Căn phòng nhỏ do gia đình viên đại đội về hưu Snegiryov thuê vốn đã quen thuộc với người đọc. Lúc ấy, nó chật ních và đông nghẹt khách ghé thăm. Vài cậu bé đang ngồi bên cạnh Ilusha, và dù tất cả bọn chúng, hệt như Smurov, đều chối đây đẩy rằng chính Alyosha là người đã dẫn đường và giảng hòa cho chúng với Ilusha, thì sự thật đúng là như vậy. Tất cả sự khéo léo mà cậu dùng chỉ là dẫn từng đứa một đến gặp Ilusha, tránh mọi thứ “tình cảm sướt mướt ngớ ngẩn,” ra vẻ như thể mọi chuyện diễn ra hoàn toàn tình cờ và chẳng có dụng ý gì. Đó là một nguồn an ủi lớn lao cho Ilusha trong cơn đau bệnh. Cậu vô cùng cảm động khi thấy tình cảm ân cần và sự đồng cảm gần như dịu dàng mà những cậu bé từng là kẻ thù của mình dành cho cậu. Chỉ duy nhất Krassotkin là vắng mặt, và sự vắng mặt ấy đè nặng lên trái tim Ilusha như một tảng đá. Có lẽ ký ức cay đắng nhất trong số những cay đắng của cậu chính là việc cậu đã đâm Krassotkin, người bạn và người bảo vệ duy nhất của cậu. Cậu bé thông minh Smurov, người đầu tiên làm hòa với Ilusha, cũng nghĩ như vậy. Thế nhưng, khi Smurov bóng gió với Krassotkin rằng Alyosha muốn đến gặp cậu có chút việc, thì cậu liền chặn họng ngay, bảo Smurov nhắn lại với “Karamazov” rằng tự cậu biết phải làm gì, chẳng cần ai phải khuyên bảo, và nếu cậu có đến thăm Ilusha, cậu sẽ tự chọn thời điểm cho riêng mình vì cậu “có lý do riêng.”
Đó là chuyện từ hai tuần trước ngày Chủ nhật này. Đó cũng là lý do vì sao Alyosha vẫn chưa đến thăm cậu như dự định. Dù vẫn chờ đợi, nhưng cậu đã sai Smurov đến gặp Krassotkin thêm hai lần nữa. Cả hai lần, Krassotkin đều từ một mực cộc lộc và sốt ruột, nhắn Alyosha đừng làm phiền cậu nữa, rằng nếu tự hắn đến, thì Krassotkin sẽ chẳng thèm đến thăm Ilusha lấy một lần. Cho đến tận ngày cuối cùng, Smurov vẫn không hề hay biết rằng Kolya có ý định đến thăm Ilusha vào sáng hôm ấy; mãi cho đến tối hôm trước, khi chia tay Smurov, Kolya mới bất ngờ dặn cậu sáng hôm sau hãy ở nhà chờ mình, vì cậu sẽ đi cùng Smurov đến nhà Snegiryov, nhưng đồng thời cũng cảnh báo tuyệt đối không được hé lộ gì về chuyến đi vì cậu muốn ghé vào một cách thật tình cờ. Smurov đã vâng lời. Ý nghĩ của Smurov rằng Kolya sẽ mang con chó bị mất về xuất phát từ câu nói buột miệng của Kolya rằng “bọn chúng đúng là lũ ngu mới không tìm ra con chó, nếu như nó hãy còn sống.” Khi Smurov, nhân cơ hội tìm cách dò hỏi, rụt rè hé lộ phỏng đoán của mình về con chó, Krassotkin liền nổi trận lôi đình. “Tôi không ngu ngốc đến mức đi lùng sục khắp thị trấn để tìm chó cho người khác trong khi bản thân tôi cũng có một con! Và sao anh lại có thể tưởng tượng rằng một con chó nuốt phải cây kim mà vẫn còn sống được chứ? Tình cảm sướt mướt ngớ ngẩn, đúng là thế!”
Hai tuần qua, Ilusha không hề rời khỏi chiếc giường nhỏ kê dưới mấy bức thánh tượng ở góc phòng. Cậu đã nghỉ học kể từ ngày gặp Alyosha và cắn vào ngón tay anh. Cậu ngã bệnh ngay ngày hôm đó, dù trong suốt một tháng sau đó, thỉnh thoảng cậu vẫn có thể gượng dậy đi lại trong phòng và ngoài hành lang. Thế nhưng dạo gần đây, cậu trở nên yếu ớt đến mức không thể nhúc nhích nếu không có sự giúp đỡ của cha. Người cha vô cùng lo lắng cho cậu. Ông thậm chí đã bỏ cả rượu chè và gần như phát điên vì sợ hãi rằng đứa con trai bé bỏng của mình sẽ chết. Và thường xuyên, nhất là sau khi dìu con đi vòng quanh phòng rồi đặt nằm xuống giường, ông lại chạy ra một góc tối ngoài hành lang, tựa đầu vào tường và oà khóc nức nở, cố nén những tiếng nấc nghẹn ngào để Ilusha không nghe thấy.
Mỗi khi quay trở lại phòng, ông thường tìm cách làm trò để khuây khỏa và an ủi đứa con quý giá; ông kể chuyện cho cậu nghe, những giai thoại buồn cười, hoặc nhại lại dáng điệu hài hước của những kẻ tình cờ gặp trên đường, thậm chí bắt chước cả tiếng kêu và tiếng hú của loài vật. Thế nhưng Ilusha lại chẳng thể nào chịu nổi cảnh cha mình làm trò hề mua vui. Dù cậu bé cố gắng giấu đi sự khó chịu ấy, trái tim cậu vẫn nhói đau khi nhận ra cha mình đang trở thành đối tượng bị người ta khinh miệt, và tâm trí cậu cứ mãi bị ám ảnh bởi hình ảnh “búi giẻ lau” cùng “ngày khủng khiếp” hôm đó.
Nina, người em gái dịu dàng nhưng tàn tật của Ilusha, cũng chẳng thích mấy trò hề của cha (Varvara thì đã đi Saint Petersburg từ lâu để học đại học). Ngược lại, người mẹ nửa điên nửa tỉnh lại cảm thấy vô cùng thích thú và cười rộ lên mỗi khi chồng nhảy nhót hoặc diễn trò. Đó là cách duy nhất để làm bà vui vẻ; trong suốt thời gian còn lại, bà chỉ toàn lầm bầm cằn nhằn rằng giờ đây mọi người đã quên béng mất bà, chẳng ai còn tôn trọng bà nữa, rằng bà đang bị coi thường, đại loại thế. Thế nhưng trong vài ngày gần đây, bà đã thay đổi hoàn toàn. Bà bắt đầu đăm đăm nhìn vào chiếc giường của Ilusha ở góc phòng như thể đang chìm đắm trong suy tư. Bà trầm ngâm hơn, ít nói hơn, và nếu có khóc thì cũng khôn khéo khóc thầm để không ai nghe thấy. Viên đại đội trưởng nhận ra sự thay đổi ở vợ với nỗi bối rối đầy xót xa. Ban đầu, những chuyến ghé thăm của lũ trẻ chỉ khiến bà phật ý, nhưng về sau, những tiếng cười nói vui vẻ và câu chuyện của chúng bắt đầu mang lại niềm vui cho bà, để rồi cuối cùng bà quý mến chúng đến mức nếu mấy đứa nhỏ không đến nữa, chắc chắn bà sẽ cảm thấy buồn chán không chịu nổi. Khi lũ trẻ kể chuyện hay chơi trò chơi, bà đều cười vang và vỗ tay tán thưởng. Bà gọi một vài đứa lại gần và ôm hôn chúng. Bà đặc biệt quý mến Smurov.
Về phần viên đại đội trưởng, sự hiện diện của lũ trẻ trong căn phòng nhỏ — những đứa trẻ đến để vực dậy tinh thần cho Ilusha — ngay từ đầu đã lấp đầy trái tim ông bằng niềm vui sướng ngập tràn. Ông thậm chí còn nuôi hy vọng rằng Ilusha giờ đây sẽ vượt qua được cơn trầm uất, và điều đó sẽ thúc đẩy quá trình hồi phục của cậu bé. Bất chấp sự lo âu về tình trạng của Ilusha, cho đến tận gần đây, ông chưa bao giờ mảy may hoài nghi dù chỉ một phút về việc con trai mình rồi sẽ khỏe lại hoàn toàn.
