Các thẩm phán nên ghi nhớ rằng chức vụ của họ là “jus dicere” (tuyên luật), chứ không phải “jus dare” (đặt luật); là để giải thích luật, chứ không phải để chế ra luật hay ban hành luật; bằng không, nó sẽ giống như thứ quyền lực mà Giáo hội La Mã từng mạo nhận — dưới cái cỏ giải kinh, họ không ngần ngại thêm thắt, đổi dời, phán ra những điều vốn chẳng có trong Kinh Thánh, và thông qua lớp vỏ cổ xưa để dung dưỡng những điều mới mẻ. Các thẩm phán cần phải uyên bác hơn là tài vặt, đáng kính hơn là bóng bẩy, và cẩn trọng hơn là tự phụ. Trên hết thảy, sự liêm chính là phần phước và là phẩm hạnh đích thực của họ. “Đáng nguyền rủa thay (kinh luật chép) kẻ dịch chuyển mốc ranh giới của tha nhân.” Kẻ dời nhầm một hòn đá vốn đã đáng trách; nhưng vị thẩm phán bất công mới chính là kẻ dời mốc ranh giới tột cùng, khi hắn định đoạt sai lệch về điền thổ và tài sản. Một phán quyết sai trái gây tổn hại nhiều hơn là vô số tấm gương xấu; bởi những gương xấu ấy chỉ làm vẩn đục dòng nước, còn phán quyết sai lại làm ô uế cả mạch nguồn. Solomon từng nói: “Suối đục và nguồn tanh chính là kẻ công chính vấp ngã trước mặt kẻ thù.” Chức vụ của các thẩm phán có mối liên hệ với các bên đương sự khởi kiện, với các trạng sư biện hộ, với các thư ký cùng thừa phát lại phục vụ dưới quyền họ, và với bậc quân vương hay quốc gia đứng trên họ.
Thứ nhất, đối với các vụ kiện hoặc các đương sự khởi kiện. “Có những kẻ (Kinh Thánh chép) biến công lý thành cây ngải cứu”; và chắc chắn cũng có những kẻ biến nó thành giấm chua, bởi sự bất công làm nó trở nên đắng ngắt, và sự trì hoãn làm nó ra cay xót. Nhiệm vụ cốt yếu của một thẩm phán là dẹp trừ bạo lực và gian lận; trong đó bạo lực thì nguy hại hơn khi nó phơi bày lộ liễu, còn gian lận lại nguy hiểm khi nó kín đáo và ngụy trang. Thêm vào đó là những vụ kiện tụng tranh chấp, vốn cần phải bị tống khứ như thứ thức ăn thừa gây bội thực tại các tòa án. Một thẩm phán phải dọn đường cho một bản án công minh, giống như cách Thượng Đế dọn đường của Ngài: san bằng những thung lũng và hạ bớt những ngọn đồi. Thế nên, khi xuất hiện ở bất cứ phía nào một quyền lực áp đảo, sự truy cứu bạo tay, những mánh khóe khôn ranh, sự cấu kết, thế lực lớn hay những luật sư sừng sỏ, thì đó là lúc phẩm hạnh của vị thẩm phán được thể hiện qua việc san bằng sự bất bình đẳng, để ông có thể đặt nền tảng phán quyết của mình trên một mặt phẳng vững chãi. “Qui fortiter emungit, elicit sanguinem” (Kẻ vắt mũi mạnh quá ắt làm tuôn máu); và khi chiếc máy ép nho bị siết quá chặt, nó sẽ cho ra thứ nước nho chát chúa, vương mùi hột nho. Các thẩm phán phải cảnh giác trước những cách giải thích gượng gạo và sựuy diễn ép uổng, bởi chẳng có cực hình nào tồi tệ hơn cực hình của luật pháp. Nhất là đối với luật hình phạt, họ phải thận trọng để những điều vốn được đặt ra nhằm gây sợ hãi không bị biến thành sự khắc nghiệt; và để họ không giáng xuống đầu dân chúng trận mưa mà Kinh Thánh đã nhắc đến: “Ngài sẽ mưa trên họ những tròng bẫy”; bởi vì luật hình phạt nếu bị thúc ép quá mức sẽ trở thành một trận mưa cạm bẫy giăng trên đầu người dân. Do đó, những bộ luật hình phạt, nếu đã ngủ quên từ lâu, hoặc nếu không còn phù hợp với thời đại hiện tại, thì phải được các vị thẩm phán thông thái thu hẹp phạm vi áp dụng: “Judicis officium est, ut res, ita tempora rerum” (Nhiệm vụ của thẩm phán là phải xét đến sự việc lẫn thời điểm của sự việc), v.v. Trong các vụ án tử hình, các thẩm phán (trong giới hạn mà luật pháp cho phép) vì công lý nên nhớ đến lòng thương xót, đồng thời phải nhìn nhận nghiêm khắc tính gương mẫu của vụ án, nhưng lại nhìn bằng ánh mắt nhân từ đối với con người.
