Cái Chết Thứ Năm

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 118 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

Porter

Ngày 2 • 7:59 sáng

Porter nhìn Diener chằm chằm. “Chúng tôi vừa phải xử lý một thi thể, vừa phải điều tra vụ mất tích của cô bé thứ hai. Tôi đã thức trắng đêm rồi. Anh muốn gì?”

Tên này đã ở đây suốt từ nãy đến giờ sao?

“Ờ, các anh giữ bí mật thông tin thì giỏi rồi.” Diener ném lên bàn làm việc của Porter tờ báo Chicago Tribune gấp làm đôi.

Porter liếc xuống tiêu đề:

4MK ĐÃ TRỞ LẠI VÀ BẮT CÓC CON GÁI CHÚNG TÔI?

Bên dưới dòng tít là bức ảnh chụp Emory Connors đang bước trên vỉa hè, đầu cúi gằm. Cả bài viết lẫn ảnh đi kèm đều nằm ở phía trên nếp gấp, chứng tỏ đây là tít chính của số báo này. Dưới đó còn hai bức ảnh nữa, tấm thứ nhất là ảnh đầm nước trong Công viên Jackson, được chụp bằng ống kính tiêu cự dài, tấm thứ hai chụp ngôi nhà của gia đình Davies.

Diener đứng dậy, đi vòng sang bên bàn của Porter và chỉ vào tờ báo. “Trong này có nhắc đến tên của cả Ella Reynolds lẫn Lili Davies.”

“Sao lại thế được? Chúng tôi đã đưa ra thông cáo gì đâu. Tôi mới đến gặp bố mẹ Lili Davies cách đây vài tiếng.”

Diener nhún vai. “Trong tổ điều tra lão làng của anh có kẻ bép xép chứ sao.”

“Vớ vẩn.” Porter lầm bầm và đọc lướt qua bài báo.

Trong đó đề cập đến việc một thi thể được tìm thấy dưới đầm nước ở Công viên Jackson, đồng thời cho rằng người chết rất có thể chính là Ella Reynolds, cô bé tuổi teen mất tích. Người viết cũng tiết lộ thêm thông tin, không lâu sau phát hiện này, một cô bé nữa lại mất tích. Lili Davies được trông thấy lần cuối khi rời nhà để tới trường vào hôm qua, nhưng cô bé không đến lớp. Phần còn lại của bài báo nhắc tới những nạn nhân trước đây của 4MK và đưa ra giả thiết Anson Bishop buộc phải thay đổi phương thức gây án sau khi cuộc truy bắt hắn thất bại thảm hại.

“Tên bị thịt kia mò sang đây làm gì?” Nash đứng ở ngưỡng cửa hỏi vọng vào.

Porter giơ tờ báo lên. “Đưa báo.”

Nash bước tới, thả áo khoác lên cái ghế Diener vừa đứng dậy. Anh phủi một sợi vải trên vai áo của gã kia. “Thật vui khi thấy chú em chịu khó tìm hiểu các lựa chọn nghề nghiệp đến thế. Nếu chú em ngoan, chiều nay sau khi tan học anh em mình có thể tạt qua Walmart chọn cho chú em một cái xe đạp thật đẹp để chú em tha hồ mở rộng con đường công danh.”

Porter thảy tờ báo lên bàn Nash và chỉ vào hai bức ảnh chụp đầm nước cùng với ngôi nhà của gia đình Davies. “Vụ này không phải do Bishop làm. Đám nhà báo đúng là quá vô trách nhiệm, dám đưa tin bừa bãi. Bọn họ viết thế cốt là để tăng doanh số thôi.”

Diener hỏi: “Sao anh dám khẳng định điều đó? Biết đâu Bishop quyết định thay đổi cách làm, đúng như họ nói.”

“Sát nhân hàng loạt không thay đổi phương thức gây án, anh biết mà. Thủ đoạn đặc trưng của chúng luôn cố định.”

