Porter
Ngày 2 • 7:56 sáng
“Anh cứ vào trước nhé. Tôi đi vệ sinh cái đã.” Nash nói khi hai người bước ra khỏi thang máy ở tầng hầm tòa nhà Sở Cảnh sát Chicago nằm trên đại lộ Michigan. Nash rẽ phải, băng qua hành lang rồi biến mất sau cánh cửa nhà vệ sinh. Porter rẽ trái.
Sau khi Bishop trốn thoát, Cục Điều tra Liên bang FBI đã nhảy vào tiếp quản cuộc săn lùng 4MK. Thời điểm đó Porter đang nghỉ phép để dưỡng thương, nhưng theo như những gì Nash kể với anh, ban đầu FBI còn lăm le chiếm cả phòng tác chiến. Nash đã phải vận dụng sức hút chết người của mình - cộng thêm những lời đe dọa sử dụng vũ lực - để dẹp yên những kẻ không mời mà đến và tống khứ bọn họ sang căn phòng bên kia hành lang, căn phòng khét tiếng chủ yếu vì ở đó bốc ra một mùi kỳ quặc có lẽ xuất phát từ góc trong cùng phía bên trái. Kể từ ngày ấy, hai bên chung sống trong cảnh bằng mặt không bằng lòng.
Phòng làm việc của FBI tắt đèn tối om.
Porter chờ cho tới khi nghe thấy tiếng Nash khóa cửa nhà vệ sinh, sau đó anh thử mở cửa phòng của FBI.
Không khóa.
Porter liếc nhanh một cái về phía hành lang rồi lẻn vào trong. Anh không bật đèn lên.
Sáu nhãn cầu.
Bảy nạn nhân. Hoặc tám, nếu tính cả Emory.
Tiềm thức đang muốn nói với anh điều gì đó.
Anh băng qua phòng, tới chỗ hai chiếc bảng trắng ở trước mặt và chăm chú quan sát ảnh của các nạn nhân. Đáp lại anh là những khuôn mặt quen thuộc, nụ cười an nhiên trong những khoảnh khắc hạnh phúc của họ được lưu giữ trọn vẹn. Lúc đứng trên tầng mười một của tòa nhà số 314 đại lộ West Belmont, vào những giây phút cuối cùng, Bishop đã thừa nhận tội ác của mình, phơi bày toàn bộ âm mưu và vô cùng tự mãn với thứ logic biến thái trong kế hoạch hắn vẽ ra. “Những kẻ đó đáng bị trừng phạt.” Hắn nói với Porter. Và đúng là thế thật. Mỗi người trong số nạn nhân của hắn đều đã phạm phải tội lỗi tày trời nào đó, tội lỗi mà vì thế họ phải bị trừng phạt. Nhưng hắn không nhắm vào họ. Thay vào đó, hắn bắt con cái họ. Hắn khiến con họ chết trong đau đớn, để những người làm cha mẹ sống trong khổ sở đến hết đời. Những cô gái này bị giết không phải vì họ đã làm điều gì sai trái, cái sai là ở người thân của họ. Những thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp ấy bị tước đi sinh mạng để trả giá cho tội nghiệt do kẻ khác gây ra.
Porter bước lại gần tấm bảng thứ nhất, ngón tay anh vuốt lên bức ảnh chụp Calli Tremell, nạn nhân đầu tiên của Bishop. Hai mươi tuổi, bị bắt đi ngày 15 tháng Ba năm 2009. Phải nói là nạn nhân đầu tiên của Bishop trên danh nghĩa 4MK mới đúng, như Klozowski luôn mau mắn đính chính lại. Phương thức của hắn cực kỳ tinh vi và chuẩn xác, mô thức hắn chọn cho thấy nhiều khả năng hắn đã từng giết người từ trước, thủ pháp của hắn được đúc rút sau bao năm mài giũa, thực hành. Hắn quá khôn ngoan nên không thể chỉ mới ra tay lần đầu, thật đáng sợ khi nghĩ rằng một kẻ như hắn đang tồn tại trên đời, cướp đi bao mạng người, từng bước tiến đến ngày hôm nay… Nếu như đây là khởi đầu của hắn với biệt danh 4MK, vậy thì Porter không hình dung nổi hắn xuất thân trong hoàn cảnh như thế nào. Cuốn nhật ký đã hé lộ cho anh đôi điều về hắn nhưng chừng đó là chưa đủ, nó chỉ là cái nhìn thoáng qua, những gì thấy được trong chốc lát khi tấm rèm được vén lên rồi lại bị Bishop buông xuống.
