ANH RỜI ĐI MỘT LÁT và quay trở lại cùng một thứ nước luộc thịt trong veo nào đó, không phải thịt gà cũng không phải thịt bò, có thể là thịt nai, và trong lúc tôi túm chặt mép chăn, anh đỡ tôi ngồi dậy để tôi có thể húp nó, cầm cái chén ấm nóng bằng cả hai tay. Anh nhìn tôi chăm chăm, không phải kiểu nhìn chằm chằm của kẻ theo đuôi, mà là kiểu nhìn bạn dành cho một người bệnh, cảm thấy chính bạn cũng hơi ốm và không biết làm sao để tình hình khá hơn. Hoặc cũng có thể, tôi nghĩ, đó là cái nhìn chằm chằm của kẻ theo đuôi, và vẻ lo âu chỉ là một sự ngụy trang khôn khéo. Có phải những kẻ dâm đãng chỉ là kẻ dâm đãng nếu bạn không thấy họ hấp dẫn? Tôi đã gọi Crisco là kẻ bệnh hoạn khi nó cố tặng tôi món trang sức của người chết, và nó đã bảo rằng tôi sẽ không nghĩ như thế nếu nó là hot boy Ben Parish.
Nhớ đến Crisco, tôi chẳng còn chút khẩu vị gì. Evan thấy tôi nhìn chằm chặp cái chén trên đùi bèn nhẹ nhàng kéo nó khỏi tay tôi đặt lên bàn.
“Để tự em làm cũng được mà,” tôi nói, nghe gắt gỏng hơn tôi muốn nhiều.
“Kể anh nghe về bọn lính đó đi,” anh bảo. “Làm sao em biết chúng không phải... con người?”
Tôi kể anh nghe về việc chúng đã xuất hiện không lâu sau những con khinh khí máy, cách chúng chất bọn nhóc lên xe, rồi tập hợp mọi người vào trong khu nhà và tàn sát họ. Nhưng dấu hiệu rõ ràng nhất là Con Mắt. Rõ ràng là ở ngoài Trái đất.
“Chúng là con người đấy,” anh nhận định sau khi tôi đã kể hết. “Chắc là chúng đang làm việc với các vị khách.”
“Ôi Chúa ôi, làm ơn đừng gọi chúng bằng cái từ đó.” Tôi ghét cách gọi đó của chúng. Các chuyên gia hay bình luận trên truyền hình đã dùng nó trước Làn Sóng Thứ 1 - tất cả người dùng YouTube, mọi người trên Twitter, kể cả tổng thống khi đọc bản tin nữa.
“Thế anh nên gọi chúng là gì?” anh hỏi. Anh đang mỉm cười. Tôi có cảm giác nếu tôi muốn anh gọi chúng là củ cải thì chắc anh cũng sẽ gọi.
“Bố và em gọi chúng là Ngoại Nhân, như kiểu không phải chúng ta, không phải con người.”
“Ý anh là vậy mà,” anh nói, gật đầu nghiêm túc. “Khả năng họ trông giống hệt chúng ta là rất lớn.”
Anh nói hệt như bố tôi trong một bài lý luận suông quen thuộc của ông, và đột nhiên tôi thấy khó chịu, tôi cũng không rõ tại sao nữa.
“Chậc, thế thì kinh khủng thật, đúng không? Một cuộc chiến lưỡng đầu thọ địch. Chúng ta đấu với bọn chúng, chúng ta đấu với chúng ta cộng với bọn chúng.”
Anh lắc đầu buồn bã. “Đây chẳng phải lần đầu tiên người ta đổi bên khi đã thấy rõ bên thắng cuộc đâu.”
“Nghĩa là những kẻ phản bội bắt lũ nhóc ra khỏi trại vì chúng sẵn sàng chung tay tiêu diệt loài người, nhưng chúng bỏ qua cho bất cứ ai dưới mười tám tuổi?”
Anh nhún vai. “Em nghĩ sao?”
“Em nghĩ nếu những kẻ có súng quyết định giúp đỡ bọn xấu thì chúng ta tiêu thật rồi.”
“Có thể anh sai,” anh nói, nhưng nghe ra có vẻ anh không nghĩ thế. “Có thể họ là khách... Ngoại Nhân, anh không biết nữa, cải trang thành con người, hoặc thậm chí có thể là một dạng bản sao vô tính...”