Diener nhún vai. “Bishop không phải loại sát nhân hàng loạt thông thường. Mỗi vụ giết người hắn gây ra đều là một phần của kế hoạch báo thù hết sức tinh vi. Kế hoạch được hắn hoàn tất khi giết Talbot. Có thể hắn đã định rửa tay gác kiếm sau vụ đó, nhưng chẳng mấy chốc hắn nhận ra mình vẫn còn hứng thú với các thiếu nữ. Đến khi không thể kiểm soát được bản thân nữa, hắn bắt cóc Ella Reynolds. Xong việc với cô bé, hắn lại bắt Lili Davies.” Diener dợm bước đi ra cửa. “Anh cứ dừng lại và suy nghĩ, nhìn rộng ra một chút là sẽ thấy.”

Porter thả áo khoác lên bàn, trong đó vẫn giấu hồ sơ của Barbara McInley. Tim anh đập dồn.

“Thằng này chỉ là hạng loong toong.” Nash nói.

“Nghe thấy rồi nhé!” Diener oang oang nói vọng vào từ ngoài hành lang. “Anh mà sai và họ đúng là nạn nhân của 4MK thật thì các anh phải đá vụ này sang cho bọn tôi đấy!”

“Gã kia còn đỡ hơn một tí.” Porter nói. “Cộng sự của hắn, cái tên Stool, Drool, Mule* gì đó…?”

*Chú Thích:

Porter dùng những từ phát âm gần giống tên của nhân vật Poole với hàm ý châm chọc. Stool nghĩa là ghế đẩu, Drool: chảy dãi, Mule: con la.

“Poole. Frank Poole. Cũng loong toong nốt*, bên đây trăm thằng như một. Ê, thấy tôi gieo vần hay không?” Nash với tay ra định sập cửa thì Clair bước vào, cầm theo iPad. Kloz đi ngay đằng sau với chiếc laptop, bên trên là ba cái hộp trắng chất cao ngất ngưởng như sắp đổ. “Đỡ giúp tôi một tay nào.” Anh ta nói.

*Chú Thích:

Nguyên văn: Tool.

Nash nhón lấy cái hộp trên cùng và mang về bàn mình.

“Đừng có đi quá giới hạn với chúng.” Kloz nói bằng giọng thống thiết. “Tiêu chuẩn cả một tuần của tôi đây.”

“Cái gì vậy?” Porter hỏi.

“Ba tá bánh rán của tiệm bánh mới khai trương nằm cách đây một đoạn, tên là Peace, Love, and Little Donuts.” Clair giải thích. “Tên lỏi con này định khuân cả đống về làm của riêng, cho đến khi tôi giáo huấn cho hắn một bài về ý nghĩa cao quý của việc chia sẻ với đồng nghiệp.”

Kloz nhếch mép cười. “Có mà cô dọa nếu tôi không mang chúng xuống dưới này thì cô sẽ gửi e-mail cho cả Sở biết bàn tôi có bánh thì đúng hơn. Tôi sao có thể để mặc chúng trên tầng, không người chở che trước sự tấn công của lũ kền kền. Chúng sẽ bay biến sạch chỉ trong vòng một phút. Mà tất cả có mười tám cái thôi, mỗi hộp sáu cái chứ không phải mười hai.”

Nash mở cái hộp vừa chôm được, hai mắt tròn xoe. “Cha mẹ ơi, đẹp quá đi mất.”

Porter hốt luôn cái hộp thứ hai trong số đó và đem về bàn mình. Clair cuỗm nốt cái thứ ba.

“Này!” Kloz kêu lên. “Của tôi chứ!”

“Sao chúng bé tẹo thế nhỉ?” Porter hỏi, miệng nhồm nhoàm nhân kem.

Clair lấy một cái bánh trong hộp của mình và giơ lên nhìn. Vỏ bánh phủ một lớp Oreo xay nhỏ. “Đây gọi là tinh hoa ẩm thực đấy. Chẳng qua tay tôi đang vướng chứ không thì tôi đã làm dấu ngoặc kép*. Tiệm đó làm bánh cỡ nhỏ và bán như kiểu đồ ăn sang chảnh, đắt gấp đôi bánh rán thông thường. Nếu không vì chúng ngon quá thể đáng thì bọn họ đã sập tiệm rồi, nhưng mấy em này phải gọi là tuyệt trần. Ăn miếng nào chết cái mông tôi miếng ấy, cơ mà tôi mặc kệ.”