Bố mẹ Calli Tremell trình báo về vụ mất tích của con gái vào thứ Ba. Họ nhận được cái tai của cô qua đường bưu điện vào thứ Năm. Tiếp đến là đôi mắt vào thứ Bảy, và cái lưỡi vào thứ Ba tuần kế tiếp. Tất cả được đặt trong những chiếc hộp nhỏ màu trắng thắt dây màu đen, nhãn ghi địa chỉ được viết tay, không có dấu vân tay nào. Hắn không bao giờ để lại dấu vân tay.
Ba ngày sau khi cái hộp cuối cùng được gửi tới, một người chạy bộ phát hiện ra xác của cô gái trong Công viên Almond. Cô được đặt trên một cái ghế băng cùng tấm bìa các tông dán bằng keo lên tay, trên đó viết KHÔNG LÀM ĐIỀU ÁC. Lúc ấy Porter và đồng đội của anh đã đoán ra phương thức gây án của hắn, tấm bìa giúp khẳng định giả thiết của họ.
Không làm điều ác hóa ra chính là chìa khóa để giải mã mục tiêu Bishop đang nhắm đến, họ nhận ra điều đó khi tiếp nhận nạn nhân thứ hai của 4MK, Elie Borton. Cô mất tích ngày 2 tháng Tư năm 2010, hơn một năm sau nạn nhân thứ nhất. Ban Tìm kiếm Trẻ em Mất tích đã chuyển giao vụ án cho tổ điều tra của Porter sau khi bố mẹ cô nhận được cái tai qua đường bưu điện và báo cảnh sát. Khi xác cô gái được tìm thấy khoảng hơn một tuần sau, trên tay cô cầm tờ khai nộp thuế năm 2008 dưới tên của bà cô. Họ tìm hiểu sâu hơn và phát hiện ra rằng bà của cô gái đã qua đời vào năm 2005. Matt Hosman ở Ban Điều tra Tội phạm Kinh tế phát hiện bố cô đã khai man thuế dựa trên danh nghĩa của hơn mười người sống ở viện dưỡng lão do ông ta điều hành, tất cả đều đã chết. Bishop giết Elie Borton, cô gái mới hai mươi ba tuổi, vì tội ác mà bố cô gây ra.
Khi động cơ của 4MK đã rõ ràng, họ quay lại tìm hiểu về gia đình Calli Tremell và phát hiện mẹ cô đã rửa tiền từ ngân hàng bà ta đang làm việc với số tiền lên đến hơn ba triệu đô la trong suốt mười năm qua.
Porter bước sang phải và quan sát bức ảnh thứ ba. Missy Lumax, mất tích ngày 24 tháng Sáu năm 2011. Bố cô buôn bán phim khiêu dâm trẻ em. Bố của Susan Devoro đánh tráo kim cương thật bằng kim cương giả ở cửa hàng trang sức do chính ông ta làm chủ. Cô là nạn nhân thứ tư, mất tích ngày 3 tháng Năm năm 2012. Nạn nhân thứ năm là Barbara McInley, mười bảy tuổi, mất tích ngày 18 tháng Tư năm 2013. Chị gái cô đâm xe khiến một người đi bộ thiệt mạng sáu năm trước, vì vậy Bishop giết Barbara để trừng phạt. Anh trai của Allison Crammer điều hành một phân xưởng bóc lột rất nhiều công nhân bất hợp pháp ở Florida. Cô là nạn nhân thứ sáu, mất tích ngày 9 tháng Mười một năm 2013, khi mới mười chín tuổi. Chỉ vài tháng sau lại đến lượt Jodi Blumington. Cô mất tích ngày 13 tháng Năm năm 2014, ở tuổi hai mươi hai. 4MK giết cô gái ấy vì bố của cô nhập khẩu cocain cho một cartel ma túy.
