Poole
Ngày 2 • 1:03 chiều
Đặc vụ Frank Poole ngồi xuống bên cái bàn kim loại gỉ sét được cấp phát trong phòng làm việc ở tầng hầm Sở Cảnh sát Chicago. Mấy hộp đựng tài liệu thu thập được từ nhà của Thanh tra Porter nằm trên cái bàn cạnh đó. Đặc vụ Toàn quyền Hurless và Đặc vụ Diener đã quay lại văn phòng chi nhánh của FBI trên đường Roosevelt để xem qua các vụ khác sau khi ăn vội bữa trưa ở một quán nhỏ trên đại lộ Wabash. Poole quyết định về đây. Anh cứ nghĩ Hurless sẽ phản đối, nhưng không, vị sếp chỉ giúp anh chuyển đống hộp lên xe rồi dặn anh và hai kỹ thuật viên mang tất cả đồ đạc tới thẳng đây.
Poole đóng cửa ra vào rồi tắt mấy bóng đèn huỳnh quang trên trần, khiến căn phòng chìm trong bóng tối, chỉ để lại ngọn đèn nhỏ trên bàn làm việc.
Anh mở hồ sơ vụ Barbara McInley ra xem. Anh thích làm việc theo cách này, trong bóng tối, không gì gây mất tập trung. Không ồn ào, không người qua kẻ lại tấp nập chốn văn phòng, không một tiếng nói cất lên ngoại trừ tiếng nói của chứng cứ.
Barbara McInley. Mười bảy tuổi. Nạn nhân thứ năm của sát nhân Bốn Con Khỉ. Bị Bishop bắt vì chị gái cô đâm xe làm một người đi bộ thiệt mạng vào ngày 14 tháng Ba năm 2007. Anh lật mặt trong bìa hồ sơ, nơi ghim ảnh của Barbara McInley. Xinh đẹp. Tóc vàng.
Anh ngước lên nhìn tấm bảng trắng kê ở góc phòng, căng mắt ra quan sát ảnh các nạn nhân của Bishop. Tất cả đều có tóc màu nâu, trừ Barbara. Anh mải mê nhìn những bức ảnh đến quên cả thời gian, khi xem đồng hồ đeo tay mới biết đã gần mười phút trôi qua. Anh với lấy điện thoại và quay số máy đã cài đặt ngay từ khi bắt đầu cuộc điều tra nhưng chưa có cơ hội liên lạc.
Sau ba hồi chuông kêu, một giọng nói trầm khàn mới cất lên ở đầu dây bên kia. “A lô?”
Poole đằng hắng. “Thanh tra Porter phải không?”
“Phải.”
“Tôi là Đặc vụ Frank Poole.”
Im lặng, sau đó: “Ừ.”
Poole nói tiếp: “Chúng tôi đến đây, điều tra vụ này, là do được yêu cầu. Điều đó chắc anh cũng hiểu, đúng không? Chúng tôi không có quyền tiếp quản một cuộc điều tra nếu như không được nhờ cậy.”
“Ai nhờ các anh?”
Poole lùa tay qua mái tóc. “Nếu họ muốn anh biết thì họ đã nói rồi. E rằng tôi không được phép thảo luận về chuyện đó.”
“Anh chủ động gọi cho tôi cơ mà.” Porter nói. “Vậy chứ anh muốn thảo luận về chuyện gì?”
“Nếu được quyền lựa chọn, tôi sẽ không tự ý can thiệp theo kiểu này. Bản thân tôi không thích người lạ chen vào cuộc điều tra của mình, và tôi cũng không muốn tham gia vào những việc như thế.”
“Vậy mà anh vẫn phải làm.”
“Tôi vẫn phải làm.” Poole thừa nhận.
“Có người cảm thấy tôi đã khiến mọi chuyện hỏng bét nên mới mời các anh vào cuộc để cứu vãn thể diện. Việc các anh ở đây không phải do lỗi của các anh, mọi người chỉ đang làm nhiệm vụ của mình thôi, đúng không?”
“Họ nói anh đã để cho hắn trốn thoát, và rằng hai người quá thân thiết.”
“Anh cứ việc tin những gì anh muốn. Giờ cuộc điều tra này là của anh rồi.” Porter nói.
Poole đứng dậy, khiến cái ghế ré lên phản đối, sau đó anh bước tới đứng trước chiếc bảng trắng, đứng trước ảnh của các cô gái. “Thực tình mà nói, tôi không quan tâm đến trò ganh đua nhảm nhí của mấy ông lớn trong vụ này. Tôi có cảm giác anh cũng thế. Tôi nghĩ cả anh và tôi đều theo đuổi một mục tiêu duy nhất. Chúng ta chỉ muốn hạ được tên súc sinh đó.”
Porter không nói gì.