*Chú Thích:

Đây là một cử chỉ trong đó người nói làm động tác gập ngón trỏ và ngón giữa hai lần (mô phỏng dấu ngoặc kép) khi nói đến đoạn muốn nhấn mạnh hoặc có hàm ý mỉa mai.

Kloz ngồi vào chỗ quen thuộc của mình ở kế bên bàn họp. Anh ta áp cả hai tay lên mặt bàn bằng kim loại và chậm rãi hít một hơi để trấn tĩnh, mặt mũi đỏ gay lên. “Được rồi, mỗi người có thể lấy một cái, duy nhất một cái.”

“Tôi chén chắc phải đến bốn cái rồi.” Nash nói, lau sạch bằng chứng ăn uống trên mép. Anh nhìn xuống cái hộp vừa bị càn quét đang đặt trước mặt. “Chỗ còn lại tôi để dành.”

Mười phút sau, cả ba cái hộp đều sạch trơn, trừ một cái bánh rán phủ kem dâu còn sót lại. Porter bắt đầu cảm thấy tác động của lượng đường vừa nạp vào cơ thể. Anh đứng dậy, đi tới chỗ chiếc bảng trắng duy nhất còn lại, viết tên ELLEN REYNOLDS lên trên cùng.

“Là Ella Reynolds chứ.” Nash nhắc.

Porter ậm ừ, dùng mu bàn tay lau cái tên viết sai đi và thay bằng ELLA. “Nào, hiện tại chúng ta đã biết được những gì rồi?”

Clair nói: “Ella Reynolds được trình báo mất tích ngày 22 tháng Một và được tìm thấy vào hôm qua, 12 tháng Hai, trong tình trạng đông cứng dưới lớp băng ở đầm nước trong Công viên Jackson.”

“Không phải đông cứng.” Nash chen vào. “Ít ra là chưa hoàn toàn. Eisley bảo thế. Nhưng đầm nước thì đúng là đã đóng băng.”

“Ờ, xin lỗi.” Clair nói. “Thông tin từ phía công viên cho biết cái đầm đóng băng hoàn toàn từ mùng 2 tháng Một, hai mươi ngày trước khi cô bé mất tích. Ngoài ra, tôi đã phát hiện một chi tiết trong đoạn băng ghi hình mà chúng ta sẽ xem sau khi cập nhật tình hình lên bảng.”

Porter gật đầu. “Lúc được tìm thấy, quần áo mặc trên người Ella không phải là đồ của cô bé mà được cho là của cô bé thứ hai mất tích, Lili Davies.” Anh viết cái tên này lên bảng rồi quay lại bên cột đề tên Ella. “Lần cuối cùng có người nhìn thấy Ella là khi cô bé xuống xe buýt cách nhà hai khu phố, gần Quảng trường Logan, cách nơi thi thể được phát hiện khoảng hai mươi tư kilômét, khi đó cô bé mặc áo khoác màu đen. Tôi nghĩ chúng ta có thể khẳng định hung thủ đã dàn dựng hiện trường ở đầm nước sao cho giống như Ella đã ở dưới đó nhiều tuần, điều này là không thể nếu bộ quần áo cô bé mặc đúng là của Lili.”

Nash rời khỏi bàn mình, bước tới chỗ bàn họp phía trước tấm bảng và ngồi xuống. “Hắn làm thế để làm gì? Hắn tốn bao công sức dìm Ella dưới đầm băng nhưng lại mặc quần áo của Lili cho cô bé, giúp chúng ta xác định mốc thời gian cụ thể trong chuỗi sự việc. Thật là vô lý.”