Ông đón tiếp những vị khách nhỏ tuổi với sự cung kính hết mực, phục vụ chúng từ chân tới đầu; ông sẵn sàng làm ngựa cho chúng cưỡi, thậm chí bắt đầu cho chúng trèo lên lưng, nhưng Ilusha không thích trò đó nên đành phải dẹp đi. Ông bắt đầu mua quà vặt cho lũ trẻ, nào bánh gừng, hạt dẻ, rồi pha trà và cắt bánh mì kẹp cho chúng ăn. Cần phải nói rằng trong suốt thời gian này, ông có rất nhiều tiền. Ông đã cầm hai trăm rúp từ tay Katerina Ivanovna đúng như điều Alyosha từng dự đoán. Và sau đó, khi Katerina Ivanovna tìm hiểu kỹ hơn về hoàn cảnh gia đình họ cũng như bệnh tình của Ilusha, chính bà đã đến thăm, làm quen với gia đình và thành công thu phục được người mẹ nửa điên nửa tỉnh. Kể từ dạo ấy, bà vô cùng hào phóng giúp đỡ họ, và viên đại đội trưởng, dẫu lòng tràn ngập nỗi kinh hoàng khi nghĩ rằng đứa con trai có thể sẽ chết, đã gạt phăng lòng tự ái sang một bên để khiêm nhường đón nhận sự trợ giúp ấy.
Suốt quãng thời gian này, bác sĩ Herzenstube — người được Katerina Ivanovna mời đến — vẫn đều đặn ghé khám cách ngày, nhưng chuyến thăm của ông chẳng đem lại bao nhiêu kết quả ngoài việc nhồi nhét cho bệnh nhân vô số thứ thuốc. Thế nhưng vào sáng Chủ nhật hôm ấy, người ta đang ngóng đợi một vị bác sĩ mới từ Moscow đến — nơi ông có một danh tiếng lẫy lừng. Katerina Ivanovna đã không tiếc tiền mời ông từ Moscow, không phải đích thân vì Ilusha, mà vì một mục đích khác sẽ được nhắc đến ở một dịp thích hợp sau này. Nhưng vì ông đã có mặt, bà bèn nhờ ông ghé qua khám cho cả Ilusha, và viên đại đội trưởng đã được dặn là hãy đón tiếp vị bác sĩ này. Ông hoàn toàn không hề hay biết rằng Kolya Krassotkin đang trên đường đến, dù ông đã mong mỏi chuyến viếng thăm của cậu bé mà Ilusha hằng ngóng trông suốt bấy lâu nay.
Vào khoảnh khắc Krassotkin đẩy cửa bước vào phòng, viên đại đội trưởng cùng lũ trẻ đang vây quanh giường Ilusha để ngắm nhìn một chú chó ngao con bé xíu vừa mới chào đời ngày hôm qua, mặc dù viên đại đội trưởng đã đặt mua nó từ một tuần trước nhằm an ủi và mang lại niềm vui cho Ilusha, khi cậu vẫn còn đang đau đáu tiếc thương con chó Zhutchka đã mất và có lẽ đã chết. Ilusha, người đã nghe tin ba ngày trước rằng mình sẽ được tặng một con chó con — không phải giống chó tầm thường mà là dòng ngao có phả hệ hẳn hoi (tất nhiên là một chi tiết rất quan trọng), đã cố gắng vì sự tế nhị trong tâm hồn mà ra điều vui vẻ. Thế nhưng cha cậu và lũ trẻ chẳng thể nào không nhận ra rằng chú chó con chỉ càng khơi gợi trong trái tim bé nhỏ của cậu nỗi nhớ về con tội nghiệp mà cậu đã vô tình giết chết. Chú chó con nằm bên cạnh, yếu ớt ngọ nguậy, còn cậu thì nở nụ cười buồn bã, dùng bàn tay gầy gò, xanh xao và hốc hác của mình vuốt ve nó. Rõ ràng cậu rất thích chú chó nhỏ, nhưng... đó không phải là Zhutchka; nếu như cậu vừa có thể có Zhutchka lại vừa có cả chú chó con này, thì khi ấy cậu mới thực sự hạnh phúc trọn vẹn.
“Krassotkin!” — một đứa trẻ đột nhiên hét lên. Nó là kẻ đầu tiên nhìn thấy cậu bước vào.
Sự xuất hiện của Krassotkin gây ra một chấn động nho nhỏ; lũ trẻ tản ra hai bên giường để cậu có thể nhìn rõ Ilusha. Viên đại đội trưởng hớt hải chạy ra đón Kolya.
“Mời cậu vào... xin chào mừng cậu!” — ông luống cuống nói — “Ilusha này, ngài Krassotkin đến thăm cháu đây!”
Thế nhưng Krassotkin, vừa vội vã bắt tay ông vừa lập tức thể hiện sự am hiểu tường tận về phép lịch sự trong xã hội thượng lưu. Cậu quay sang vợ của viên đại đội trưởng đang ngồi trên bành – lúc ấy đang vô cùng bực bội và cằn nhằn vì lũ trẻ đứng chắn mất tầm nhìn giữa bà với giường của Ilusha khiến bà không ngắm được chú chó con mới. Với thái độ lịch thiệp tối đa, cậu cúi chào bà một cách trang trọng, chân khẽ lùi gót, rồi quay sang Nina cũng cúi chào tương tự bởi cô là người phụ nữ duy nhất còn lại trong phòng. Cách ứng xử lịch sự này tạo ra một ấn tượng vô cùng tốt đẹp đối với người phụ nữ có thần kinh không ổn định.
“Đấy, nhìn là biết ngay đây là một thanh niên được giáo dục đàng hoàng,” — bà lớn tiếng nhận xét, giơ hai tay lên trời — “còn mấy vị khách khác nhà chúng tôi thì cứ xông vào hết lớp này đến lớp khác.”
“Ý mẹ là sao ạ, xông vào hết lớp này đến lớp khác là thế nào cơ mẹ?” — viên đại đội trưởng ngập ngừng hỏi, vừa ân cần vừa có chút lo lắng cho tinh thần của vợ.
“Thì chúng cưỡi lên nhau thế đấy. Chúng chồng chất lên vai nhau ngoài hành lang rồi cứ thế cưỡi tót vào một gia đình đàng hoàng. Toàn những giống khách khứa kỳ quái đâu đâu!”
“Nhưng ai cưỡi lên nhau mà vào thế hả mẹ?”
“Thì cái thằng bé kia cưỡi trên lưng đứa này, rồi đứa này lại cưỡi lên lưng đứa kia chứ sao.”
Lúc này Kolya đã đứng bên giường Ilusha. Cậu bé bệnh tật bỗng tái mét đi trông thấy. Cậu nhỏm dậy trên giường và đăm đăm nhìn Kolya. Đã hai tháng nay Kolya không gặp lại người bạn nhỏ của mình, và cậu hoàn toàn choáng váng khi diện kiến tình trạng hiện tại của Ilusha. Cậu chưa bao giờ tưởng tượng nổi mình sẽ nhìn thấy một khuôn mặt gầy hốc hác và ngả vàng đến thế, một đôi mắt to quầng lên rực cháy vì sốt và đôi bàn tay nhỏ bé gầy trơ xương đến vậy. Cậu đau đớn nhận ra tiếng thở dốc dồn dập, khó nhọc cùng đôi môi khô khốc của Ilusha. Cậu bước sát lại, chìa tay ra, nghẹn ngào thốt lên:
“Này, đồ lùn... cậu thế nào rồi?” Nhưng cổ họng cậu nghẹn đắng, chẳng thể giữ được vẻ tự nhiên; khuôn mặt bỗng giật giật và khóe miệng run rẩy. Ilusha nặn ra một nụ cười nhợt nhạt, tội nghiệp, đến giờ vẫn chẳng thể thốt nên lời. Một luồng xúc cảm nào đó Thôi thúc Kolya giơ tay vuốt mái tóc của Ilusha.
