Làn Sóng Thứ 5

Lượt đọc: 110 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6

❊ ❊ ❊

TÔI ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG một thời gian dài, không biết nên di chuyển vào ban ngày hay ban đêm. Nếu ta sợ bọn chúng, bóng tối là tốt nhất. Nhưng ánh sáng ban ngày thì sẽ thích hơn nếu ta muốn tia thấy một khinh khí máy trước khi nó thấy ta.

Lũ khinh khí máy xuất hiện vào phút cuối Làn Sóng Thứ 3. Màu xám nhạt, có hình điếu xì gà, bay vút lên cả nghìn mét, nhanh chóng và lặng lẽ. Có khi chúng liên tục lướt qua bầu trời. Có khi chúng lượn vòng phía trên đầu như lũ chim ó. Chúng có thể xoay ngoắt mình và dừng đột ngột, từ Mach 2 xuống 0 trong chưa đầy một giây. Thế nên chúng tôi biết chắc lũ khinh khí máy không thuộc về chúng tôi.

Chúng tôi biết chúng là thiết bị không người lái (hoặc không Ngoại Nhân lái) vì một con đã đâm sầm xuống cách trại tị nạn của chúng tôi vài dặm. Ầm! một tiếng khi nó chọc thủng hàng rào âm thanh rồi nó rít lên chói tai lao xuống, mặt đất rung chuyển dưới chân chúng tôi lúc nó cày xuống một cánh đồng ngô bỏ hoang. Một đội trinh sát đã lặn lội đến kiểm tra hiện trường vụ va chạm. Thôi được, gọi là đội cũng hơi quá, chỉ có bố và Hutchfield, trưởng trại. Hai người quay về thông báo rằng thứ đó rỗng không. Có chắc vậy không? Biết đâu tên phi công đã kịp nhảy ra trước khi nó đâm xuống đất. Bố bảo nó bị lèn kín thiết bị rồi, chẳng có chỗ nào cho phi công cả. “Trừ phi chúng chỉ cao có năm phân.” Mọi người phá lên cười. Chẳng hiểu sao cái ý nghĩ rằng lũ Ngoại Nhân chỉ cao có năm phân như kiểu Những người vay mượn tí hon đã khiến sự kinh hoàng giảm bớt phần khủng khiếp.

Tôi chọn phương án di chuyển vào ban ngày. Tôi vừa phải theo dõi bầu trời, vừa phải quan sát mặt đất. Thành thử tôi cứ phải liên tục ngoái đầu lên lên xuống xuống, trái trái phải phải, chẳng khác một fan cuồng nhạc rock trong đêm nhạc sống, cho tới khi mặt mày xây xẩm, bụng nôn nao.

Ban đêm thì còn có nhiều thứ khác phải lo, ngoài đám khinh khí máy. Chó hoang, sói đồng cỏ, gấu và sói từ Canada tràn xuống, thậm chí có khi còn có cả sư tử hay hổ xổng chuồng từ sở thú. Tôi biết, tôi biết, câu này có chút hơi hướm ý đùa theo kiểu Phù thủy xứ Oz. Cứ giết tôi đi.

Và mặc dù cũng chẳng hơn là mấy, nhưng tôi cho rằng vào ban ngày tôi sẽ có nhiều cơ hội hơn để chống lại một trong số chúng. Hoặc thậm chí chống lại một trong số chúng tôi, nếu tôi không phải là người cuối cùng. Sẽ sao đây nếu tôi tình cờ bắt gặp một kẻ sống sót khác mà kẻ ấy lại quyết định rằng cách hành động tốt nhất là giải quyết bất kỳ ai đi ngang qua theo cái cách đã dùng với Người lính Thánh giá?

Chuyện này đặt ra vấn đề cách hành động tốt nhất của tôi là gì đây. Thấy là bắn luôn? Hay chờ cho đối phương có động thái trước và mạo hiểm tính mạng của mình? Không phải lần đầu tiên, tôi tự hỏi thế quái nào mà trước khi chúng xuất hiện, chúng tôi không nghĩ ra một loại ám hiệu hoặc cái bắt tay bí mật hoặc gì gì đó - một điều gì đó để nhận biết chúng tôi là người tốt? Chúng tôi không cách nào biết được chúng sẽ xuất hiện, nhưng chúng tôi đã khá chắc chắn là sớm muộn gì cũng có chuyện xảy ra cơ mà.