“Nhưng với hắn thì lại hợp lý.” Porter nói. “Toàn bộ chuyện này đều hợp lý. Kể cả điều sau đây…”

Porter viết mấy chữ CHẾT ĐUỐI TRONG NƯỚC MẶN bên dưới tên của Ella.

“Có đùa không vậy?” Kloz nói.

“Eisley nói anh ta tìm thấy nước mặn trong phổi và dạ dày của cô bé. Anh ta khá chắc chắn nguyên nhân tử vong là do đuối nước.” Porter nói với Kloz.

“Chết đuối.” Clair nhắc lại. “Trong nước mặn.”

Nash bổ sung: “Đại dương gần nhất cách đây khoảng hơn một ngàn cây số.”

“Chúng ta cần đi điều tra ở các cửa hàng thủy sinh và đầu mối cung cấp trang thiết bị thủy sinh trong vùng.” Porter nói. “Tôi nghĩ có thể loại trừ khả năng hung thủ đưa nạn nhân ra tận ngoài biển. Thời gian quá eo hẹp.”

Clair lắc đầu. “Giấc ngủ ít ỏi không đủ để giúp tôi giải quyết một vụ như thế này.”

“Có lẽ mọi người đều đang nỗ lực hết sức mình.” Porter đồng tình. “Chúng ta đã biết được những gì về cô bé thứ hai, Lili Davies?”

Nash mở cuốn sổ tay ra xem. “Bố mẹ của cô bé là bác sĩ Randal Davies và Grace Davies. Cô bé chơi thân với Gabrielle Deegan. Học ở Học viện Wilcox. Lúc được nhìn thấy lần cuối, cô bé mặc áo khoác màu đỏ, theo như lời khai của bà mẹ - áo parka có mũ hiệu Perro, chất vải nylon màu đỏ chần quả trám. Ngoài ra, cô bé còn đội mũ len trắng, đeo găng tay trắng, mặc quần jeans đen và đi giày tennis màu hồng. Lili không đến được trường hôm qua, chứng tỏ rất có khả năng cô bé bị bắt cóc vào sáng ngày 12 tháng Hai. Bà mẹ khai rằng chính mắt bà ta trông thấy cô bé rời nhà. Lúc đó là khoảng bảy giờ mười lăm phút sáng. Giờ vào học là tám giờ kém mười, cô bé đi bộ đến trường.”

“Có đi cùng với ai không?” Porter hỏi.

Nash lắc đầu. “Mẹ cô bé nói trường chỉ cách đó bốn khu nhà, nên cô bé đi một mình.”

Kloz liếc đống hộp đựng bánh rán bằng ánh mắt buồn thiu, rồi bước tới bàn họp. “Bốn khu nhà thì cũng không xa. Như thế, kẻ bắt cóc cô bé sẽ không có nhiều thời gian để ra tay.”

Clair ngồi xuống cạnh Nash. “Đây là giả sử cô bé đi một mạch tới trường, mà điều này chúng ta không có cách nào xác thực. Cô bé có thể vô tình gặp người bạn nào đó trên đường và đi nhờ xe của họ. Tôi biết là chỉ cách vài khu thôi, nhưng ngày xưa cuốc bộ đi học, tôi vẫn xin quá giang suốt. Những ai sống ở gần trường đều hiểu, đám học sinh đi xe và đi bộ thường tụ tập ở bãi xe, nhiều đứa chơi ở đấy cho tới khi có chuông báo giờ vào lớp.”

“Tôi vào được chứ?”

Ba người ngước nhìn. Sophie Rodriguez đang đứng ở cửa. Porter nhận thấy cô vẫn mặc chiếc áo len màu nâu giống như lúc ở nhà Davies. Rất có thể cô cũng chưa được về nghỉ ngơi. “Xin mời.” Anh nói. “Cô ngồi đi, chúng tôi đang xem xét các thông tin thu được.”

“Ừm, Sam này?” Kloz nói, đưa mắt nhìn cô một lượt từ đầu đến chân. “Còn nhớ đã xảy ra chuyện gì trong lần gần đây nhất anh mời đối tượng lạ hoắc nào đó nhập hội không?”