“Đừng bận tâm!” — cậu khẽ lẩm bẩm để vực dậy tinh thần cho bạn, hoặc có lẽ chính cậu cũng chẳng hiểu vì sao mình lại thốt ra câu đó. Cả hai chìm đệm trong im lặng suốt một phút.
“Ơ kìa, thế là cậu có chó con mới cơ à?” — Kolya đột nhiên cất giọng với vẻ dửng dưng hết mức.
“Ừ... mm,” — Ilusha đáp bằng một tiếng thì thào kéo dài, thở hổn hển từng nhịp.
“Cái mũi đen sì thế kia nghĩa là nó dữ dằn lắm đấy, một con chó giữ nhà cừ khôi đây,” — Kolya nghiêm nghị và điềm tĩnh nhận xét, cứ như thể thứ duy nhất cậu quan tâm trên đời chính là con chó nhỏ và cái mũi đen của nó. Nhưng thực chất, cậu vẫn phải cố gắng hết sức để kìm nén cảm xúc nhằm không oà khóc như một đứa trẻ, dù có cố cách mấy đi nữa thì cậu cũng chẳng tài nào kiểm soát nổi. “Lớn lên thể nào cậu cũng phải xích nó lại cho mà xem, tớ chắc chắn đấy.”
“Nó sẽ thành một con chó to tướng cho mà xem!” — một đứa trẻ kêu lên.
“Tất nhiên rồi,” “chó ngao mà,” “to lắm,” “cỡ này này,” “to bằng cả con bê ấy chứ,” — rất nhiều tiếng đồng thanh vang lên.
“To bằng con bê, to như bê thật ấy chứ,” — viên đại đội trưởng hùa theo — “Tôi cố tình chọn một con như thế đấy, thuộc giống dữ nhất, bố mẹ chúng đều to lớn và hung dữ vô cùng, đứng cao từ dưới đất lên đến tận... Nào, mời cậu ngồi đây, ngồi lên giường của Ilusha này, hoặc ngồi lên ghế băng cũng được. Xin nhiệt liệt chào mừng cậu, chúng tôi mong mỏi được gặp cậu lâu lắm rồi... Cậu đã rất tử tế khi đi cùng Alexey Fyodorovitch phải không?”
Krassotkin ngồi xuống mép giường, ngay dưới chân Ilusha. Dù dọc đường cậu có thể đã soạn sẵn trong đầu một màn mở lời thật tự nhiên và phóng khoáng cho cuộc trò chuyện, nhưng giờ đây, cậu hoàn toàn quên sạch sành sanh mạch ý.
“Không... tớ đi cùng Perezvon. Tớ có một con chó rồi, tên nó là Perezvon. Một cái tên mang âm hưởng Slav. Nó ở ngoài kia kìa... nếu tớ huýt sáo, nó sẽ chạy vào ngay. Tớ cũng mang theo một con chó đấy,” — cậu quay sang nói thẳng với Ilusha — “Cậu còn nhớ con Zhutchka không, anh bạn?” — cậu bất ngờ bắn thẳng câu hỏi ấy vào mặt bạn.
Khuôn mặt nhỏ bé của Ilusha giật bắn lên. Cậu nhìn Kolya với vẻ mặt đau đớn tột cùng. Alyosha đứng cạnh cửa liền cau mày và ra hiệu cho Kolya đừng nhắc đến Zhutchka, nhưng cậu phớt lờ hoặc chẳng thèm để ý đến.
“Zhutchka... đâu rồi hả cậu?” — Ilusha cất giọng đứt quãng hỏi.
“Ơ hay, này cậu, con Zhutchka của cậu mất tích và tiêu đời rồi chứ sao nữa!”
Ilusha lặng thinh, nhưng đôi mắt cậu lại trân trân nhìn đăm đăm vào Kolya. Alyosha bắt gặp ánh mắt của Kolya, bèn dồn dập ra hiệu lần nữa, nhưng cậu quay mặt đi làm bộ như không trông thấy.
“Chắc nó chạy đi rồi chếtó xó nào đấy thôi. Chắc chắn nó chết sau bữa ăn quái ác kiểu đó rồi,” — Kolya lạnh lùng phán quyết, dù giọng cậu có chút đứt quãng vì hụt hơi — “Nhưng tớ có một con chó, tên là Perezvon... Mang âm hưởng Slav... Tớ mang nó tới đây để cho cậu tận mắt ngắm nghía đấy.”
“Tớ không cần!” — Ilusha đột ngột thốt lên.
“Không, không, cậu cứ phải xem cơ... nó sẽ làm cậu khuây khỏa đấy. Tớ mang nó đến cốt là vì thế mà... Nó cũng là giống chó xù y như thế... Thưa phu nhân, tôi xin phép được gọi con chó của tôi vào nhà nhé?” — cậu bất ngờ quay sang hỏi phu nhân Snegiryov với vẻ khích động khó hiểu.
“Tớ không cần, tớ không cần đâu!” — Ilusha kêu lên, giọng nghẹn ngào đầy đau khổ. Trong ánh mắt cậu ánh lên một niềm trách cứ.
“Thôi cậu ơi,” — viên đại đội trưởng đứng phắt dậy từ chiếc rương áp tường mà ông vừa ngồi nãy giờ — “thôi cậu... để dịp khác đi,” — ông ấp úng, nhưng Kolya nào chịu nghe lời can ngăn. Cậu vội vã quát lớn với Smurov: “Mở cửa ra!”, và ngay khi cánh cửa vừa hé mở, cậu liền huýt sáo một tiếng. Perezvon lao giật lùi vào phòng như một tên bắn.
“Nhảy lên nào Perezvon, lạy xin nào! Lạy xin đi!” — Kolya nhảy chồm lên hô lớn, và con chó liền đứng thẳng người trên hai chân sau ngay bên cạnh giường Ilusha. Cảnh tượng diễn ra ngay sau đó khiến tất cả mọi người được một phen kinh ngạc: Ilusha giật nảy mình, chồm hẳn người về phía trước, cúi gập xuống nhìn chăm chăm vào Perezvon với đôi mắt dại đi vì hồi hộp.
“Đấy là... con Zhutchka!” — cậu bất ngờ hét lên bằng một giọng nghẹn ngào vì hạnh phúc lẫn đớn đau.
“Chứ cậu tưởng con nào nữa hả?” — Krassotkin gào lên hết cỡ bằng một giọng trong trẻo, vui sướng, rồi cúi người tóm lấy con chó nhấc bổng lên ngang tầm Ilusha.
“Nhìn này anh bạn, thấy chưa, mù một bên mắt và rách tai trái, y hệt như những đặc điểm cậu đã tả cho tớ nghe nhé. Chính nhờ những dấu vết đó mà tớ tìm ra nó. Tớ tìm ra ngay lập tức. Nó chẳng phải chó của ai cả!” — cậu vừa giải thích vừa quay ngoắt sang nhìn viên đại đội trưởng, vợ ông, Alyosha rồi lại quay phắt về phía Ilusha — “Nó từng lang thang ở khu vườn sau nhà Fedotovs. Dù nó coi đó là nhà, nhưng chẳng ai cho nó ăn cả. Nó là một con chó hoang chạy trốn từ ngoài làng... Tớ đã tìm ra nó... Cậu thấy chưa, đồ ngốc ạ, nó mà nuốt thứ cậu cho thì đời nào còn sống nổi. Nếu nuốt thật, nó đã chết toi từ lâu rồi, chắc chắn là thế! Thế nên thể nào nó cũng nhổ ra rồi, bằng chứng là nó vẫn đang sống nhăn ra kìa. Cậu có thấy nó nuốt đâu cơ chứ. Chỉ tại cái kim đâm vào lưỡi làm nó đau nên mới sủa ré lên như thế. Nó vừa chạy vừa sủa ré lên và cậu cứ tưởng là nó nuốt chửng mất tiêu. Nó kêu ré lên là phải, vì da trong miệng loài chó vốn cực kỳ mềm... mềm hơn cả con người, mềm hơn rất nhiều ấy chứ!” — Kolya say sưa tuôn một tràng, khuôn mặt rực rỡ và bừng sáng niềm vui sướng. Ilusha không nói nên lời. Trắng bệch như tờ giấy, cậu trân trân nhìn Kolya với cái miệng há hốc và đôi mắt to trợn ngược như muốn rớt cả ra ngoài. Và nếu Krassotkin — kẻ hoàn toàn vô can — mà biết được khoảnh khắc này có thể gây ra hậu quả tai hại và chí tử nhường nào đối với sức khỏe của đứa trẻ bệnh tật, thì dù có đánh chết cậu cũng chẳng đời nào dám chơi cái trò ác nghiệt ấy với bạn. Thế nhưng Alyosha có lẽ là người duy nhất trong phòng nhận ra điều đó. Còn về phần viên đại đội trưởng, ông cư xử chẳng khác nào một đứa trẻ con.