Tôi gật đầu. Trước đây, tôi cũng đã nghe điều này, ở một trong những bài lý luận bất tận bố vẫn nhai đi nhai lại về chuyện Ngoại Nhân có thể trông như thế nào.
Vấn đề không nằm ở chỗ tại sao chúng không thể, mà là tại sao chúng không làm thế? Chúng tôi đã biết đến sự tồn tại của chúng năm tháng rồi. Chúng hẳn đã biết đến sự tồn tại của chúng tôi nhiều năm rồi. Hàng trăm, có khi hàng nghìn năm. Thừa thời gian để chiết xuất ADN và cần bao nhiêu thì “cấy” bấy nhiêu bản sao. Thật ra, có lẽ chúng phải tiến hành cuộc chiến tranh mặt đất cùng những bản sao của chúng tôi. Xét trên cả nghìn phương diện, hành tinh của chúng tôi có thể không phù hợp để cơ thể bọn chúng tồn tại. Nhớ War of the Worlds không?
Có khi đó là căn nguyên cho thái độ cộc cằn hiện tại của tôi. Evan đang cư xử với tôi hệt như một Oliver Sullivan. Và điều đó đã khơi dậy cảnh tượng Oliver Sullivan đang hấp hối trên mặt đất ngay trước mắt tôi trong khi tất cả những gì tôi muốn làm là nhìn đi chỗ khác.
“Hoặc có thể họ giống như nửa người nửa máy, Những Kẻ Hủy Diệt,” tôi nói, nửa đùa nửa thật. Tôi đã nhìn một tên đã chết ở cự ly gần, tên lính tôi đã bắn thẳng vào trong hố tro. Tôi không kiểm tra mạch đập của hắn hay gì cả, nhưng theo tôi thấy, chắc chắn hắn đã chết rồi, và máu trông rất thật.
Ký ức về khu trại và chuyện xảy ra ở đó chưa bao giờ thôi làm tôi phát hoảng, nên tôi bắt đầu phát hoảng.
“Chúng ta không thể ở lại đây được,” tôi hối hả nói. Anh nhìn tôi như thể tôi đã mất trí. “Ý em là sao?”
“Chúng sẽ tìm thấy chúng ta!” Tôi vớ lấy cây đèn dầu, giật cái chụp đèn bằng thủy tinh ra, rồi thổi mạnh vào ngọn lửa đang nhảy múa. Ngọn lửa rít lên với tôi, vẫn sáng. Anh kéo cái chụp đèn ra khỏi tay tôi rồi chụp nó lại trên đế đèn.
“Bên ngoài đang là ba độ đấy, và chúng ta cách nơi trú ẩn gần nhất hàng dặm,” anh nói. “Và nếu em đốt cháy căn nhà này, chúng ta sẽ thành bánh nướng đấy.” Bánh nướng? Có lẽ anh đang cố tỏ ra hài hước, nhưng anh không cười. “Hơn nữa, em không đủ khỏe để di chuyển. Phải đợi ít nhất ba, bốn tuần nữa.”
Ba, bốn tuần nữa? Anh chàng trên khăn giấy Brawny phiên bản teen này nghĩ anh đang giỡn ai thế? Với ánh đèn chiếu qua cửa sổ và khói cuộn lên từ ống khói, chúng tôi sẽ không trụ nổi ba ngày.
Anh nhận thấy nỗi lo lắng đang càng lúc càng mạnh mẽ của tôi. “Được rồi,” anh thở dài nói. Anh tắt đèn, và căn phòng tối om. Không thấy anh, không thấy bất kỳ thứ gì. Tuy nhiên, tôi có thể ngửi thấy mùi của anh, một hỗn hợp của khói củi và cái gì đó giống như phấn em bé, và vài phút sau, tôi có thể cảm thấy cơ thể anh choán lấy không gian, cách người tôi vài xăng ti mét.
“Cách nơi ẩn nấp gần nhất hàng dặm à?” tôi hỏi. “Anh sống ở chỗ quái quỷ nào thế, Evan?”
“Trang trại của gia đình anh. Cách Cincinnati 60 dặm.”
“Cách Wright-Patterson bao nhiêu?”
“Anh không biết. 70, 80 dặm? Mà sao?”
“Em nói anh rồi mà. Chúng đã đưa em trai em tới đó.”
“Em nói đó là nơi chúng nói chúng đưa em trai em tới.”
Giọng chúng tôi, bao bọc lấy nhau, quấn quýt, và rồi giằng thoát ra, trong bóng tối đen như mực.