Clair đập cho anh ta một phát vào vai. “Tôi quen biết Sophie gần bốn năm rồi. Cô ấy đã qua kiểm duyệt.” Cô ra hiệu mời Sophie ngồi vào chiếc ghế bên trái mình.

Sophie đặt túi xách ở gần cửa, cởi áo khoác rồi ngồi xuống chăm chú đọc những gì viết trên bảng. “Tôi biết mọi người đang điều tra với tư cách Đội Trọng án, và tính đến thời điểm hiện tại Lili vẫn đang thuộc diện mất tích, nhưng chúng ta đã xác định được mối liên quan rõ ràng. Có lẽ tốt hơn hết ta nên hợp tác với nhau, ít nhất là trong thời gian này. Cho tới khi nắm bắt được tình hình.”

“Chào mừng cô nhập nhóm, Sophie.” Porter nói.

Nash ném cho anh cái nhìn mệt mỏi, nhưng không nói gì.

Sophie đăm đăm nhìn những người có mặt trong phòng. “Ella cũng là một trong số trẻ em mất tích do tôi phụ trách điều tra. Tuy chúng ta luôn hy vọng điều tốt đẹp nhất sẽ đến, nhưng nếu sau hơn bốn mươi tám giờ mà vẫn không có tung tích gì của bọn trẻ, thường thì điều đó có nghĩa chúng đã bỏ nhà ra đi hoặc gặp chuyện chẳng lành. Hai cô bé đều có gia đình đàng hoàng, bởi vậy linh tính mách bảo tôi trường hợp này là “chuyện chẳng lành”. Lúc anh báo cho tôi biết tin về bộ quần áo, có lẽ anh đã giúp xác thực mối nghi ngờ đó của tôi. Tôi chỉ hy vọng chúng ta tìm được Lili trước khi quá muộn.”

“Cô cho bố mẹ Lili xem ảnh chụp bộ quần áo chưa?” Porter hỏi. Anh đã gửi bức ảnh đó cho cô qua e-mail lúc ở nhà xác.

Sophie gật đầu. “Bà mẹ xác nhận chúng là quần áo của Lili. Bà ấy nói chính tay mình đã viết hai chữ cái ấy lên mác của chiếc mũ.”

Porter viết mấy chữ MẶC TRANG PHỤC CỦA LILI DAVIES KHI ĐƯỢC TÌM THẤY bên dưới tên ELLA REYNOLDS trên bảng. Sau đó anh lại quay về phía cô. “Cô có thể cho chúng tôi biết thêm điều gì về Ella?”

Sophie chăm chú đọc tấm bảng trong giây lát. “Tôi đã đích thân đến hiện trường cách đây vài tuần, ngay sau khi cô bé mất tích. Cô bé xuống xe buýt cách nhà khoảng hai khu, gần Quảng trường Logan, nhưng bố mẹ Ella nói thỉnh thoảng cô bé tới cửa hàng Starbucks nằm trên đại lộ Kedzie để làm bài tập. Tôi đã lần theo cả hai con đường. Tôi đi từ bến xe buýt tới nhà cô bé mất khoảng bốn phút, từ bến xe buýt tới Starbucks là bảy phút, và từ Starbucks tới nhà cô bé là chín phút. Toàn bộ khu vực đó rất đông đúc, người qua lại liên tục. Tôi không hiểu làm thế nào có kẻ bắt cóc được cô bé mà không bị ai nhìn thấy.”

Nash hỏi: “Cô đã trao đổi với người quản lý Starbucks chưa?”

Sophie gật. “Tôi đưa ảnh Ella thì ông ta nhận ra nhưng lại không chắc chắn liệu cô bé có đến cửa hàng vào ngày hôm đó không. Cô bé thường trả tiền mặt nên tôi không thể truy xuất hóa đơn thẻ ghi nợ hoặc thẻ tín dụng.”

“Ở đó có camera giám sát không?”

“Có, nhưng cứ sau mỗi một ngày là hệ thống lại xóa đi. Họ không lưu băng ghi hình. Lúc chúng tôi đến thì đã chẳng còn nữa rồi.”