“Zhutchka! Đúng là Zhutchka rồi!” — ông kêu lên bằng một giọng hạnh phúc ngập tràn — “Ilusha ơi, đây chính là con Zhutchka, con Zhutchka của con đây mà! Mẹ ơi, đây là Zhutchka cơ mà!” — Ông suýt thì oà khóc.
“Thế mà tớ chẳng hề đoán ra!” — Smurov luyến tiếc kêu lên — “Hay lắm, Krassotkin! Tớ đã bảo là cậu ấy sẽ tìm được con chó mà, và quả nhiên cậu ấy tìm được rồi đây này.”
“Đúng là cậu ấy tìm ra rồi kìa!” — một đứa trẻ khác vui sướng phụ họa.
“Krassotkin đúng là một tay cừ khôi!” — giọng thứ ba vang lên.
“Cừ khôi quá đi chứ, cừ khôi thật đấy!” — những đứa trẻ khác hò reo và bắt đầu vỗ tay rào rào.
“Khoan đã, khoan đã nào,” — Krassotkin cố hết sức hét át cả lũ trẻ — “Để tớ kể cho nghe mọi chuyện diễn ra thế nào, đây mới là điểm mấu chốt này. Tớ tìm thấy nó, đem về nhà giấu tiệt đi ngay lập tức. Tớ nhốt nó trong nhà và chẳng thèm khoe với ai cho đến tận ngày hôm nay. Chỉ có mỗi Smurov là hay biết từ hai tuần nay thôi, nhưng tớ gạt nó rằng con chó này tên là Perezvon và thế là nó chẳng mảy mai nghi ngờ. Và trong khoảng thời gian đó, tớ huấn luyện con chó đủ mọi trò. Cậu cứ phải tận mắt chứng kiến tất cả những gì nó làm được cơ! Tớ huấn luyện để đem đến cho cậu một con chó thật quy củ, béo tốt khỏe mạnh nhé, anh bạn, để có thể hiên ngang nói với cậu rằng: ‘Này ông bạn, con Zhutchka của cậu bây giờ oai vệ chưa này!’ Nhà cậu có chút thịt nào không đấy? Nó sẽ biểu diễn cho cậu xem một trò cười đến bể bụng cho mà xem. Có miếng thịt nào không hả?”
Viên đại đội trưởng hớt hải chạy băng qua hành lang sang phòng bà chủ nhà – nơi dùng làm bếp nấu nướng. Để không bỏ lỡ những giây phút quý giá, Kolya vội vã hét lên với Perezvon: “Chết đi!” Và con chó liền quay ngoắt người nằm ngửa ra sàn, bốn chân chổng cả lên trời. Lũ trẻ cười rộ lên. Ilusha nhìn theo với nụ cười đau đớn quen thuộc, nhưng người tỏ ra thích thú nhất với màn biểu diễn của con chó lại chính là “mẹ”. Bà cười vang khi nhìn con chó rồi bắt đầu búng tay gọi giật giọng: “Perezvon, Perezvon ơi!”
“Đố ai bắt nó đứng dậy được đấy, đố luôn đấy!” — Kolya đắc ý kêu lên, vô cùng tự hào về thành quả của mình — “Có gào thét rách cổ họng nó cũng chẳng thèm nhúc nhích đâu, nhưng hễ tớ cất tiếng gọi là nó chồm dậy ngay tức khắc. Ici, Perezvon!” Lệnh vừa dứt, con chó liền vùng dậy nhảy cẫng lên quấn quýt bên chủ, rên rỉ vì mừng rỡ. Viên đại đội trưởng hớt hải chạy vào, trên tay cầm một miếng thịt bò đã nấu chín.
“Nó còn nóng không đấy?” — Kolya vội vã hỏi với vẻ mặt nghiêm túc ra điều chuyên nghiệp khi cầm lấy miếng thịt — “Lũ chó không thích đồ nóng đâu. Ồ được rồi, không sao cả. Mọi người nhìn đây nhé, Ilusha, anh bạn ơi, sao cậu không nhìn vào đây? Nó lại chẳng thèm nhìn khi tớ mang đến cơ chứ.”
Màn biểu diễn tiếp theo đòi hỏi con chó phải đứng im bất động với chiếc mũiểnh lên, còn một mẩu thịt ngon lành thì được đặt ngay chính lên đầu mũi nó. Con chó tội nghiệp phải đứng im lìm không được cấn cục, miếng thịt giữ nguyên trên chóp mũi bao lâu tùy thích theo ý chủ, có khi mất đứt nửa tiếng đồng hồ. Nhưng cậu chỉ bắt Perezvon giữ tư thế đó trong một chốc ngắn ngủi.
“Được trả công rồi nhé!” — Kolya hô lớn, và miếng thịt bay vèo từ chóp mũi vào thẳng miệng con chó trong chớp mắt. Khán giả xung quanh tất nhiên được một phen trầm trồ tán thưởng.
“Cậu hoãn việc đến đây mãi chỉ cốt để huấn luyện con chó này thôi á?” — Alyosha thốt lên, trong giọng nói mang theo một chút trách cứ không giấu giếm.
“Chính xác là vì thế đấy!” — Kolya đáp tỉnh bơ — “Tớ muốn đưa nó ra mắt trong toàn bộ phong độ oai vệ nhất của nó cơ.”
“Perezvon! Perezvon,” — Ilusha bất ngờ gọi, khẽ búng những ngón tay gầy gò và ra hiệu gọi con chó lại gần.
“Sao thế nhỉ? Cho nó nhảy lên giường luôn đi! Ici, Perezvon!” — Kolya vỗ đét vào nệm giường, và Perezvon lao vút lên sát cạnh Ilusha. Cậu bé vòng tay ôm chầm lấy đầu con chó, và Perezvon lập tức liếm láp má chủ. Ilusha rúc sát vào người nó, duỗi thẳng người trên giường và giấu nhẹm khuôn mặt vào bộ lông xù của con chó.
“Ôi chao, ôi chao là trời!” — viên đại đội trưởng không ngớt xuýt xoa. Kolya lại ngồi phịch xuống mép giường.
“Ilusha này, tớ còn có thể cho cậu xem một trò nữa cơ. Tớ mang cho cậu một khẩu đại bác nhỏ nhé. Cậu còn nhớ lần trước tớ kể cho nghe và cậu đã trầm trồ ao ước được nhìn thấy tận mắt không nào. Này, tớ mang nó đến cho cậu đây này.”
Nói đoạn, Kolya vội vàng lôi từ trong cặp sách ra một khẩu đại bác bằng đồng nhỏ xíu. Cậu vội vã vì chính bản thân đang ngập tràn hạnh phúc. Nếu là lúc khác, có lẽ cậu đã đợi cho bầu không khí náo động do Perezvon tạo ra lắng xuống đã, nhưng giờ đây cậu cứ thế tiến hành chẳng mải mai đếm xỉa gì đến xung quanh. “Mọi người đang hạnh phúc ngập tràn thế cơ mà,” — cậu thầm nghĩ — “thế thì phải bồi thêm một thứ khiến tất cả càng hạnh phúc hơn nữa chứ!” Bản thân cậu cũng hoàn toàn bị cuốn vào niềm mê đắm đó.
“Tớ đã thèm thuồng món đồ này lâu lắm rồi đấy; nó là của cậu, anh bạn ạ, của riêng cậu thôi. Đồ này là của Morozov, chẳng dùng đến nữa, hắn vớ được từ ông anh trai. Tớ đã đổi lấy nó bằng một cuốn sách lấy từ tủ sách của bố tớ, cuốn sách mang tên *Một người họ hàng của Mahomet hoặc Sự u mê ích nước*, một ấn phẩm mang tư tưởng đồi trụy xuất bản ở Moscow từ một trăm năm trước, thời chưa có kiểm duyệt gì sảng. Mà Morozov lại rất có khiếu thưởng thức mấy thể loại sách vở kiểu này. Hắn tỏ ra biết ơn tớ lắm đấy chứ...”
