[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG]: NONE
Vào năm 1609, như một cách để giải khuây khỏi những suy ngẫm thâm thúy, ông đã cho xuất bản bằng tiếng Latinh tác phẩm nhỏ đầy thú vị của mình, mang tên De Sapientia Veterum (Bàn về Trí của người xưa).
Tác phẩm này dường như từng rất được coi trọng trong quá khứ. Các câu chuyện ngụ ngôn, chứa đựng sự kết hợp giữa tư tưởng sâu sắc và vẻ đẹp thơ ca, gồm tất cả ba mươi mốt câu chuyện, trong đó phần bàn về Nữ thần Siren, hay Những niềm vui, có thể được chọn làm một ví dụ tiêu biểu.
Trong câu chuyện ngụ ngôn này, ông làm sáng tỏ giả định phổ biến nhưng sai lầm cho rằng tri thức và sự phục tùng của ý chí, việc biết và việc hành động, là những khái niệm có thể thay thế cho nhau. Về sai lầm này, trong bài luận về Thói quen và Giáo dục, ông đã cảnh báo độc giả của mình rằng: “Suy nghĩ của con người phần lớn phù hợp với khuynh hướng của họ; lời ăn tiếng nói của họ phù hợp với học thức và những quan điểm đã tiêm nhiễm, nhưng hành động của họ lại tuỳ thuộc vào thói quen họ đã quen thuộc; Cô hầu gái của Aesop, từ một con mèo biến thành một người phụ nữ, vẫn ngồi rất đoan trang ở đầu bàn cho đến khi có một con chuột chạy ngang qua trước mặt nàng.” Trong ngụ ngôn về các nàng Siren, ông thể hiện cùng một chân lý ấy khi nói rằng: “Nơi ở của các nàng Siren nằm ở một số hòn đảo nên thơ, từ đó, ngay khi phát hiện bất kỳ con tàu nào đang đến gần từ đài quan sát của mình, bằng những giai điệu ngọt ngào, trước hết họ sẽ dụ dỗ và níu chân các thủy thủ, rồi khi đã nắm quyền kiểm soát, họ sẽ tiêu hủy chúng; và những tai họa mà họ gây ra lớn đến mức những hòn đảo của các nàng Siren này, dù nhìn từ xa hết tầm mắt con người, trông đều trắng xóa bởi xương của những xác chết không chôn cất; qua đó ngụ ý rằng dẫu cho những ví dụ về tai họa có rành rành và hiển hiện đến đâu, chúng ta vẫn không thể đủ sức răn đe trước những cám dỗ tội lỗi của lạc thú.”
Dưới đây là phần ghi chép về các lần tái bản khác nhau của tác phẩm này: Bản đầu tiên được xuất bản năm 1609. Ngày 27 tháng 2 năm 1610, Lãnh chúa Bacon đã viết thư cho ông Mathew khi gửi tặng cuốn sách De Sapientia Veterum của mình:
“Thưa ông Mathew: Tôi xin chân thành cảm ơn bức thư đề ngày 24 tháng 8 của ông gửi từ Salamanca; và để đáp lại tấm thịnh tình đó, tôi xin gửi tặng ông một tác phẩm nhỏ của tôi vừa bước ra thế giới. Người ta bảo rằng tiếng Latinh của tôi đã được đổi ra bạc và đang lưu hành rộng rãi; giả sử ông có mặt ở đây, ông đã có thể làm người thẩm vấn tôi trước khi nó ra mắt; nhưng tôi nghĩ, vị thẩm vấn vĩ đại nhất ở Tây Ban Nha cũng sẽ chuẩn y nó thôi. Tuy nhiên, có một điều ông phải lượng thứ cho tôi nếu tôi không vội vàng tin rằng thế giới lại có thể đi đến chỗ cuồng dại đến mức chối bỏ chân lý trong triết học chỉ vì tác giả bất đồng quan điểm về tôn giáo; cũng giống như cách họ không đối xử như vậy với Aristotle hay Averroes. Công trình lớn của tôi vẫn đang tiến triển; và theo thói quen của mình, tôi sửa đổi ngay cả khi đang viết thêm vào; thế nên chẳng có gì là hoàn tất cho đến khi mọi thứ hoàn tất. Những dòng này được viết giữa lúc tòa án và nghị viện đang họp bận rộn; tôi nghĩ chẳng có khoảng thời gian nào bận rộn đến mức không thể trò chuyện về những vấn đề này với một người bạn tốt đẹp và thân thiết đến vậy. Và với những lời chúc quen thuộc, tôi xin phó thác ông cho lòng nhân âṇ của Chúa.