Poole tiếp tục. “Sếp tôi và Diener đang hy vọng kiếm chút tiếng tăm nhờ vụ này. Tôi nghĩ đó là mục tiêu của họ.”
“Còn anh không có mục tiêu gì sao?”
“Tôi không muốn tên này hại thêm người nào nữa.” Poole đáp.
Hai người đàn ông không ai nói gì một lúc lâu. Porter chủ động phá vỡ sự im lặng. “Vì sao anh lại gọi cho tôi, Đặc vụ Poole?”
“Frank.” Anh nói. “Cứ gọi tôi là Frank.”
“Vì sao anh lại gọi cho tôi, Frank?”
Poole quay lại chỗ bàn làm việc và tập hồ sơ. “Barbara McInley. Tôi có cảm giác lúc nãy anh vẫn còn giấu giếm điều gì đó.”
“Tôi đã nói với anh và sếp anh rồi, tôi chưa kịp xem hồ sơ vụ McInley.”
“Nhưng linh tính mách bảo anh rằng trong đó có chi tiết đáng ngờ?”
Một lần nữa Porter lặng thinh.
Poole tiếp tục. “Linh tính của tôi bảo tôi hãy tin vào linh tính của anh.”
Poole không thấy đầu dây bên kia nói gì. Anh cũng im lặng, chờ đối phương lên tiếng.
Cuối cùng, Porter thở dài. “Tôi bị gọi đi làm để tiếp tục điều tra khi mới nghỉ phép được vài tuần do vợ tôi bị sát hại. Nash nhận được tin báo tìm thấy thi thể của kẻ mà chúng tôi nghĩ là tên sát nhân Bốn Con Khỉ. Mọi chuyện xảy ra quá nhanh. Chúng tôi đưa Bishop từ Đội Khám nghiệm Hiện trường sang tổ điều tra vì thấy hắn tư duy có vẻ sắc bén. Chúng tôi không truy tìm kẻ giết người nữa. Ai cũng tưởng hắn đã chết rồi. Mọi người chỉ tập trung tìm Emory. Chúng tôi trở lại phòng tác chiến, các cá nhân chủ chốt trong tổ chuyên án 4MK đều có mặt, ngoài ra còn có thêm lính mới là Bishop. Chúng tôi xem xét toàn bộ chứng cứ. Đôi lúc việc lượt lại từ đầu đến cuối giúp tôi nhìn nhận mọi thứ được sáng suốt, đôi lúc một ý tưởng mới mẻ nào đó chợt lóe lên, một chi tiết bất ngờ đập vào mắt. Nói tóm lại, chúng tôi xem xét chứng cứ vừa là để giúp Bishop nắm được, vừa là để mọi người trong tổ ôn lại thông tin.”
Poole gật đầu. “Anh muốn xem xét các manh mối ở một góc độ khác, không còn phải truy tìm kẻ đã để lại những manh mối ấy nữa, mà muốn dựa vào đó để tìm hiểu xem hắn là ai và có thể giam giữ Emory ở đâu.”
“Phải. Khi thay đổi góc nhìn, đôi lúc anh sẽ phát hiện được điều gì đó hoàn toàn bất ngờ. Một chi tiết trước đây anh không nhìn ra. Tại thời điểm ấy, vụ án chủ yếu xoay quanh việc truy tìm cô bé mất tích.” Porter nói. “Trong lúc xem xét chứng cứ, Bishop có đưa ra một vài ý kiến cá nhân. Và thề có Chúa, ngay cả khi nghĩ lại tôi vẫn không nhận ra thằng khốn đó chỉ đang vờ như tất cả đều mới mẻ đối với hắn. Hắn nhìn chằm chằm lên bảng không những với vẻ mặt nghiêm túc, mà tôi còn có thể hình dung ra cả những tính toán trong đầu hắn, hình dung hắn đang suy đoán dựa trên những chứng cứ thu được, xâu chuỗi các tình tiết, chắp nối những mảnh ghép, đưa ra nhiều giả thiết. Tôi đã hồi tưởng lại không biết bao nhiêu lần, nhưng thực sự hắn không để lộ bất cứ điều gì có thể cho chúng tôi biết hắn chính là tên sát nhân mà cả đội đang săn lùng. Hắn vào vai sĩ quan khám nghiệm hiện trường Paul Watson ngọt đến mức tôi nghĩ ngay cả hắn cũng quên mất con người thật của mình, hắn tỏ vẻ cũng mong muốn bắt được 4MK không kém gì chúng tôi. Tôi biết có thể anh đang nghĩ tôi đang cố biện minh, tôi quá kém cỏi, và lẽ ra phải có người nhìn thấu được màn kịch này, nhưng thực sự vai diễn của hắn hoàn hảo như vậy đó. Hắn không chỉ đeo mặt nạ mà đã trở thành chính cái mặt nạ ấy.”