Kolya cầm khẩu đại bác trên tay để tất cả mọi người cùng chiêm ngưỡng và trầm trồ. Ilusha nhỏm dậy, một tay vẫn ôm ghì lấy con chó, say sưa ngắm nhìn món đồ chơi với ánh mắt đầy mê mẩn. Cảm giác háo hức còn dâng cao hơn nữa khi Kolya tuyên bố rằng cậu còn mang theo cả thuốc súng, và khẩu pháo có thể khai hỏa ngay lập tức “nếu điều đó không làm các quý bà giật mình kinh hãi.” Ngay lập tức “Mẹ” ngỏ ý muốn xem món đồ chơi ở cự ly gần hơn và thỉnh cầu của bà nhanh chóng được chấp thuận. Bà tỏ ra vô cùng thích thú với khẩu đại bác bằng đồng có gắn bánh xe này, cứ lăn qua lăn lại nó trên đùi. Bà vui vẻ gật đầu cho phép khai hỏa khẩu pháo mà chẳng hề hình dung nổi thứ mà người ta vừa xin phép mình là cái gì. Kolya bày thuốc súng và đạn bi ra. Viên đại đội trưởng với tư cách là một người từng trong quân ngũ liền xung phong nhận trọng trách nạp đạn, cẩn trọng nhét vào một lượng thuốc súng cực kỳ ít. Ông đề nghị để dành viên đạn cho dịp khác. Khẩu pháo được đặt xuống sàn nhà, hướng mũi nòng về một khoảng trống trải trong phòng, ba hạt thuốc súng được nhét vào lỗ điểm hỏa và một que diêm được châm lửa đưa vào. Một tiếng nổ vang dội vô cùng hoành tráng vang lên. Mẹ giật thót mình, nhưng rồi lại cười phá lên thích thú ngay lập tức. Lũ trẻ trân trân nhìn theo với vẻ đắc thắng không nói nên lời. Thế nhưng viên đại đội trưởng, khi ngước nhìn Ilusha, mới là kẻ chìm đắm trong hạnh phúc hơn bất kỳ ai. Kolya cúi xuống nhặt khẩu pháo lên rồi trao tận tay Ilusha kèm theo cả thuốc súng lẫn đạn bi.
“Tớ kiếm nó vì cậu, vì chính cậu đấy! Tớ giữ gìn nó cho cậu lâu lắm rồi cơ,” — cậu lại một lần nữa hào hứng lặp lại.
“Ôi, đưa cho em đi nào! Không, đưa khẩu pháo đây cho tôi cơ mà!” — mẹ bắt đầu nài nỉ hệt như một đứa trẻ con. Nét mặt bà lộ rõ vẻ hoảng sợ đáng thương rằng mình sẽ không giành được nó. Kolya đâm ra lúng túng. Viên đại đội trưởng thấp thỏm không yên.
“Mẹ ơi, mẹ ơi,” — ông lật đật chạy lại phía vợ — “khẩu pháo này đương nhiên là của mẹ rồi, nhưng cứ để cho Ilusha giữ đã, vì đây là quà người ta tặng nó mà, nhưng nó cũng giá trị hệt như của mẹ vậy thôi. Ilusha lúc nào chẳng cho mẹ chơi cùng; nó sẽ là của chung cả hai mẹ con mình, của chung hai người nhé.”
“Không, tôi không muốn của chung gì hết, tôi muốn nó là của riêng tôi cơ, không phải của thằng Ilusha,” — mẹ khăng khăng đòi, mặt xị xuống chực khóc.
“Cầm lấy đi mẹ, đây này, mẹ giữ lấy đi!” — Ilusha kêu lên — “Krassotkin ơi, tớ đem tặng mẹ tớ có được không?” — cậu quay sang nhìn Krassotkin với ánh mắt nài nỉ, cứ như thể sợ rằng đối phương sẽ phật lòng vì cậu đem món quà được tặng đi cho người khác.
“Được chứ, sao lại không nào,” — Krassotkin hào phóng đáp lời, rồi tự tay cầm lấy khẩu pháo từ chỗ Ilusha trao tận tay phu nhân kèm theo một cái cúi đầu lịch thiệp. Bà xúc động đến mức rơm rớm nước mắt.
“Ilusha cưng của mẹ ơi, đúng là cậu bé này biết thương mẹ nhất đời!” — bà ân cần thốt lên, rồi lập tức lại hí hửng lăn qua lăn lại khẩu pháo trên đùi mình.
“Mẹ ơi, cho con thơm tay mẹ một cái nhé.” — Viên đại đội trưởng chồm ngay tới và thực hiện hành động đó.
“Và tôi chưa từng thấy ai đáng yêu đến thế, một cậu bé thật tử tế,” — người phụ nữ tỏ lòng biết ơn, đưa tay chỉ về phía Krassotkin.
“Và tớ sẽ mang cho cậu bao nhiêu thuốc súng tùy thích nhé, Ilusha. Tụi tớ tự chế lấy thuốc súng đấy chứ lỵ. Thằng Borovikov đã mày mò ra cách làm – hai mươi tư phần diêm tiêu, mười phần lưu huỳnh và sáu phần than gỗ bu-lô. Tất cả đem giã nhuyễn chung với nhau, trộn thành một dạng bột nhão rồi rây qua cái rây vải thưa – cách thức làm là như thế đấy.”
“Smurov có kể cho tớ nghe về vụ thuốc súng của các cậu rồi, chỉ có điều bố tớ bảo đó không phải thuốc súng thật,” — Ilusha đáp lời.
“Không phải thật á?” — Kolya đỏ bừng mặt — “Nó cháy được cơ mà. Tất nhiên là tớ cũng chẳng rõ lắm đâu.”
“Không, ý bố không phải thế,” — viên đại đội trưởng ngượng ngùng chêm vào với vẻ mặt có lỗi — “Ý bố chỉ là thuốc súng thật không chế kiểu đó, nhưng mà không sao cả, người ta vẫn có thể làm thế được mà.”
“Tớ chịu, cậu hiểu rõ hơn cơ mà. Bọn tớ từng châm lửa đốt thử một nhúm trong lọ đựng pomade nhé, nó cháy phừng phừng cực kỳ đẹp mắt, cháy rụi chẳng chừa lại gì ngoài một nhúm tro tí xíu. Nhưng đấy mới chỉ là dạng bột nhão thôi, chứ nếu đem rây qua... mà chắc chắn là cậu biết rõ hơn rồi, tớ thì chịu chết... Mà này, bố của thằng Bulkin vừa tẩn cho nó một trận nhừ tử cũng chỉ vì vụ thuốc súng của bọn mình đấy, cậu có hay tin gì chưa?” — cậu quay sang hỏi Ilusha.
“Rồi,” — Ilusha đáp. Cậu lắng nghe Kolya với một sự hứng thú và say mê tột độ.
“Bọn tớ pha chế sẵn cả một chai to tướng và nó cứ giấu tiệt dưới gầm giường. Bố nó phát hiện ra. Lão ta bảo nó có thể phát nổ bất cứ lúc nào, thế là quất cho một trận roi đòn tơi bời ngay tại trận. Lão còn định làm đơn khiếu nại tớ lên ban giám hiệu nhà trường nữa chứ. Bây giờ nó không được phép la cà cùng tớ nữa rồi, chẳng đứa nào được phép du du với tớ cả. Cả Smurov cũng bị cấm tiệt luôn, tớ mang tiếng xấu với thiên hạ mất rồi. Người ta bảo tớ là một ‘tên phá phách lì lợm,’ ” — Kolya mỉm cười khinh bỉ — “Mọi chuyện bắt đầu từ cái sự cố trên đường ray xe lửa ấy mà.”