Kloz đằng hắng. “Hay cứ để tôi xem thử? Tôi chưa gặp hệ thống giám sát an ninh nào thực sự xóa hết băng ghi hình của ngày hôm trước. Nếu hệ thống đó lưu trên ổ cứng thì nhiều phân mảnh có thế vẫn tồn tại, dù người quản lý cho rằng đoạn băng không còn nữa.”

Porter gật đầu và viết lên bảng dòng chữ BĂNG GHI HÌNH Ở STARBUCKS (XÓA MỖI NGÀY?) - KLOZ. “Còn gì nữa không?”

“Chúng tôi đã kiểm tra máy tính và e-mail của cô bé, nhưng không phát hiện được điều gì bất thường.” Sophie nói. “Điện thoại di động cũng biến mất cùng cô bé. Máy được kết nối lần cuối với trạm thu phát sóng gần Quảng trường Logan, bốn phút sau khi xe buýt vào bến theo lộ trình thì mất tín hiệu.”

“Kloz?”

Kloz đã mau mắn gật đầu và ghi chú vào laptop. “Tôi sẽ kiểm tra cả chi tiết này.”

Porter quay sang Sophie. “Cô có tìm được gì trong phòng của Lili không?”

“Không có gì bất thường. Quần áo vứt lung tung. Không thấy thứ gì bị giấu ở các ngăn kéo hoặc dưới đệm, những nơi giấu đồ thông thường. Trên tấm gương có dán ảnh Lili chụp cùng một cô bé khác. Bà mẹ nói đó là Gabby, bạn thân của cô bé. Bố Lili nói cô bé sở hữu điện thoại di động và laptop, nhưng cả hai thứ đó đều không có trong phòng. Bà Davies cho rằng cô bé đã mang chúng đến trường, vì lúc đi học cô bé đeo ba lô.” Cô ngừng lại giây lát, đọc tin nhắn trên di động. “Chúng tôi đã kiểm tra kết nối di động của cô bé, nhưng máy đã tắt. Tôi vừa nhận được kết quả. Trạm thu phát cuối cùng thu được tín hiệu là trạm ở gần nhà cô bé. Tín hiệu mất hẳn lúc bảy giờ hai mươi ba phút. Tức là chỉ khoảng tám phút sau khi cô bé ra khỏi nhà.”

“Kloz, anh thử xem có tìm hiểu được gì từ các tài khoản mạng xã hội và e-mail của cô bé không nhé.” Porter nhắc.

“Rõ.” Kloz đáp.

Sophie rút từ trong túi xách ra một tập hồ sơ và rải những thứ bên trong lên bàn. Cô có ảnh của cả hai cô bé. “Diện mạo Ella và Lili có nhiều điểm tương đồng, điều đó cho thấy động cơ của hung thủ có thể liên quan đến yếu tố ngoại hình hoặc tình dục, nhưng bác sĩ pháp y nói rằng Ella không có dấu hiệu bị xâm hại. Tạm thời tôi vẫn chưa tin sự giống nhau giữa hai vụ chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên.”

“Có lý. Tôi xin phép nhé?” Porter nói và trỏ vào hai bức ảnh.

Sophie đưa cho anh, Porter dán chúng lên bảng. “Lili bao nhiêu tuổi?”

“Mười bảy.” Sophie đáp.

“Cả hai đều có tóc vàng, dài khoảng ngang vai. Mắt Ella màu xanh dương, còn Lili xanh lục. Hai cô bé hơn kém nhau hai tuổi. Ella học trường nào?”

Sophie lật sổ ghi chép. “Trung học Kelvyn Park. Cô bé học lớp Mười.”

“Có lý do gì để cho rằng hai cô bé quen biết nhau không?”

“Theo tôi biết thì không.” Cô đáp. “Hai đứa học khác trường, nhóm bạn cùng chơi cũng khác, lại chênh nhau hai tuổi. Cả hai đều không có ô tô.”