Thứ hai, đối với các trạng sư và luật sư biện hộ. Sự kiên nhẫn và thái độ trang nghiêm khi lắng nghe là một phần cốt yếu của công lý, và một vị thẩm phán nói quá nhiều chẳng khác nào chiếc chập chỏa khua lạc điệu. Chẳng có gì là vẻ vang cho một thẩm phán khi tự mình phát hiện ra điều mà đáng lẽ ông đã có thể nghe được đúng lúc từ các trạng sư; hay khi tỏ ra nhanh trí bằng cách ngắt lời chứng hoặc cắt ngang lời luật sư quá sớm; hoặc phỏng đoán trước thông tin bằng những câu hỏi, dẫu cho chúng có thích đáng đi nữa. Các phần việc của một thẩm phán khi lắng nghe gồm có bốn điều: điều tiết lời chứng; kìm hãm sự dài dòng, lặp ý hoặc lạc đề; tóm lược, chọn lọc và đối chiếu những điểm trọng yếu của những gì đã được trình bày; rồi đưa ra quy tắc hoặc phán quyết. Bất cứ điều gì vượt quá những điều ấy đều là quá mức, và xuất phát từ sự kiêu ngạo, thói thích nói, sự thiếu kiên nhẫn khi lắng nghe, trí nhớ kém, hoặc do thiếu sự tập trung kiên định và công bằng. Thật là một điều kỳ lạ khi thấy sự táo tợn của các trạng sư lại có thể lấn át được thẩm phán; trong khi đáng ra họ phải bắt chước Thượng Đế — Đấng mà họ đang ngồi ngai phán xử thay cho Ngài — Đấng hằng kìm hãm kẻ kiêu ngạo và ban ơn cho người khiêm tốn. Thế nhưng, còn kỳ lạ hơn nữa khi các thẩm phán lại có những sủng thần riêng, điều ắt sẽ dẫn đến việc lạm phát án phí và làm dấy lên nghi ngờ về những con đường mờ ám. Về phần mình, thẩm phán cũng cần dành cho các trạng sư một vài lời khen ngợi và sự khích lệ khi các vụ việc được giải quyết ổn thỏa và biện hộ đẹp mắt, đặc biệt là đối với bên thua kiện; bởi điều đó giúp duy trì uy tín của vị luật sư trước thân chủ của họ, đồng thời xoa dịu cảm giác cay đắng về vụ kiện trong lòng thân chủ ấy. Tương tự như vậy, đối với công chúng, vị thẩm phán cũng cần có những lời khiển trách nhã nhặn đối với các trạng sư khi xuất hiện những mưu mô xảo quyệt, sự lơ đễnh tồi tệ, việc cung cấp thông tin hời hợt, sự thúc ép kém khôn ngoan, hoặc một luận cứ bào chữa quá ư liều lĩnh. Các luật sư đứng trước vành móng ngựa chớ nên đôi co với thẩm phán, cũng chớ nên luồn lách để tranh thủ thụ lý lại vụ án sau khi thẩm phán đã tuyên án; song mặt khác, vị thẩm phán cũng chớ nên đi nửa đường đón đầu vụ kiện, hay tạo cớ để các đương sự có quyền phàn nàn rằng luật sư hoặc các bằng chứng của họ chưa từng được lắng nghe.