“A, bọn chú cũng nghe người ta bàn tán về chiến tích lẫy lừng đó của cháu đấy chứ!” — viên đại đội trưởng thốt lên — “Sao cháu lại có thể nằm lì trên đường ray được cơ chứ? Chẳng lẽ cháu không hề thấy sợ chút nào sao, cứ nằm ì ra đấy khi đoàn tàu đang lao đến? Cháu không sợ hãi gì ư?”
Viên đại đội trưởng hạ cố nịnh hót Kolya ra mặt.
“K—không hẳn là sợ lắm,” — Kolya phất tay đáp với vẻ dửng dưng — “Thứ khiến danh tiếng của tớ bị bôi nhọ tồi tệ nhất ở cái thị trấn này chính là con ngỗng chết tiệt kia kìa,” — cậu vừa nói vừa quay sang hướng Ilusha. Dù cố tỏ ra bất cần trong lúc trò chuyện, thế nhưng cậu vẫn không tài nào kiểm soát được cảm xúc của bản thân và liên tục lạc giọng khỏi cái tông điệu mà cậu vẫn đang cố gồng lên duy trì.
“À! Tớ nghe ngóng được vụ con ngỗng rồi đấy!” — Ilusha cười rộ lên, ánh mắt bừng sáng rạng rỡ — “Mọi người kể lại cho tớ nghe, nhưng tớ chẳng tài nào hiểu nổi. Bộ người ta đưa cậu ra tòa thật á?”
“Một vụ việc ngớ ngẩn vàn vặt hết chỗ nói, người ta cứ làm rùm beng lên như thể con bò kéo xe thành con voi ấy mà, đúng là cái thói quen muôn thuở của thiên hạ,” — Kolya bắt đầu kể với giọng điệu bàng quan — “Hôm ấy tớ đang thong thả đi qua khu chợ, đúng lúc người ta lùa đàn ngỗng vào. Tớ dừng chân đứng ngắm chúng. Bỗng dưng có một gã hiện đang làm chân sai vật ở tiệm Plotnikov nhìn tớ rồi hất hàm hỏi: ‘Mày đứng ngắm ngỗng làm quái gì thế?’ Tớ liền nhìn lại hắn; hóa ra là một tên mặt trăng đần độn cỡ đôi mươi. Cậu biết đấy, tớ vốn luôn đứng về phía tầng lớp bình dân. Tớ rất thích trò chuyện với mấy bác nông dân... Chúng ta đã tụt hậu so với dân gian rồi – đó là một chân lý hiển nhiên. Cậu đang cười cợt gì đấy phải không, Karamazov?”
“Không đâu, lạy Chúa, tôi đang chăm chú lắng nghe đây chứ,” — Alyosha đáp với vẻ mặt hiền lành hết mực, và cậu chàng nhạy cảm Kolya liền yên tâm ngay tức khắc.
“Triết lý của tớ, Karamazov ạ, rất rõ ràng và giản đơn,” — cậu lại hớn hở tuôn tràng dài — “Tớ đặt trọn niềm tin vào nhân dân và luôn sẵn sàng trao cho họ những gì họ xứng đáng, nhưng tớ không hề ủng hộ kiểu nuông chiều họ quá đà, đó là một điều kiện tiên quyết... Nhưng tớ đang kể dở câu chuyện về con ngỗng cơ mà. Thế là tớ quay sang cái tên đần độn đó và đáp trả: ‘Tao đang tự hỏi không biết con ngỗng đang tư lự điều gì kia chứ.’ Hắn nhìn tớ với vẻ mặt đần thối ra: ‘Thế con ngỗng thì nó suy tư cái quái gì?’ hắn hỏi. ‘Mày có thấy chiếc xe chở đầy yến mạch kia không?’ tớ bảo. ‘Hạt yến mạch cứ rơiả từ trong bao tải kìa, và con ngỗng thì thò cổ hẳn vào dưới bánh xe để rúc mổ chúng – mày có thấy không?’ ‘Tao thấy rõ mồn một chứ,’ hắn đáp. ‘Thế thì,’ tớ nói tiếp, ‘nếu cái xe kia dịch chuyển thêm chút xíu nữa thôi, thì liệu nó có nghiẻm đứt cổ con ngỗng hay không?’ ‘Cầm chắc là đứt đôi chứ lị,’ hắn nhe răng cười toe toét, khoái chí ra mặt. ‘Thế thì nhào vô đây, thử xem nào,’ tớ bảo. ‘Chơi luôn sợ gì,’ hắn đáp. Thế là tụi tớ vạch kế hoạch nhanh như chớp: hắn túc trực nắm lấy dây cương còn tớ đứng một bên chỉ đạo con ngỗng. Chủ nhân của nó thì đang mải buôn chuyện với ai đó chẳng màng ngó ngàng gì tới, thế là tớ chẳng tốn chút công sức nào, con ngỗng tự động thò đầu vào gậm tìm yến mạch, sát ngay dưới gầm bánh xe. Tớ nháy mắt ra hiệu cho thằng kia, nó liền giật mạnh dây cương, và rắc. Cổ con ngỗng gãy gập làm đôi. Khổ nỗi, đúng lúc đó toàn bộ tụi nông dân xung quanh đều chứng kiến cảnh tượng ấy nên chúng lập tức xúm lại làm ầm ĩ lên. ‘Chúng mày cố tình chơi ác phỏng!’ ‘Không hề cố tình nhé.’ ‘Có, chính chúng mày cố tình chứ còn chối cãi gì!’ Thế là chúng hò hét: ‘Lôi cổ tụi nó ra tòa án hòa giải!’ Tụi nó túm luôn cả tớ đi theo. ‘Cả thằng này nữa,’ chúng réo lên, ‘chính nó nhúng tay tiếp sức đấy, mặt nó thì nhẵn mặt cả cái khu chợ này rồi!’ Mà ngặt một nỗi, chẳng hiểu sao tớ lại thực sự nổi danh khắp cái khu chợ này mới tài chứ,” — Kolya đắc ý chêm vào. — “Thế là tất cả lũ lượt kéo nhau ra quan tòa, đồng thời mang theo cả con xác con ngỗng. Gã kia thì khóc lóc thảm thiết như cha chết mẹ đì, nước mắt nước mũi đầm đìa hệt đàn bà. Còn lão chủ ngỗng thì cứ mồm năm miệng mười gào thét rằng kiểu quái gì mà chẳng giết chết được mấy con ngỗng với cái cách đó. Chà, đương nhiên là có nhân chứng vật chứng đàng hoàng rồi. Quan tòa phán quyết trong một nốt nhạc, bắt bồi thường cho lão chủ một rúp tiền con ngỗng, và gã thanh niên kia thì được phép lấy con ngỗng mang về. Đồng thời hắn bị cảnh cáo không được phép giở mấy trò quái đản đó ra nữa. Thế mà cái gã ấy vẫn cứ đứng mếu máo sụt sùi như đàn bà. ‘Không phải tại tôi,’ hắn thanh minh, ‘tại thằng này xúi giục tôi đấy chứ,’ vừa nói hắn vừa chỉ tay về phía tớ. Tớ điềm nhiên đáp trả với thái độ bình thản nhất, rằng tớ chẳng hề xúi giục gì sất, tớ chỉ nêu ra một định đề tổng quát mang tính giả định mà thôi. Vị quan tòa mỉm cười, rồi lập tức bực mình chính mình vì đã trót cười. ‘Ta sẽ làm đơn khiếu nại lên ban giám hiệu nhà trường về tội của cậu, để từ nay cậu chừa cái thói đem thời gian quý báu ra bàn mấy chuyện định đề tổng quát vớ vẩn đó, thay vì ngồi im trong lớp cặm cụi dùi mài kinh sử.’ Đương nhiên là ngài chẳng thưa kiện gì lên trường lớp cả, đó chỉ là câu nói đùa cho vui, nhưng câu chuyện đó cứ thế loan truyền đi và cuối cùng lọt đến tai các thầy giáo. Tai các ngài thính lắm chứ bộ! Đặc biệt là thầy giáo dạy văn hóa cổ điển Kolbasnikov, lão ta tỏ ra vô cùng sốc trước vụ này, nhưng rồi thầy Dardanelov lại ra tay cứu vớt, gỡ tội cho tớ. Thế nhưng lão Kolbasnikov bây giờ thì lúc nào cũng hầm hầm nổi đóa với tất cả mọi người hệt như một trái táo xanh bị bón phân. Cậu có biết không Ilusha, lão vừa mới cưới vợ đấy, vớ được khoản hồi môn cả ngàn rúp, trong khi cô dâu thì đúng là một thảm họa nhan sắc thượng thặng hạng nhất bậc chót. Mấy gã học sinh lớp ba đã tung ngay một bài thơ châm biếm về vụ này thế này nhé:
Tin số động vang lên tận lớp học,
Lão Kolbasnikov hóa gã khờ rồi.