“Hắn là một tên thái nhân cách*.” Poole nói. “Trong khoảnh khắc đó, hắn có thể là Paul Watson thật. Những kẻ như hắn, khi không còn lương tri, thì chẳng khác nào một tấm vải trắng trơn, một vỏ bọc trống rỗng. Chúng có thể nhét vào đó một nhân cách bất kỳ và nhân cách ấy sẽ nắm quyền kiểm soát, lấp đầy khoảng trống bên trong. Tôi từng gặp nhiều kẻ giống như hắn. Ở một vài trường hợp, nhân cách kia sẽ thống trị hoàn toàn, nhưng với nhiều trường hợp khác, tất cả các nhân cách dường như song song tồn tại bên trong con người chúng và vẫn nhận biết được sự hiện diện của nhau.”
*Chú Thích:
Thái nhân cách là tình trạng rối loạn nhân cách nghiêm trọng với đặc điểm vô cảm với cảm xúc của người khác, tính cách dối trá và thường cho mình có quyền trước người khác, cũng như thường thực hiện những hành vi bốc đồng, vô trách nhiệm, đầy khinh suất.
“Ừm, như tôi vừa nói, trong khoảnh khắc đó hắn là Paul Watson, và Paul Watson tỏ ra rất muốn bắt được 4MK. Lúc chúng tôi xem xét các chứng cứ, nhắc lại vụ án của từng nạn nhân, hắn đã khựng lại khi nói đến McInley. Hắn đưa ra nhận xét rằng cô ta là người duy nhất có tóc vàng. Tại thời điểm ấy, lời hắn nói chỉ có vẻ giống như nhận định của một cậu lính mới mà thôi. Ý tôi là, điều đó cả đội ai chẳng biết, chúng tôi đã nhìn những bức ảnh này suốt năm năm trời chứ ít gì. Nhưng hắn nấn ná ở đó, dù chỉ trong một giây ngắn ngủi. Vì coi nó là nhận định của một cậu lính mới nên tôi đã bỏ qua, không để ý đến, nhưng bây giờ…”
“Bây giờ nghĩ lại, anh biết mình đã ở chung một phòng với 4MK, và 4MK đã nấn ná giây lát trước Barbara McInley.” Poole tóm tắt lại.
“Phải.”
“Như vậy chưa nói lên được gì nhiều.”
“Tôi nghĩ tôi đã nói câu này mấy lần rồi. Không có gì chắc chắn hết, tất cả chỉ là linh cảm của tôi thôi.” Porter nói. “Còn một điều đáng chú ý nữa, đó là tội ác trong câu chuyện này. Chị của McInley đâm xe làm chết người đi bộ, nhưng đấy là tai nạn. Với những nạn nhân khác, Bishop giết họ dựa trên lý do người thân của họ phạm tội có chủ đích. Một việc đã được lên kế hoạch, tính toán trước, dàn dựng đâu ra đấy. Vụ đâm xe rồi bỏ trốn không khớp với tiêu chí đó.”
Poole đọc lại hồ sơ. “Trong biên bản bắt giữ có viết, chị gái cô ta đâm vào một người đi bộ qua đường không theo tín hiệu đèn giao thông. Ông ta bước xuống lòng đường ngay trước đầu xe của cô chị.”
“Nếu cô chị không bỏ trốn thì đã không bị kết án. Không phải trong trường hợp đó.” Porter nói. “Điều này có sự tương đồng với tình huống dẫn đến cái chết của Jacob Kittner. Đừng quên, Bishop đã trả tiền để ông ta bước ra giữa đường. Tôi không tin vào những sự trùng hợp ngẫu nhiên.”
“Tôi cũng vậy.” Poole nói. “Chờ chút.” Anh mở hồ sơ của Libby McInley trong laptop cá nhân và đọc bản ghi chép. “Hồ sơ viết rằng cô ta bị truy tố vào tháng Ba năm 2007, đến tháng Bảy thì bị kết tội ngộ sát khi đâm xe làm chết một người tên là Franklin Kirby, lĩnh án mười năm tù, nhưng chỉ thụ án khoảng bảy năm có lẻ. Cô ta được tha trước thời hạn có điều kiện và đã ra tù cách đây sáu tuần.”
“Anh vừa nói người bị cô ta tông vào tên là gì?”
“Franklin Kirby. Sao thế? Anh biết ông ta à?”
Một lần nữa Porter lại im lặng.
“Porter. Nếu cái tên này có ý nghĩa nào đó với anh thì phải nói với tôi.” Poole nói.
“Anh nên tìm hiểu xem tình hình cô ta thế nào. Sau đó báo cho tôi biết kết quả.”
“Tại sao chứ?” Poole hỏi, nhưng Porter đã cúp máy trước rồi.