Thứ ba, đối với những vấn đề liên quan đến các viên chức và thừa phát lại. Chốn công đường là nơi chốn linh thiêng; thế nên, không chỉ riêng ghế phán xử, mà cả bậc thềm, khu vực xung quanh và toàn bộ khuôn viên ấy đều phải được gìn giữ khỏi mọi điều tai tiếng và nhơ nhớp. Quả thực, “Nho (như Kinh Thánh có chép) chẳng thể hái từ cây gai góc hay bụi rậm”; cũng như công lý chẳng thể trổ sinh trái ngọt ngào giữa những bụi gai và bụi rậm của đám thư ký cùng thừa phát lại chuyên moi móc và vơ vét tiền bạc. Bộ máy giúp việc tại các tòa án thường vướng phải bốn tệ nạn: thứ nhất là những kẻ chuyên châm ngòi cho các vụ kiện tụng, khiến tòa án thì phình to mà xóm làng thì xơ xác; loại thứ hai là những kẻ lôi kéo tòa án vào những cuộc tranh chấp thẩm quyền, họ không thực sự là “amici curiæ” (bạn của tòa án), mà là “parasiti curiæ” (kẻ ăn bám tòa án), thổi phồng tòa án vượt quá giới hạn của nó chỉ để mưu lợi mẩu xương thừa; loại thứ ba là những kẻ có thể xem là tay trái của tòa án — những con người đầy rẫy mánh khóe tinh vi, lắt léo và thủ đoạn, qua đó họ đảo lộn đường lối ngay thẳng, minh bạch của tòa án, lái công lý vào những lối đi khúc khuỷu và mê hồn trận; và loại thứ tư là kẻ chuyên vơ vét và tống tiền án phí. Điều này minh họa cho hình ảnh ví von quen thuộc về các tòa án công lý chẳng khác nào bụi cây: khi con cừu chạy vào đó trú ẩn lúc trời giông bão, nó chắc chắn sẽ bị mất đi một phần bộ lông của mình. Ngược lại, một vị thư ký lâu năm, tinh thông các án lệ, cẩn trọng trong trình tự thủ tục và am hiểu tường tận công việc của tòa án, chính là một ngón tay xuất sắc của tòa án, và nhiều khi chính ông ta là người chỉ đường cho cả vị thẩm phán.
Thứ tư, đối với những điều có thể liên quan đến quốc vương và đất nước. Trên hết thảy, các thẩm phán phải ghi nhớ phần kết luận của Bộ Luật Mười Hai Bảng của người La Mã: “Salus populi suprema lex” (Sự an lạc của nhân dân là luật tối cao); và phải hiểu rằng luật pháp, nếu không nhằm hướng tới mục đích đó, thì chỉ là những thứ bắt bẻ vụn vặt và những lời sấm truyền thiếu linh ứng. Do đó, thật là một điều may mắn cho quốc gia khi các vị vua chúa và triều đình thường xuyên tham vấn các thẩm phán; và ngược lại, khi các thẩm phán cũng thường xuyên tham vấn quốc vương và triều đình. Trường hợp thứ nhất diễn ra khi có vấn đề về pháp lý nảy sinh trong công việc quốc gia; trường hợp thứ hai diễn ra khi có những cân nhắc về đại sự quốc gia xen vào vấn đề pháp lý. Bởi vì nhiều khi những sự việc được đưa ra xét xử có vẻ chỉ là chuyện “meum” (của ta) và “tuum” (của người), nhưng lý lẽ và hệ quả của nó lại có thể chạm đến vấn đề trọng đại của quốc gia. Tôi gọi vấn đề quốc gia không chỉ là các phần thuộc về chủ quyền, mà là bất cứ điều gì mang lại sự biến đổi lớn lao, tạo ra tiền lệ nguy hiểm, hoặc ảnh hưởng rõ rệt đến một phần lớn dân chúng. Không ai được phép suy diễn một cách yếu ớt rằng luật pháp công chính và chính sách chân chính lại có sự tương khắc với nhau, bởi chúng giống như tinh thần và gân cốt — cái này chuyển động cùng với cái kia. Các thẩm phán cũng hãy ghi nhớ rằng ngai vàng của Solomon được nâng đỡ bởi những con sư tử ở cả hai bên; hãy để họ làm những con sư tử, nhưng là những con sư tử nằm dưới ngai vàng, luôn cảnh giác để không cản trở hay chống đối bất kỳ điểm nào thuộc về chủ quyền. Các thẩm phán cũng chớ nên quá dốt nát về quyền hạn của chính mình đến mức nghĩ rằng không còn lại cho họ — như một phần trọng yếu trong chức vụ của họ — sự vận dụng và áp dụng luật pháp một cách khôn ngoan; bởi họ có thể nhớ lại điều mà vị sứ đồ đã nói về một thứ luật lớn lao hơn luật của họ: “Chúng ta biết rằng luật pháp là tốt lành, miễn là ai đó sử dụng nó một cách hợp lég.”