Thật khó để lên kế hoạch cho điều kế tiếp khi mà điều kế tiếp lại không nằm trong kế hoạch.

Cố gắng phát hiện ra chúng trước, tôi quyết định. Nấp cho khéo. Không giáp lá cà. Không có những Người lính Thánh giá nữa!

Ban ngày sáng sủa, lặng gió nhưng lạnh. Trời không mây. Tôi cất bước, đầu ngẩng lên gật xuống, lắc trái lắc phải, vai bên này khoác ba lô, vai bên kia là khẩu súng trường, men theo dải phân cách ngăn hai làn đường Nam tiến Bắc tiến, cứ sau vài sải bước dài lại dừng chân, quay ngoắt lại quét mắt nhìn phía sau. Một giờ trôi qua. Hai giờ. Và tôi chưa đi được quá một dặm.

Điều đáng sợ nhất, đáng sợ hơn cả những cái xe bỏ hoang và đống kim loại méo mó và kính vỡ lấp lóa trong nắng tháng Mười, đáng sợ hơn hết thảy những rác rưởi và phế thải ngập ngụa trên dải phân cách, được che gần hết bởi đám cỏ cao ngang đầu gối khiến dải đất có vẻ lổn nhổn, gập ghềnh, điều đáng sợ nhất chính là sự tĩnh lặng.

Tiếng Rền đã biến mất.

Bạn nhớ tiếng Rền chứ?

Trừ phi ta lớn lên trên đỉnh núi hoặc cả đời sống trong hang động, tiếng Rền luôn ở quanh ta. Đó là hiện thân của cuộc sống. Đó là biển cả ta ngụp lặn. Âm thanh bất tận của hết thảy những thứ chúng tôi đã dựng xây để khiến cuộc sống trở nên thoải mái hơn và bớt nhàm chán hơn. Bài ca cơ khí. Bản giao hưởng điện tử. Tiếng Rền của tất cả những thứ thuộc về chúng tôi và của tất cả chúng ta. Đã biến mất.

Đây là âm thanh của Trái đất trước khi bị loài người chinh phục.

Thỉnh thoảng, ở trong lều ban đêm, tôi ngỡ mình nghe thấy được cả tiếng những vì sao cọ vào bầu trời. Tĩnh lặng đến mức ấy đấy. Sau một thời gian, tôi gần như chịu hết nổi. Tôi muốn lấy hết sức hét lên. Tôi muốn hát, hét, giậm chân, vỗ tay, bất kỳ điều gì để tuyên bố sự hiện diện của tôi. Cuộc đối thoại với người lính nọ là những lời đầu tiên tôi thốt ra thành tiếng trong nhiều tuần qua.

Tiếng Rền đã chết vào ngày thứ mười sau Cuộc Đổ Bộ. Lúc đó tôi đang ngồi trong tiết học thứ ba, nhắn cho Lizbeth tin nhắn cuối cùng tôi từng gửi. Tôi không nhớ nội dung chính xác là gì.

Mười một giờ sáng. Một ngày đầu xuân nắng ấm. Một ngày để nằm ườn, mơ mộng và mơ ước ta đang ở bất kỳ nơi đâu miễn là không phải trong giờ tích phân của cô Paulson.

Làn Sóng Thứ 1 ập tới không kèn không trống. Nó không hề kịch tính. Chẳng ai sốc hay sợ hãi.

Chỉ là đèn đóm vụt tắt trong nháy mắt.

Máy chiếu hắt của cô Paulson tắt ngóm.

Màn hình điện thoại của tôi đen thui.

Cuối lớp có đứa ré lên. Phản ứng kinh điển. Lúc nào cũng thế, bất kể giờ giấc, cứ bị cúp điện là y như rằng có đứa sẽ hét toáng lên như trời sập đến nơi.

Cô Paulson dặn cả lớp ngồi yên tại chỗ. Lại thêm một chuyện mọi người luôn làm mỗi khi điện cúp. Họ nhảy dựng lên... Để làm gì mới được? Kỳ cục. Chúng tôi đã quá lệ thuộc vào điện, nên khi điện mất, chúng tôi chẳng biết phải làm gì. Vậy nên chúng tôi nhảy dựng hoặc ré lên hoặc bắt đầu nói luyên thuyên như bị dở người. Chúng tôi hoảng loạn. Chẳng khác gì chúng tôi đã bị cắt nguồn ô xy. Tuy nhiên, Cuộc Đổ Bộ đã khiến nó càng tệ hơn. Mười ngày nhấp nhổm chờ đợi một chuyện gì đó xảy ra trong khi chẳng có gì xảy ra, ta luôn bồn chồn hốt hoảng.