Đại loại thế, buồn cười rớt hàm luôn, ít nữa tớ sẽ mang tới cho cậu thưởng thức. Tớ chẳng có ý kiến gì phản đối thầy Dardanelov đâu, ngài là một học giả uyên bác, điều đó là không thể bàn cãi. Tớ vô cùng kính trọng những người như thế, và điều đó hoàn toàn chẳng phải vì ngài đã từng đứng ra bênh vực tớ đâu nhé.”
“Thế mà cậu đã vặn vọng lão ta một vố đau điếng về vấn đề ai là kẻ sáng lập thành Troy còn gì!” — Smurov đột ngột chen ngang, lộ rõ vẻ tự hào khôn tả về Krassotkin ngay giữa thời khắc đó. Cậu tỏ ra cực kỳ đắc ý với câu chuyện con ngỗng.
“Cậu thực sự đã khiến lão ta phải ngậm miệng tịt ngòi thế cơ à?” — viên đại đội trưởng buông lời nịnh nọt hỏi — “Về cái câu hỏi ai là người khai sinh ra thành Troy ấy á? Bọn chú có nghe phong phanh rồi, chính Ilusha đã kể lại cho chú nghe lúc bấy giờ đấy.”
“Cậu ấy cái gì mà chẳng biết thưa bố, cậu ấy uyên bác hơn tất cả chúng con cộng lại ấy chứ!” — Ilusha hãnh diện tiếp lời — “Cậu ấy cứ hay làm ra vẻ thế thôi chứ thực ra môn nào cậu ấy cũng đứng đầu bảng...”
Ilusha ngước nhìn Kolya với một niềm hạnh phúc vô biên.
“Ôi dào, mâý chuyện về thành Troy ấy chỉ là nhảm nhí, chuyện vặt vãnh ấy mà. Tớ đánh giá đó là một câu hỏi không mấy quan trọng,” — Kolya ra điều nhún nhường đầy kiêu hãnh. Lúc này cậu đã hoàn toàn lấy lại được phong thái đĩnh đạc của mình, dẫu trong lòng vẫn còn chút thấp thỏm không yên. Cậu lờ mờ nhận ra bản thân vừa rồi quá khích và đã kể lể về vụ con ngỗng một cách quá đỗi suồng sã, trong khi Alyosha từ nãy đến giờ cứ giữ vẻ mặt nghiêm nghị và chẳng thưa lấy một lời. Và thế là cậu thiếu niên kiêu kỳ bắt đầu nảy sinh một nỗi sợ âm ỉ rằng Alyosha giữ im lặng là vì đang khinh miệt cậu, và nghĩ rằng cậu chỉ đang cố tình ra oai làm hàng trước mặt mình. Nếu như gã dám nghĩ như thế thì Kolya sẽ—
“Tớ coi vấn đề đó chỉ đáng xếp loại vặt vãnh mà thôi,” — cậu lại trịch thượng chêm vào.
“Thế mà tớ lại biết ai là người khai sinh ra thành Troy đấy nhé,” — một cậu bé nãy giờ chưa hề lên tiếng bỗng cất lời trong sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người. Cậu bé nãy giờ vẫn ngồi im thin thít và tỏ ra vô cùng rụt rè. Đó là một đứa trẻ xinh xắn chừng mười một tuổi tên là Kartashov. Cậu đang ngồi ở góc gần cửa ra vào. Kolya quay sang nhìn cậu với vẻ kinh ngạc đầy uy quyền.
Sự thật là danh tính của những kẻ khai sinh ra thành Troy từng là một bí mật động trời đối với toàn trường, một bí mật chỉ có thể vén màn bằng cách đọc bộ sách Smaragdov, mà ngặt một nỗi toàn trường chỉ có mỗi mình Kolya sở hữu cuốn sách ấy. Có lần, lợi dụng lúc Kolya quay lưng đi chỗ khác, Kartashov đã hớt hải mở cuốn Smaragdov nằm lăn lóc giữa đống sách của Kolya ra, và đập ngay vào mắt cậu chính là đoạn văn đề cập đến nguồn gốc khai sinh thành Troy. Chuyện đó xảy ra đã lâu, nhưng cậu vẫn luôn nơm nớp lo sợ và chẳng tài nào dám dõng dạc tuyên bố công khai rằng mình cũng tường tận kẻ nào đã sáng lập ra thành Troy, vì sợ những rắc rối có thể ập đến và sợ cả việc bị Krassotkin bẽ mặt theo một cách nào đó. Thế nhưng giờ đây, cậu không thể nào kìm nén được nữa. Cả mấy tuần nay cậu đã khao khát được thốt lên điều này biết bao.
“Thế ai là kẻ sáng lập ra nó nào?” — Kolya cất giọng hỏi, quay phắt người về phía cậu bé với vẻ trịch thượng đầy kiêu kỳ. Nhìn sắc mặt đối phương, cậu thừa biết cậu bé này nắm rõ đáp án, và trong đầu lập tức vạch ra thái độ đối phó. Có thể nói sự kiện này giống như một nốt trầm lệch nhịp trong bản hòa tấu chung.
“Thành Troy được sáng lập bởi Teucer, Dardanus, Ilius và Tros,” — cậu bé tuôn một lèo không vấp một chữ, và ngay khoảnh khắc ấy, mặt cậu đỏ bừng lên, đỏ tía tai đến mức nhìn vào thôi cũng thấy ngượng ngùng thay. Thế nhưng lũ trẻ xung quanh vẫn trân trân dán mắt vào cậu, nhìn không chớp mắt suốt cả phút đồng hồ, rồi tất cả những đôi mắt đang trừng trừng ấy đột ngột quay phắt lại tập trung đổ dồn vào Kolya – kẻ vẫn đang duy trì cái nhìn khinh miệt đầy điềm tĩnh đối với cậu nhóc cả gan vừa rồi.
“Theo cái nghĩa thế nào mà bọn chúng sáng lập ra nó chứ hả?” — cuối cùng cậu cũng rủ lòng ban ơn lên tiếng bình luận — “Và thế nào là định nghĩa việc khai sinh ra một thành phố hay một quốc gia? Bọn chúng làm những gì cơ chứ? Chẳng lẽ cậu tưởng tượng tụi nó dắt díu nhau ra đấy, mỗi đứa tự tay đặt một viên gạch chắc?”
Tiếng cười rộ lên. Cậu bé vừa phạm lỗi chuyển từ sắc hồng sang đỏ lựng. Cậu im thin thít và chực trào nước mắt. Kolya giữ nguyên tư thế áp đảo ấy suốt một phút.
“Trước khi đem một sự kiện lịch sử tầm vóc như việc khai sinh ra một dân tộc ra để bàn tán, cậu trước hết phải hiểu rõ bản thân đang ám chỉ cái quái gì đã,” — cậu nghiêm khắc và sắc sảo quở trách. — “Thế nhưng tớ chẳng thèm bận tâm đến mấy thứ chuyện cổ tích nhảm nhí của mấy bà già đó, và nói chung tớ cũng chẳng đánh giá cao cái gọi là lịch sử thế giới cho cam,” — cậu dửng dưng bồi thêm, hướng ánh nhìn về phía đám đông.
“Lịch sử thế giới cơ á?” — viên đại đội trưởng ngỡ ngàng hỏi lại với vẻ mặt suýt hoảng hốt.