Bức ảnh cuối cùng trên bảng là của một cô bé Porter biết rõ, nạn nhân duy nhất anh từng gặp ngoài đời và cũng là người duy nhất sống sót. Emory Connors, mười lăm tuổi, bị bắt cóc hồi tháng Mười một năm ngoái. Cô bé mất một bên tai và bị giam cầm suốt mấy ngày trời, nhưng Bishop không giết cô. Rất có thể hắn sẽ ra tay nếu như Porter không tìm ra hắn trước. Hay đúng hơn, đó là những gì báo chí viết. Anh biết thừa chẳng qua Bishop cho phép nên cô bé ấy mới được sống. Anh cũng biết Bishop đã để anh tìm ra hắn. Hắn muốn có cơ hội trình bày lý lẽ, giải thích động cơ gây án cũng như tuyên ngôn của hắn trước khi giết Arthur Talbot rồi tẩu thoát.
Talbot, người hóa ra lại là bố đẻ của Emory, mới là kẻ tồi tệ nhất trong đám tội phạm đó. Bishop bắt cóc Emory, nhưng cuối cùng hắn lại trừng phạt Talbot bằng cách cắt xẻo rồi đẩy ông ta xuống giếng thang máy. Hắn giết ông ta và tha cho Emory.
Emory thừa kế số tiền hàng tỉ đô do bố để lại, cái chết đột ngột của ông ta đã hợp pháp hóa một điều khoản trong di chúc, đó là điều kiện mà mẹ cô bé đặt ra từ nhiều năm về trước.
Emory được sống, còn Bishop thì lọt lưới.
Sáu nhãn cầu.
Porter ngước nhìn ảnh chụp các nạn nhân của 4MK.
Bảy cô gái đã chết, một người còn sống.
Anson Bishop đã thâm nhập vào tổ điều tra của Porter bằng cách giả danh sĩ quan chụp ảnh hiện trường hồi tháng Mười một năm ngoái. Vào lần đầu tiên hắn có mặt tại buổi họp với toàn đội, họ đã cùng nhau ôn lại thông tin của từng người trong số các nạn nhân trước đây của 4MK, cố gắng giúp hắn bắt kịp trong thời gian truy tìm Emory. Hắn lắng nghe rất chăm chú, tỏ ra quan tâm đến những dữ kiện họ có được, vờ như tất cả đều hết sức mới mẻ đối với hắn. Porter vẫn thường nhớ lại khoảnh khắc ấy, kiếm tìm bất cứ biểu hiện nào có thể tiết lộ danh tính thật của hắn, nhưng chẳng có gì. Khi nhìn tấm bảng này, Bishop hẳn phải cảm thấy sung sướng, mãn nguyện tột cùng, dù ngoài mặt vẫn thể hiện thái độ ghê sợ vừa đủ, hứng thú vừa đủ. Hắn hỏi nhiều câu rất hợp lý hợp tình, biết kiềm chế để không thêm thắt điều gì trong số những thông tin được cung cấp. Porter nghĩ việc đó đối với hắn chắc là khó khăn lắm. Trong lần đối đầu cuối cùng ở Belmont, Bishop vô cùng hào hứng muốn chia sẻ những gì hắn biết, muốn giãi bày tâm tư của bản thân. Khao khát ấy hẳn đã dâng trào mãnh liệt trong lòng hắn khi đứng trước mấy tấm bảng này, lắng nghe họ nói những điều đã biết về từng nạn nhân.
Tuy vậy, Bishop cũng đưa ra một vài luận điểm, xoáy vào một vài chi tiết.
Porter nhắm mắt và hồi tưởng lại những gì diễn ra ngày hôm ấy, những lời hắn đã nói.