Vậy nên khi chúng cắt mất điện, chúng tôi hoảng loạn hơn bình thường một chút.

Mọi người bắt đầu đua nhau nói. Khi tôi thông báo điện thoại của tôi đã chết, mới biết hóa ra điện thoại của mọi người cũng ngỏm rồi. Neal Croskey, đang ngồi cuối lớp nghe iPod trong lúc cô Paulson giảng bài, rút tai nghe ra khỏi tai và lớn tiếng thắc mắc tại sao nhạc tắt.

Và khi bị cắt điện, điều tiếp theo ta làm sau khi hoảng loạn là chạy tới cửa sổ gần nhất. Ta chẳng biết chính xác tại sao. Nó là cái cảm giác tốt-hơn-hết-hãy-nhìn-xem-đang-có-chuyện-gì. Thế giới này vận hành từ ngoài vào trong. Vậy nên khi đèn tắt, ta ngó ra bên ngoài.

Cô Paulson lăng xăng giữa đám đông đang túm tụm trước cửa sổ: “Trật tự! Về lại chỗ ngay. Chắc chắn sẽ có thông báo sớm thôi...”

Khoảng một phút sau, có thông báo thật. Tuy nhiên, không phải qua hệ thống loa, cũng không phải từ thầy hiệu phó Faulks. Thông báo đến từ trên trời, từ bọn chúng. Trong hình dạng một cái máy bay 727 lộn nhào xuống Trái đất từ ba nghìn mét, biến mất sau rặng cây rồi nổ tung, làm bùng lên một quả cầu lửa khiến tôi liên tưởng đến đám mây hình nấm của một vụ nổ nguyên tử.

Ê, người Trái đất! Bắt đầu tiệc thôi!

Bạn hẳn sẽ cho rằng khi nhìn thấy cảnh tượng ấy, chúng tôi sẽ chui ngay xuống gầm bàn. Nhưng không phải vậy. Chúng tôi tụ lại bên cửa sổ và quét mắt khắp bầu trời quang đãng, tìm kiếm bóng dáng chiếc đĩa bay hẳn đã hạ gục cái máy bay xấu số. Chẳng phải đĩa bay thì là gì mới được chứ? Chúng tôi đều biết một cuộc xâm lược đỉnh cao của người ngoài hành tinh được tổ chức như thế nào. Những chiếc đĩa bay xé toạc không gian, loạt chiến cơ F-16 nối sát gót, tên lửa đối không và nguyên tử đánh dấu gào thét từ các boongke. Theo một cách thiếu thực tế và phải thừa nhận là bệnh hoạn, chúng tôi đã mong được nhìn thấy một thứ gì đó giống như thế. Nó sẽ khiến cho chuyện này thành một cuộc xâm lược tuyệt đối bình thường của người ngoài hành tinh.

Cả lớp đứng chờ hơn nửa tiếng bên cửa sổ. Không ai nói gì nhiều. Cô Paulson nhắc chúng tôi về chỗ. Chả ai thèm nghe. Chỉ mới bắt đầu được ba chục phút, Làn Sóng Thứ 1 đã phá vỡ trật tự xã hội. Mọi người liên tục kiểm tra điện thoại. Chúng tôi không thể xâu chuỗi mọi chuyện: vụ đâm máy bay, đèn đóm tắt ngúm, điện thoại chết, đồng hồ treo tường với chiếc kim giờ chết sững ở số mười một, kim phút mười hai.

Rồi cửa bật mở và thầy Faulks bảo chúng tôi đến phòng thể chất. Tôi nghĩ hành động này thông minh ghê gớm. Gom cả đám chúng tôi vào một chỗ, vậy là bọn ngoài hành tinh đỡ phải tốn nhiều đạn dược.

Vậy là chúng tôi ùn ùn kéo đến phòng thể chất, ngồi trên những cái ghế ở khán đài trong bóng tối gần như đặc kịt, trong lúc thầy hiệu trưởng đi tới đi lui, thi thoảng dừng lại quát chúng tôi giữ im lặng chờ bố mẹ tới.