“Vậy còn phòng tranh?” Porter hỏi. “Có khi nào hai cô bé quen nhau ở đó?”

“Tôi chưa ghé qua phòng tranh. Mười giờ họ mới mở cửa.”

Porter gãi gãi má. “Theo tôi thì cô cùng với Clair tới trường một chuyến và thẩm vấn Gabrielle Deegan, bạn của Lili. Nash hay làm tụi nhỏ sợ.”

Nash nhoẻn cười. “Biết làm sao được, tôi vốn đáng sợ mà.”

Porter gật đầu với anh. “Anh và tôi sẽ ghé qua phòng tranh.”

“Thưởng thức tí nghệ thuật cũng vui.”

“Tôi sẽ nhắn địa chỉ cho các anh.” Sophie nói. “Nó nằm ở phố North Halsted.”

Porter đưa mắt nhìn tấm bảng. “Còn gì nữa không?”

Cả nhóm lặng thinh.

“Ta xem băng ghi hình nhé?” Clair hỏi.

“Ừ, cô bật đi.”

Clair gõ lên màn hình iPad rồi đặt ở giữa bàn. Đoạn băng đang tạm dừng. Góc máy cực kỳ tệ hại, chĩa xuống con đường nhỏ trải nhựa đen. Đồng hồ trên băng hình hiển thị 8:47 sáng ngày 12 tháng Hai.

Clair bấm nút chạy và đoạn băng chạy tiếp theo thời gian thực. Hai xe ô tô phóng qua, một chiếc Toyota vàng và một chiếc Ford trắng. Khi cái ô tô bán tải màu xám xuất hiện, Clair bấm tạm dừng. “Tôi sẽ cho chạy chậm lại.” Cô nói, đoạn băng tiếp tục chạy với tốc độ chỉ vài khung hình mỗi giây.

Khi phần cuối xe xuất hiện trong tầm ngắm, Porter đã hiểu ra. “Dừng ở đây.” Anh nói.

Chiếc xe bán tải kéo theo một cái bồn chứa nước lớn ở phía sau, loại bồn dùng để vệ sinh bể bơi.

“Trong công viên không có bể bơi, mà giữa mùa đông rét mướt thế này cũng chẳng mấy ai có nhu cầu làm vệ sinh bể bơi.” Clair nói. “Tôi nghĩ đó là cách hắn dẫn nước vào cái đầm.”

“Còn góc quay nào khác không?” Porter hỏi.

Clair lắc đầu. “Đây là cái camera duy nhất ở công viên.”

Kloz rướn người lại gần. “Tôi cũng không thể làm được gì nhiều. Hình ảnh rõ đấy, nhưng góc máy thì quá lởm.”

“Tua lại vài khung hình thử xem?” Porter gợi ý.

Clair bấm nút tua. Từng khung hình chạy ngược theo mỗi lần chạm.

“Dừng lại đi.” Porter nói. “Vết lóa kia là thế nào, mà sao góc quay tệ quá vậy?”

Camera chúc hẳn xuống theo chiều gần như thẳng đứng. Thông thường, camera sẽ chĩa về hai hướng xuôi theo con đường, đó là góc độ tối ưu để ghi lại hình ảnh ô tô đến hoặc đi.

Họ dừng băng ở đoạn cho thấy rõ nhất tấm kính chắn gió của chiếc xe bán tải, nhưng một vết lóa sáng trắng đã làm lu mờ hình ảnh bên trong xe.

Porter nhìn thấy bóng tài xế mờ ảo, nhưng không gì có thể giúp họ xác định được danh tính của người đó. “Kloz, liệu anh có phóng to và làm cho hình ảnh này rõ hơn được tí nào không?”

Kloz cắn đầu ngón tay cái. “Cũng có thể, không hứa trước được. Tôi sẽ thử.”