Anh nhớ Bishop gợi ý tập trung vào vấn đề tiếp cận thông tin, nghĩa là tìm hiểu xem người nào có quyền tiếp cận thông tin liên quan đến tất cả các tội ác này, rồi từ đó truy ngược lại. Nhưng ý kiến của hắn cũng không giúp ích được gì, vì cuối cùng họ phát hiện ra rằng chính Talbot là người biết rõ những tội ác này, và Bishop moi được thông tin từ ông ta. Hắn nhắc đến ngày tháng của các vụ mất tích, chỉ ra rằng 4MK đang tăng dần nhịp độ. Điều này không sai, nhưng nếu thực sự tồn tại một lý do cho việc đó thì họ cũng chẳng thể xác định chính xác được lý do đó là gì. Tại thời điểm ấy họ cho rằng 4MK đã chết rồi. Việc quan trọng nhất là tìm ra Emory.
Còn một chi tiết đáng chú ý nữa, đó là màu tóc.
Porter nhớ rằng Bishop đã nhìn xoáy vào bức ảnh của Barbara McInley, nạn nhân duy nhất có tóc vàng. Bất thường, đó là cách hắn nói về cô gái ấy. Người duy nhất tóc vàng trong một nhóm toàn những thiếu nữ tóc nâu xinh đẹp. Tiếp theo hắn hỏi có ai trong số các nạn nhân bị xâm hại tình dục không, nhưng câu trả lời là không. Hắn lại hỏi 4MK có giết người nào là nam giới không. Cụ thể hơn, hắn hỏi những cô gái này có anh em trai không, sau đó nói đôi điều đại loại là: “Giả sử một nửa trong số các gia đình này có ít nhất một người con trai, và 4MK bắt cóc con cái họ một cách ngẫu nhiên, như vậy lẽ ra phải có ít nhất một, hai nạn nhân là nam giới. Nhưng điều đó không xảy ra. Việc hắn nhắm vào con gái thay vì con trai là có lý do, chỉ có điều chúng ta chưa biết thôi.” Porter thì cho rằng 4MK bắt cóc phụ nữ chỉ đơn giản vì họ dễ bị khống chế hơn, ít khả năng chống cự hơn mà thôi.
Sáu nhãn cầu.
Bảy nạn nhân.
Porter trở lại với bức ảnh của Barbara McInley. Bị trừng phạt vì chị gái đâm xe làm chết người rồi bỏ trốn. McInley là người duy nhất thực sự khiến Bishop chú ý trong suốt buổi họp, người duy nhất hắn tập trung vào. Porter vẫn có thể hình dung ra dáng vẻ của Bishop lúc ấy, ngón tay gõ trên bức ảnh, trong đầu vạch ra muôn vàn toan tính.
Porter liếc về phía cửa ra vào, dỏng tai lên nghe xem có ai qua lại ngoài hành lang không, nhưng không nghe thấy gì.
Cạnh bức tường bên tay trái có kê một chiếc bàn chất đầy hộp đựng hồ sơ, đó là toàn bộ thông tin thu thập được về 4MK. Trên cái hộp thứ ba tính từ bên trái có đề hai chữ Nạn nhân bằng bút dạ đỏ, do chính tay Porter viết. Anh băng qua phòng, mở nắp hộp và lục lọi cho tới khi tìm thấy hồ sơ của Barbara McInley, cái tên trên đó cũng là chữ của anh.
Những hồ sơ này thuộc về anh. Thuộc về tổ điều tra của anh. FBI không có quyền sở hữu chúng.
“Kệ cha nó.”
Porter giấu tập hồ sơ vào bên trong áo khoác, đậy nắp hộp lại rồi đi ra cửa. Khi đã chắc chắn hành lang vẫn không một bóng người, anh lẻn ra ngoài và nhẹ nhàng đóng cửa lại.
Anh trở về phòng tác chiến nằm ở cuối hành lang và gạt công tắc để bật mấy cái đèn huỳnh quang trên trần.
“Vừa rồi tôi còn tưởng hay là sáng nay anh nghỉ đấy.” Đặc vụ Stewart Diener lên tiếng. Anh ta đang ngồi ở chỗ của Nash, chân gác lên mặt bàn, tay bấm thoăn thoắt trên màn hình bé tẹo của cái điện thoại di động.
Porter thầm mong có cơn gió nào đó ùa vào phòng thổi bay mái tóc rẽ ngôi điệu đà của gã kia đi. Nhưng tiếc là ước nguyện ấy không thành.