Thế còn những đứa đi ô tô đến trường? Chúng nó không được đi về à?

“Ô tô của các em không hoạt động đâu.”

Cái quái gì thế? Ý thầy là sao, ô tô của chúng tôi không hoạt động?

Một giờ trôi qua. Rồi hai giờ. Tôi ngồi cạnh Lizbeth. Chúng tôi không nói chuyện nhiều, và khi nói, bọn tôi phải thì thầm. Bọn tôi không sợ thầy hiệu trưởng; bọn tôi đang nghe ngóng. Nghe gì thì tôi cũng không chắc, nhưng nó giống như sự tĩnh lặng trước khi mây dạt ra để sấm sét dội xuống.

“Có lẽ chính là nó đấy,” Lizbeth thì thào. Nó bồn chồn chà mũi. Xọc những móng tay sơn bóng vào mái tóc nhuộm hoe vàng. Nhịp nhịp chân. Day day ngón tay bên trên mí mắt: nó mới bắt đầu đeo kính áp tròng nên mắt hay bị cộm.

“Hiển nhiên là có chuyện gì đó,” tôi thì thào đáp.

“Ý tao là, có lẽ chính là nó đấy. Kiểu như là nó đấy. Ngày tận thế.”

Nó cứ không ngừng tháo pin ra khỏi điện thoại rồi lại tra vào. Có lẽ, thà thế còn hơn là không làm gì.

Rồi nó bắt đầu khóc. Tôi tước điện thoại của nó đi và nắm tay nó. Nhìn xung quanh. Nó không phải đứa duy nhất đang khóc. Một số đứa đang cầu nguyện. Một số khác thì làm cả hai, vừa khóc vừa cầu nguyện. Các thầy cô túm tụm cạnh cửa ra vào phòng thể chất, tạo nên một lá chắn bằng người phòng trường hợp các sinh vật ngoài vũ trụ quyết định xông vào.

“Còn rất nhiều điều tao muốn làm,” Lizbeth nói. “Tao còn chưa bao giờ...” Nó nén tiếng nức nở. “Mày biết là gì rồi đấy.”

“Tao có cảm giác rất nhiều chuyện ‘mày biết là gì rồi đấy’ đang diễn ra ngay lúc này đây,” tôi nói. “Có lẽ ngay dưới những hàng ghế khán đài này.”

“Mày nghĩ vậy à?” Nó lấy lòng bàn tay vuốt má. “Còn mày thì sao?”

“Về chuyện ‘mày biết là gì rồi đấy’ á?” Tôi chẳng ngại nói về chuyện tình dục. Tôi chỉ ngại nói về chuyện tình dục khi nó liên quan đến tôi.

“Ừ, tao biết mày chưa bao giờ làm chuyện ‘mày biết là gì rồi đấy’. Chúa ơi! Tao không nói về chuyện đó đâu.”

“Tao tưởng chúng mình đang nói về chuyện ấy.”

“Tao đang nói về cuộc sống của chúng ta, Cassie! Chúa ơi, đây có thể là ngày tàn của cái thế giới chết tiệt này, và tất cả những gì mày muốn làm là nói về tình dục!”

Nó giật chiếc điện thoại ra khỏi tay tôi rồi dò dẫm nghịch vỏ điện thoại.

“Đấy chính là lý do mày nên nói thẳng với anh ấy,” nó nói, mân mê cái dây rút của mũ áo.

“Nói với ai cái gì?” Tôi thừa biết nó nói về cái gì; tôi chỉ đang câu giờ thôi.

“Ben! Mày nên nói với anh ấy cảm giác của mày. Mày đã có cảm xúc gì từ hồi lớp ba.”

“Mày đùa đấy à?” tôi cảm thấy mặt mình đỏ lên.

“Và rồi mày nên quan hệ luôn với anh ấy.”

“Lizbeth, im đi.”

“Sự thật là thế mà.”

“Tao chưa từng muốn quan hệ với Ben Parish từ năm lớp ba nhé,” tôi thì thào. Lớp ba? Tôi liếc qua xem nó có lắng nghe không. Rõ ràng là không.

“Nếu tao là mày, tao sẽ tiến thẳng tới và bảo anh ấy, ‘Em nghĩ ta sắp tiêu rồi. Ta sắp tiêu rồi, và quỷ tha ma bắt em đi nếu em chết tại phòng thể chất của trường này mà vẫn chưa từng làm chuyện ấy với anh.’ Và rồi mày biết tao sẽ làm gì không?”