“Chậc, em phải bắt đầu ở đâu đó chứ,” tôi nói.
“Nếu nó không ở đó thì sao?”
“Thì em đi chỗ khác.” Tôi đã hứa. Con gấu chết tiệt đó sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi nếu tôi không giữ lời hứa đó.
Tôi có thể ngửi thấy mùi hơi thở của anh. Sô cô la. Sô cô la! Miệng tôi bắt đầu chảy nước miếng. Tôi có thể cảm thấy nước bọt đang tứa ra. Tôi đã không được ăn thức ăn rắn nhiều tuần rồi, và anh đem cho tôi cái gì chứ? Nước xuýt nhờn mỡ của thứ thịt bí ẩn gì đó. Anh đã giấu tôi, gã nông dân khốn kiếp này.
“Em cũng thấy là chúng đông hơn em nhiều, đúng không?” anh hỏi.
“Và ý anh là?”
Anh không trả lời. Thế nên tôi nói tiếp, “Anh có tin Chúa không, Evan?”
“Tất nhiên là có chứ.”
“Em thì không. Ý em là, em không biết. Trước khi lũ Ngoại Nhân đến thì em tin. Hoặc khi nghĩ về nó, em vẫn tưởng là em tin. Rồi chúng đến và...” Tôi phải ngừng lại một giây để lấy bình tĩnh. “Có thể có Chúa thật. Sammy nghĩ là có. Nhưng thằng bé cũng tin có ông già Noel đấy thôi. Mặc dù vậy, hằng đêm em vẫn cầu nguyện cùng nó, và chuyện đó chẳng liên quan gì đến em cả. Đó là vì Sammy và những gì nó tin tưởng, và giá như anh có thể thấy nó nắm tay tên lính giả đó rồi đi theo hắn lên xe buýt...”
Tôi không bình tĩnh được nữa, và tôi cũng không quan tâm. Khóc trong bóng tối thì dễ hơn nhiều. Đột nhiên, bàn tay lạnh lẽo của tôi được bao phủ bởi bàn tay ấm áp của Evan, lòng bàn tay anh mềm mại mịn màng như cái vỏ gối dưới má tôi vậy.
“Chuyện đó đã giết chết em,” tôi nức nở. “Cách thằng bé đã tin. Giống như cách chúng ta đã tin trước khi bọn chúng đến và làm nổ tung cái thế giới chết tiệt này. Đã tin rằng hễ trời tối thì sẽ có đèn. Tin rằng nếu ta muốn một ly Frappuccino dâu chết tiệt, ta có thể nhấc mông lên xe, lái xuống phố và kiếm cho mình một ly Frappuccino dâu chết giẫm! Đã tin...”
Bàn tay kia của anh tìm thấy má tôi, và anh lấy ngón tay cái gạt nước mắt cho tôi. Mùi sô cô la làm tôi choáng ngợp khi anh cúi xuống thì thầm bên tai tôi, “Đừng, Cassie. Đừng, đừng, đừng.”
Tôi vòng tay quanh cổ anh và áp gò má khô ráo của anh vào gò má ướt đẫm của tôi. Tôi run rẩy như bị động kinh, và lần đầu tiên, tôi có thể cảm thấy được sức nặng của tấm chăn trên những đầu ngón chân tôi vì bóng tối mịt mù đã làm các giác quan khác của tôi nhạy bén hơn.
Tôi là một cái nồi hầm đang sôi bùng bục những suy nghĩ và cảm xúc vớ vẩn. Tôi lo tóc tôi có mùi. Tôi muốn một ít sô cô la. Anh chàng đang ôm tôi này - chậc, nói cho đúng hơn thì tôi đang ôm anh - đã nhìn thấy tôi trần như nhộng. Anh nghĩ gì về thân hình tôi nhỉ? Tôi nghĩ gì về thân hình tôi nhỉ? Chúa có thật sự quan tâm đến những lời hứa không? Tôi có thật sự quan tâm đến Chúa không? Phép mầu là thứ gì đó kiểu như Biển Đỏ rẽ ra hay đúng hơn nó giống như chuyện Evan Walker tìm thấy tôi trong khối tuyết giữa chốn hoang vu trắng xóa?
“Cassie, mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi,” anh thì thầm vào tai tôi, hơi thở mùi sô cô la.
Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, đã có một thanh kẹo sô cô la Hershey’s Kiss được đặt chiếc bàn ở cạnh tôi.