“Từ Gray’s Inn, ngày 27 tháng 2 năm 1610.”
Và trong bức thư gửi Cha Fulgentio, khi thuật lại đôi điều về các trước tác của mình, ông nói: “Các bài luận của tôi sẽ không chỉ được mở rộng về số lượng, mà còn sâu sắc hơn về nội dung. Đi kèm với chúng là tác phẩm nhỏ De Sapientia Veterum.”
Trong tác phẩm Sự tiến bộ của tri thức, ông viết:
“Vẫn còn một công dụng khác của thơ ca ngụ ngôn, trái ngược với công dụng mà chúng ta vừa nhắc tới; bởi vì công dụng trước nhằm minh họa và làm sáng tỏ những điều được giảng dạy hoặc truyền đạt, còn công dụng sau lại nhằm cất giấu và làm mờ đi; nghĩa là khi những bí mật và điều huyền nhiệm của tôn giáo, chính trị hay triết học được gói gọn trong các câu chuyện ngụ ngôn hoặc ẩn dụ. Về điều này, trong thơ ca thần thánh, chúng ta thấy việc sử dụng nó đã được chuẩn y. Trong thơ ca ngoại giáo, chúng ta thấy việc giải thích các ngụ ngôn đôi khi đạt được kết quả vô cùng mỹ mãn; chẳng hạn như trong câu chuyện ngụ ngôn kể rằng khi những người khổng lồ bị đánh bại trong cuộc chiến chống lại các vị thần, Đất Mẹ, vì muốn trả thù cho họ, đã sinh ra Nữ thần Danh tiếng,—
Illam Terra parens, irâ irritata Deorum,
Extremam, ut perhibent, Cœo Enceladoque sororem
Progenuit,
được giải thích rằng khi các bậc vương hầu và quân vương đã trấn áp được những kẻ nổi loạn thực sự và công khai, thì sự hiểm độc trong lòng dân chúng — vốn là cội nguồn của bạo loạn — lại sinh ra những bài thơ châm biếm, những lời phỉ báng và những sự công kích nhằm vào Nhà nước; điều này có bản chất tương tự như nổi loạn nhưng mang tính đàn bà hơn. Tương tự, trong câu chuyện ngụ ngôn kể rằng khi các vị thần còn lại âm mưu trói buộc Jupiter, Pallas đã kêu gọi Briareus với một trăm cánh tay đến cứu viện; được giải thích rằng các chế độ quân chủ không cần phải sợ hãi bất kỳ sự kìm kẹp nào đối với quyền lực tuyệt đối của họ từ những thần dân hùng mạnh, miễn là bằng sự khôn ngoan, họ giữ được lòng người — những kẻ chắc chắn sẽ đứng về phía họ. Hay như trong câu chuyện ngụ ngôn rằng Achilles lớn lên dưới sự nuôi dạy của Chiron, nhân mã nửa người nửa thú, được Machiavel giải thích một cách tài tình nhưng sai lệch rằng bổn phận của giáo dục và kỷ luật đối với các bậc quân vương là phải biết cách đóng vai con sư tử trong bạo lực, con cáo trong mưu mẹo, cũng như con người trong đức hạnh và công lý. Dẫu vậy, trong nhiều trường hợp tương tự, tôi thiên về ý nghĩ rằng câu chuyện ngụ ngôn vốn có trước, rồi cách giải thích mới được nghĩ ra sau, chứ không phải bài học đạo đức có trước rồi câu chuyện ngụ ngôn mới được nhào nặn theo đó. Bởi vì tôi nhận thấy Chrysippus từng mắc phải một thói hư danh cổ xưa khi cố gắng dùng mọi cách để gán ghép những khẳng định của phái khắc kỷ vào các câu chuyện hư cấu của các nhà thơ thời cổ; dẫu vậy, việc cho rằng tất cả các ngụ ngôn và câu chuyện hư cấu của các nhà thơ chỉ nhằm mang lại sự giải trí chứ không mang ý nghĩa biểu trưng nào thì tôi không đưa ra phán quyết. Quả thực, đối với những nhà thơ hiện còn lưu danh, ngay cả Homer (dẫu cho ông đã được các trường phái hậu bối Hy Lạp tôn sùng như một thứ kinh thánh), tôi vẫn có thể không chút do dự mà tuyên bố rằng các câu chuyện ngụ ngôn của ông không hề mang tầng ý nghĩa sâu xa nào trong ý đồ của chính ông; còn việc liệu chúng có thể mang ý nghĩa gì dựa trên một truyền thống nguyên thủy hơn hay không thì không dễ để khẳng định; bởi vì ông không phải là người phát minh ra phần lớn trong số chúng.”