“Làm gì?” Tôi đáp lại bằng một tràng cười, tưởng tượng vẻ mặt anh ấy sẽ ra sao.

“Tao sẽ dẫn anh ấy ra vườn hoa và quan hệ với anh ấy.”

“Ở vườn hoa sao?”

“Hoặc là trong phòng thay đồ.” Nó phẩy tay lia lịa ra xung quanh bao trọn ngôi trường, mà cũng có thể là cả thế giới. “Ở đâu chả được.”

“Phòng thay đồ hôi lắm.” Tôi nhìn xuống hai hàng dưới, thấy hình dáng cái đầu đẹp đẽ của Ben Parish. “Những chuyện kiểu ấy chỉ xảy ra trên phim thôi,” tôi nói.

“Ừ đúng rồi, quá phi thực tế, chẳng giống những chuyện đang xảy ra ngay bây giờ gì cả.”

Nó nói đúng. Chuyện này quá phi thực tế. Cả hai kịch bản, người ngoài hành tinh xâm chiếm Trái đất và Ben Parish xâm chiếm tôi.

“Ít nhất mày có thể thổ lộ với anh ấy về tình cảm của mày,” nó nói, đọc được suy nghĩ trong đầu tôi.

Có thể, phải. Lúc nào cũng có thể, chậc...

Và tôi chẳng bao giờ làm thế. Và đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy Ben Parish, đang ngồi trong phòng thể chất tối đen, ngột ngạt (tổ diều hâu!), dưới tôi hai hàng, và cũng chỉ thấy phần lưng của anh. Có lẽ anh đã chết trong Làn Sóng Thứ 3 giống như hầu hết mọi người, và tôi chưa bao giờ thổ lộ tình cảm với anh. Lẽ ra tôi đã có thể. Anh biết tôi là ai mà; anh ngồi ngay sau tôi trong một vài môn.

Chắc anh không nhớ, nhưng hồi trung học, chúng tôi đi chung tuyến xe buýt, và một buổi chiều, tôi nghe lỏm anh đang kể là em gái anh vừa chào đời hôm trước, thế là tôi quay lại nói, “Em trai em vừa sinh tuần trước đấy!” Và anh nói, “Thật à?” Không phải theo kiểu châm biếm, mà giống như kiểu anh nghĩ đó là một sự trùng hợp thú vị, và trong gần một tháng sau, tôi vẫn ôm ấp suy nghĩ rằng chúng tôi có một mối liên hệ đặc biệt dựa trên hai em bé. Rồi chúng tôi lên cấp ba, anh trở thành ngôi sao trong đội bóng còn tôi chỉ là một cô gái như bao cô gái khác theo dõi anh từ khán đài. Tôi hay gặp anh trong lớp hoặc ở hành lang, và thỉnh thoảng tôi phải cố gắng kìm nén cái thôi thúc được chạy tới nói với anh, “Chào anh, em là Cassie, cô gái trên xe buýt ấy. Anh có nhớ chuyện về những em bé không?”

Điều thú vị là, có thể anh nhớ lắm chứ. Không đời nào có chuyện Ben Parish thỏa mãn với biệt hiệu anh chàng tuyệt vời nhất trường. Để xát muối vào lòng tôi bằng sự hoàn hảo của anh, anh còn nhất định phải làm một trong những người thông minh nhất nữa. Mà tôi đã kể rằng anh rất tử tế với động vật và trẻ nhỏ chưa nhỉ? Trận đấu nào em gái anh cũng ngồi ngoài đường biên, và khi chúng tôi chiến thắng giải vô địch quận, Ben chạy thẳng tới đường biên, kiệu em gái lên vai, dẫn đầu đoàn diễu hành đi vòng quanh sân, còn cô bé vẫy tay với đám đông y như một nữ hoàng hồi hương.

À, thêm điều này nữa: nụ cười chết người của anh. Đừng để tôi bắt đầu nói về nó nhé.

