoan hỉ rồi đấy, hỡi người mẹ. Vĩnh biệt các con yêu dấu, vĩnh biệt những người thân yêu.”

Ngài ban phước cho tất cả bọn họ rồi cúi đầu chào thật thấp.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Fyodor Dostoyevsky

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.