“Đúng thế, lịch sử thế giới đấy! Chẳng qua đó chỉ là môn nghiên cứu về chuỗi những chu kỳ ngu ngốc nối tiếp nhau của nhân loại chứ chẳng có mẹ gì hơn. Những môn duy nhất tớ dành sự tôn trọng chỉ là toán học và khoa học tự nhiên,” — Kolya hùng hồn tuyên bố. Cậu đang cố ra oai và lén liếc nhìn sang Alyosha; đó là nhân vật duy nhất có sức nặng khiến cậu cảm thấy e dè ở đây. Thế nhưng Alyosha vẫn im thin thít và mang bộ mặt nghiêm nghị hệt như nãy giờ. Nếu như Alyosha chịu thốt ra dù chỉ một lời, chắc chắn cậu đã ngậm miệng lại ngay, đằng này Alyosha cứ im lặng và “đó rất có thể là sự im lặng của lòng khinh miệt,” và chính điều đó cuối cùng đã châm ngòi cơn tức giận trong lòng Kolya.
“Cả mấy thứ ngôn ngữ cổ điển nữa... chúng chẳng qua chỉ là sự điên rồ thuần túy, chẳng hơn không kém. Có vẻ như cậu lại bất đồng quan điểm với tớ nữa phải không, Karamazov?”
“Tôi không đồng tình,” — Alyosha đáp gọn lỏn với một nụ cười nhạt.
“Việc nghiên cứu văn hóa cổ điển, nói thật nếu cậu muốn nghe ý kiến của tớ, thì nó chẳng khác nào một biện pháp mang tính chất cai trị của cảnh sát, đích thị đó là lý do duy nhất khiến nó được nhồi nhét vào hệ thống trường học của chúng ta.” — Dần dần Kolya lại bắt đầu hụt hơi thở dốc — “Tiếng Latin và tiếng Hy Lạp được đưa vào chương trình đơn giản vì chúng quá mức nhạt nhẽo và vì chúng làm đần độn trí tuệ con người. Mọi thứ vốn dĩ đã buồn ngủ sẵn rồi, thế nên người ta phải nghĩ cách làm sao cho nó ngầy ngật hơn nữa chứ? Bản thân sự việc vốn dĩ đã vô nghĩa lắm rồi, thế nên người ta còn cách nào khác để biến nó thành vô nghĩa triệt để hơn không? Và thế là bọn chúng nghĩ ra tiếng Hy Lạp với Latin. Đó là quan điểm của tớ, và tớ hy vọng mình sẽ chẳng bao giờ thay đổi nó,” — Kolya dứt khoát kết luận. Hai gò má cậu đỏ lựng.
“Đúng thế thật,” — Smurov bất ngờ hùa theo với một giọng điệu đinh ninh đầy quả quyết. Cậu nãy giờ vẫn chăm chú lắng nghe từng lời.
“Thế mà hóa ra cậu ấy lại là đứa đứng đầu lớp về môn tiếng Latin đấy nhé,” — một đứa trẻ trong nhóm đột ngột lớn tiếng.
“Vâng đúng thế thưa bố, anh ấy nói thế đấy nhưng điểm tiếng Latin của anh ấy lúc nào cũng đứng đầu lớp,” — Ilusha hùa theo xác nhận.
“Thì sao nào?” — Kolya thấy cần thiết phải lên tiếng tự vệ, dẫu những lời ca tụng đó ngọt ngào vô cùng đối với cậu — “Tớ cắm cổ cày cuốc môn Latin đơn giản vì tớ buộc phải làm thế, vì tớ đã hứa với mẹ sẽ vượt qua kỳ thi đỗ đạt, và tớ quan niệm rằng đã làm bất cứ việc gì thì cũng phải đáng mặt làm cho thật tử tế. Nhưng tận sâu thẳm trong tâm hồn, tớ dành một sự khinh bỉ tột cùng cho văn hóa cổ điển và toàn bộ trò lừa bịp đó... Cậu không đồng tình à, Karamazov?”
“Sao lại gọi là ‘lừa bịp’?” — Alyosha lại mỉm cười.
“Thì đấy, toàn bộ các tác giả cổ điển đều đã được dịch sang mọi thứ tiếng trên đời rồi, thế nên người ta đâu có đưa tiếng Latin vào giảng dạy vì mục đích nghiên cứu cổ điển, mà hoàn toàn chỉ nhằm mục đích cai trị của cảnh sát, nhằm làm ngu đần bộ óc học sinh mà thôi. Vậy thì ngoài hai từ lừa bịp ra thì còn gọi nó là cái thá gì được nữa chứ?”
“Này, ai đã nhồi nhét cho cậu ngần ấy thứ lý lẽ này thế hả?” — Alyosha cuối cùng cũng không giấu nổi vẻ ngạc nhiên cất lời hỏi.
“Thứ nhất, bản thân tớ hoàn toàn có tư duy độc lập tự suy ngẫm chứ chẳng cần ai nhồi sọ hết. Hơn nữa, những gì tớ vừa bày tỏ về việc văn học cổ điển đã được dịch thuật kia chính là lời mà thầy giáo Kolbasnikov đã tuyên bố trước toàn thể học sinh lớp ba đấy nhé.”
“Bác sĩ đến rồi kìa!” — Nina, người nãy giờ vẫn im lặng từ đầu buổi, bỗng cất tiếng kêu lên.
Một chiếc xe ngựa thuộc sở hữu của phu nhân Hohlakov vừa đỗ xịch trước cổng. Viên đại đội trưởng – người đã ngóng đợi vị bác sĩ suốt cả buổi sáng – liền hớt hải cắm cổ chạy ra ngoài tiếp đón. “Mẹ” vội vã xốc lại tinh thần và trưng ra một bộ dạng cực kỳ trang nghiêm. Alyosha bước đến bên giường Ilusha và bắt đầu vun vén lại mấy chiếc gối cho ngay ngắn. Nina từ chiếc ghế dành cho người bệnh lo lắng dõi theo từng cử động dọn dẹp giường chiếu của anh. Lũ trẻ hối hả cất lời chào tạm biệt ra về. Vài đứa hứa hẹn sẽ quay trở lại vào buổi tối. Kolya cất tiếng gọi Perezvon và con chó liền tung thăng nhảy phắt xuống khỏi giường.
“Tớ không đi đâu cả, tớ sẽ không đi đâu hết,” — Kolya vội vã trấn an Ilusha — “Tớ sẽ ra ngoài hành lang đợi, và khi nào vị bác sĩ khám xong khuất bóng, tớ sẽ quay trở lại đây cùng với Perezvon.”
Thế nhưng lúc này vị bác sĩ đã bước chân vào phòng, một nhân vật trông vô cùng quyền lực với cặp mai tóc đen dài, cái cằm nhẵn nhụi nhẵn bóng, khoác trên người một chiếc áo bọc lông gấu sang trọng. Vừa đặt chân qua ngưỡng cửa, ông khựng lại, ngơ ngác mất đà; có lẽ lão tưởng mình đã đi nhầm địa chỉ nhà. “Thế quái nào thế này? Mình đang ở đâu thế này?” — ông lẩm bẩm, cởn nguyên chiếc áo khoác nặng trịch và đội chiếc mũ lông hải ly lưỡi trai trên đầu. Khung cảnh đông đúc, sự nghèo nàn xác xơ của căn phòng, cùng với đống quần áo đang phơi căng trên dây chăng ở góc phòng khiến ông hoang mang cực độ. Viên đại đội trưởng khom lưng gập gẫm, cúi rạp người chào đón ông một cách cung kính.
“Ở đây ạ thưa ngài, đúng chỗ rồi thưa ngài,” — ông ấp úng nịnh nót — “đúng nhà chúng tôi rồi, ngài đến không sai đi đâu được đâu, ngài định đến chỗ chúng tôi mà...”
“Sne-gi-ryov?” — vị bác sĩ cất giọng to vang và trịch thượng hỏi — “Ông Snegiryov – có phải ông đấy không?”
“Dạ chính là tôi đây thưa ngài!”
“A!”
Vị bác sĩ lại đảo mắt rà soát căn phòng một lượt với vẻ mặt ghê tởm khó chịu rồi hất phách cởi phăng chiếc áo khoác lông ra, để lộ trước mắt tất cả mọi người tấm huân chương cao quý đeo lủng lẳng trước ngực. Viên đại đội trưởng nhanh tay chộp lấy chiếc áo khoác bồng bềnh ngay giữa không trung, còn vị bác sĩ thì thong thả cởi nón.
“Bệnh nhân ở đâu?” — ông dõng dạc cất tiếng hỏi.