Trong chuyên luận De Augmentis, người ta sẽ tìm thấy những quan điểm tương tự, chỉ với một chút thay đổi nhỏ về câu chữ. Ông nói:
“Có một công dụng khác của thơ ca ngụ ngôn trái ngược với công dụng trước, nhằm cất giấu những điều mà phẩm giá của chúng đáng được lui về phía sau và phân định rạch ròi, tựa như một tấm màn che đang buông xuống; nghĩa là khi những bí mật và điều huyền nhiệm của tôn giáo, chính trị và triết học được che đậy và khoác lên mình lớp áo của ngụ ngôn và ẩn dụ. Nhưng liệu có hay không một tầng ý nghĩa huyền bí ẩn giấu bên dưới những câu chuyện ngụ ngôn cổ xưa của các nhà thơ, điều đó vẫn có thể khiến người ta hoài nghi; và quả thực, về phần mình, chúng ta nghiêng về quan điểm cho rằng có một sự huyền nhiệm đã được tiêm nhiễm trong rất nhiều câu chuyện ngụ ngôn cổ xưa của các nhà thơ. Chúng ta cũng không hề bận tâm việc những vấn đề này thường bị phó mặc cho đám học trò và các thầy dạy ngữ pháp rồi từ đó bị hạ thấp giá trị, để rồi chúng ta đưa ra một cái nhìn hời hợt về chúng; trái lại, vì rõ ràng là những tác phẩm ghi chép lại các câu chuyện ngụ ngôn ấy, trong số tất cả các trước tác của nhân loại, chỉ đứng sau Kinh Thánh về độ cổ xưa; và bản thân các câu chuyện ngụ ngôn ấy còn cổ xưa hơn thế rất nhiều (bởi vì chúng được các tác giả đó viện dẫn, không phải do họ tự nghĩ ra, mà như những điều đã được tin tưởng và tiếp nhận từ trước), chúng giống như một luồng không khí loãng, từ truyền thống của những dân tộc cổ xưa hơn, đã thổi vào ống sáo của người Hy Lạp.”
Về tác phẩm này, Tổng giám mục Tenison, trong cuốn Baconiana của ông, đã viết:
“Thứ bảy, tôi có thể kể đến cuốn sách De Sapientia Veterum của ông, được ông viết bằng tiếng Latinh và xuất bản lần thứ hai có bổ sung; và được Sir Arthur Gorges dịch sang tiếng Anh; một cuốn sách trong đó các hiền triết thời xưa trở nên thông thái hơn so với thực tế của họ nhờ vào một dịch giả vô cùng khéo léo trong việc giải mã các câu chuyện ngụ ngôn của họ. Chính cuốn sách này là điều mà ông Sandys muốn nhắc tới trong những dòng chú thích mà ông đặt trước tác phẩm Biến hóa của Ovid. ‘Trong số các tác giả cận đại, tôi đã tiếp thu được lượng ánh sáng lớn nhất từ Geraldus, Pontanus, Ficinus, Vives, Comes, Scaliger, Sabinus, Pierius, và đỉnh cao của những người đi sau, chính là Tử tước xứ St. Albans.’
“Đúng là mục đích của cuốn sách này là sự hướng dẫn về các vấn đề tự nhiên và dân sự, hoặc được người xưa cài cắm đằng sau những câu chuyện hư cấu đó, hoặc đúng hơn là được làm cho có vẻ như thế nhờ vào sự uyên bác của ngài lãnh chúa trong việc khai mở và áp dụng chúng. Nhưng bởi vì nền móng ban đầu của nó là câu chuyện thơ ca, nên hãy cứ để nó ở vị trí này cho đến khi tìm được một chỗ đứng thích hợp hơn.”