Thêm một tiếng nữa trôi qua trong phòng thể chất tối tăm ngột ngạt, và tôi thấy bố xuất hiện trên ngưỡng cửa. Bố khẽ vẫy tay chào tôi, cứ như thể hôm nào ông cũng tới trường đón tôi sau khi người ngoài hành tinh tấn công. Tôi ôm Lizbeth, bảo nó tôi sẽ liên lạc ngay khi điện thoại hoạt động trở lại. Tôi vẫn giữ nếp nghĩ trước cuộc xâm lược. Bạn biết đấy, điện mất nhưng rồi nó vẫn luôn luôn có lại mà. Vậy nên tôi chỉ ôm lấy nó mà quên mất không nói rằng tôi yêu quý nó.

Chúng tôi ra ngoài và tôi hỏi, “Ô tô ở đâu vậy ạ?”

Và bố bảo ô tô không hoạt động. Chẳng có chiếc ô tô nào hoạt động hết. Đường phố bừa bộn những chiếc ô tô con, xe buýt, xe máy và xe tải bị chết máy, dãy nhà nào cũng ngổn ngang những đống đổ nát, ô tô gãy gập cạnh các cột đèn và nhô ra từ các tòa nhà. Nhiều người đã bị mắc kẹt khi xung điện từ tấn công; khóa tự động trên cửa ngừng hoạt động, và họ phải phá xe để ra ngoài hoặc ngồi nguyên tại chỗ chờ người tới giúp. Những người bị thương vẫn còn có thể cử động bò lết lên lề đường và vỉa hè chờ trợ giúp y tế, nhưng chẳng có nhân viên y tế nào đến, vì xe cứu thương, xe cứu hỏa và cả xe cảnh sát cũng đều không hoạt động. Mọi thứ hoạt động nhờ pin hay điện hoặc có động cơ đều chết hết vào lúc mười một giờ sáng.

Bố vừa đi vừa nói, tay nắm chặt cổ tay tôi như thể ông sợ thứ gì đó có thể bổ nhào từ trên trời xuống và vồ lấy tôi mang đi mất.

“Không có gì hoạt động. Điện không, điện thoại không, hệ thống ống nước không...”

“Bọn con đã thấy một cái máy bay rơi.”

Bố gật đầu. “Bố dám chắc tất cả chúng đều bị vậy. Bất cứ thứ gì và mọi thứ trên bầu trời khi nó tấn công. Máy bay chiến đấu, trực thăng, tàu vận chuyển quân dụng...”

“Khi cái gì tấn công ạ?”

“EMP,” bố nói. “Xung điện từ. Chỉ cần phát ra một xung điện từ đủ lớn, vậy là ta đã hạ gục toàn bộ mạng lưới. Năng lượng. Viễn thông. Giao thông. Mọi thứ có thể bay hoặc lái đều chết ngắc.”

Trường tôi cách nhà khoảng một dặm rưỡi. Một dặm rưỡi dài nhất tôi từng đi. Dường như một bức màn đã bao trùm lên tất cả, một bức màn được tô vẽ để trông giống hệt như những gì nó đang che giấu. Tuy nhiên, vẫn có những hình ảnh thấp thoáng, những cảnh tượng lấp ló đằng sau bức màn cho ta biết đã có chuyện gì đó rất không ổn. Kiểu như tất cả mọi người đứng ở cổng trước cầm những chiếc điện thoại chết, ngước nhìn lên bầu trời, hoặc cúi xuống trên mui xe đang mở, ngó ngoáy đống dây điện, bởi vì đó là điều ta sẽ làm khi xe bạn bị hỏng - ta ngó ngoáy đống dây điện.

“Nhưng sẽ ổn thôi,” bố nói, siết chặt cổ tay tôi. “Ổn cả thôi. Rất có khả năng hệ thống dự phòng của chúng ta không bị tê liệt, và bố chắc chắn chính phủ đã có kế hoạch đối phó bất trắc, những căn cứ được bảo vệ, đại loại thế.”

“Vậy việc cắt nguồn điện phù hợp thế nào với kế hoạch họ vạch ra nhằm giúp chúng ta tiến tới bước tiến hóa tiếp theo hả bố?”

Tôi đã hối hận ngay khi vừa thốt ra những lời đó. Nhưng tôi đã bị hoảng loạn. Bố không hiểu nhầm câu hỏi của tôi. Bố nhìn tôi, mỉm cười trấn an và nói, “Mọi chuyện sẽ ổn thôi con” vì đó chính là điều tôi muốn bố nói, cũng là điều bố muốn nói, và đó là điều ta làm khi bức màn rơi xuống - ta nói lời thoại mà khán giả muốn nghe.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.