Tác giả cuốn Cuộc đời của Bacon, trong bộ Biographia Britannica, viết rằng:
“Để có thể khuây khỏa phần nào trước sự khắc nghiệt của những nghiên cứu này, và như thể để tự thưởng cho mình niềm vui xây dựng một cỗ lầu đài nguy nga trong lúc đại cung điện triết học của ông đang được thi công, ông đã soạn thảo và cho ra mắt vào năm 1610 chuyên luận nổi tiếng mang tên Trí tuệ của người xưa, trong đó ông cho thấy không một ai nghiên cứu họ kỹ lưỡng hơn, am hiểu hơn về những nét đẹp của họ, hay thấu suốt sâu sắc hơn ý nghĩa của họ. Có rất ít cuốn sách được xuất bản, dù ở quốc gia này hay quốc gia nào khác, lại xứng đáng nhận được hoặc giành được sự tán dương rộng rãi hơn thế, và hầu như chẳng có cuốn nào có khả năng giữ vững được sự tán dương ấy lâu hơn thế, bởi vì trong tác phẩm này, Sir Francis Bacon đã đưa ra một minh chứng độc đáo về năng lực làm hài lòng mọi phe phái trong văn học, cũng như trong hạnh kiểm chính trị, ông luôn đứng ở vị thế tốt với tất cả các phe phái trong quốc gia. Những người ngưỡng mộ thời cổ đại đã bị mê hoặc bởi bài luận này, vốn dường như được tính toán kỹ lưỡng để biện minh cho sự ngưỡng mộ của họ; và mặt khác, phe đối lập với họ cũng không kém phần hài lòng trước một tác phẩm mà họ cho rằng qua đó họ có thể chứng minh được sự nhạy bén của một tư duy hiện đại đã tìm ra những tầng ý nghĩa tốt đẹp hơn rất nhiều cho người xưa so với những gì chính người xưa từng ngụ ý.”
Và Mallet, trong tác phẩm Cuộc đời của Bacon, đã viết:
“Vào năm 1610, ông xuất bản một chuyên luận khác mang tựa đề Trí tuệ của người xưa. Tác phẩm này mang dấu ấn của một thiên tài nguyên bản và đầy sáng tạo giống như các công trình khác của ông. Quyết tâm không đi theo vết xe đổ của những người đi trước — những kẻ, theo cách nói của ông, không có học thức vượt quá những khuôn sáo thông thường —, ông tự vạch ra một lối đi riêng và bước vào những chốn thâm nghiêm nhất của miền đất hoang sơ và mờ ảo này, để rồi tỏ ra mới mẻ ngay cả trên một đề tài quen thuộc và đã bị giày xéo. Nhìn chung, nếu chúng ta không thể dễ dàng ép mình tin rằng có tất cả những tầng ý nghĩa vật lý, đạo đức và chính trị được che giấu đằng sau những câu chuyện ngụ ngôn thời cổ đại mà ông đã khám phá ra trong đó, thì chúng ta cũng phải thừa nhận rằng cần phải có một sự thấu thị phi thường mới có thể lầm tưởng với ngần ấy vẻ ngoài hợp lý đứng về phía ông. Dù vẫn còn phải hoài nghi việc liệu người xưa có uyên bác đến mức mà ông cố gắng chứng minh hay không, thì sự phong phú và sâu sắc trong chính tri thức của ông, qua sự cố gắng đó, là điều không thể chối cãi.”
Vào năm 1619, tác phẩm này đã được Sir Arthur Gorges dịch sang tiếng Anh. Đứng trước tác phẩm là hai bức thư; một bức gửi Bá tước xứ Salisbury, bức kia gửi Đại học Cambridge, nhưng Gorges đã lược bỏ cả hai và đề tặng bản dịch của mình cho vị công nương cao quý và lừng lẫy — Phu nhân Elizabeth xứ Great Britain, Nữ công tước xứ Baviere, Nữ bá tước xứ Rheine, và là đại tuyển hầu của đế quốc.
Cần phải lưu ý rằng bản dịch này được xuất bản khi Lãnh chúa Bacon còn sống bởi một người vô cùng ngưỡng mộ các tác phẩm của ông.
Các phiên bản của tác phẩm này mà tôi được biết gồm có:
Năm. Ngôn ngữ. Nhà in. Địa điểm. Khổ sách.
1609. Latinh. R. Barker. Luân Đôn. Khổ 12.
1617. Như trên. J. Bill. Như trên. Như trên.
1618. Tiếng Ý. G. Bill. Như trên. Như trên.
1619. Tiếng Anh. J. Bill. Như trên. Như trên.
1620. Như trên. Như trên. Như trên. Như trên.
1633. Latinh. F. Maire. Lug. Bat. Khổ 12.
1634. Như trên. F. Kingston. Luân Đôn. Như trên.
1638. Như trên. E. Griffin. Như trên. Khổ Folio.
1691. Như trên. H. Wetstein. Amsterdam. Khổ 12.
1804. Tiếng Pháp. H. Frantin. Dijon. Khổ 8.
1