“Người quản lý công viên cho biết họ hiếm khi xem băng ghi hình. Họ lắp camera với mục đích hù dọa là chính. Có thể một lúc nào đó camera đã lỏng ra nên chúc xuống đất, hoặc là có người nới lỏng và cố tình chĩa nó xuống. Ông ta không biết chuyện xảy ra như thế nào hay từ bao giờ.” Clair giải thích. “Ông ta nói chiếc camera vốn chĩa dọc theo con đường để ghi lại hình ảnh ô tô cũng như tài xế từ đằng xa đi tới.”

Porter quay sang nhìn Kloz, nhưng anh chưa kịp lên tiếng thì Kloz đã xua tay. “Rồi, tôi biết rồi. Tôi sẽ xem lại các đoạn băng cũ để xem có xác định được sự việc xảy ra khi nào không, nhỡ đâu lại chộp được cảnh hung thủ tay cầm cờ lê, miệng mỉm cười trước camera.”

“Cũng có lúc chúng sơ suất chứ.” Porter nói.

“Ờ.”

“Có vẻ khả quan đây. Ít nhất chúng ta có thể biết được cái ô tô bán tải kia là của hãng nào, thuộc dòng xe nào. Nếu kiểm tra đối chiếu thông tin này với các công ty vệ sinh bể bơi, biết đâu ta lại gặp may.” Porter quay về phía cái bảng. “Còn ai muốn bổ sung điều gì không?”

Cả phòng lại im lặng.

Porter đậy nắp chiếc bút dạ đen rồi ngồi xuống bên bàn họp. “Tôi muốn tìm hiểu kĩ hơn về những vụ bắt cóc này. Hung thủ ra tay khá nhanh và xem ra không gặp khó khăn gì trong việc bắt hai cô bé ở nơi công cộng. Điều đó có nghĩa, hoặc là hắn giỏi ẩn mình trong đám đông, hoặc có thể hắn làm quen với nạn nhân từ trước để họ không cảm thấy sợ hãi. Hắn không thể bắt họ ngay trên phố rồi tống vào cái xe bán tải mà không bị ai để ý trong khi họ la hét, giãy giụa. Bởi vậy, bằng cách nào đó hắn đã thuyết phục được họ tự nguyện đi theo.”

“Có thể hắn sử dụng các phương tiện khác.” Nash nêu ý kiến. “Xe công ích hoặc xe van của công ty dịch vụ điện, nước, ga chẳng hạn. Loại nào không thu hút sự chú ý của những người xung quanh.”

Kloz xoay laptop lại để mọi người cùng xem. Trên màn hình là bản đồ chi tiết của thành phố Chicago và các vùng phụ cận. Có một chấm màu đỏ ở gần Quảng trường Logan, một chấm nữa tại Công viên Jackson, và chấm thứ ba ở đường King Drive thuộc khu Bronzeville. “Địa điểm xảy ra hai vụ bắt cóc nằm cách nhau khoảng mười sáu kilômét. Với một thành phố lớn như Chicago thì địa bàn hoạt động cỡ này quả là rộng. Công viên Jackson nơi thi thể Ella được tìm thấy thực ra lại gần nhà Lili hơn là nhà của chính Ella.”

Porter quan sát tấm bản đồ trong giây lát. “Vậy là nơi Lili bị bắt lại ở gần nơi tìm thấy Ella. Đây có thể là chi tiết quan trọng đấy.”

“Ella chết đuối trong nước mặn ư?” Sophie cau mày nhìn lên bảng. “Thật vô lý.”

“Bể bơi nước mặn thì sao?” Kloz gợi ý. “Như thế có vẻ khớp với chi tiết cái xe bán tải.”

“Thứ đó bây giờ đang là mốt à?” Nash nhíu mày.

Kloz gật. “Nhà bà cô tôi ở Florida có một cái. Bà ấy bị dị ứng với clo. Bể bơi nước mặn cũng ít phải bảo trì, không cần đo đạc các chỉ số hóa chất.”

“Bể bơi loại này ở Chicago chắc không nhiều đâu. Anh có tìm được không?” Porter hỏi.

Kloz đáp: “Có thể tôi sẽ tổng hợp được khi kiểm tra cơ sở dữ liệu giấy phép xây dựng.”

Porter chăm chú nhìn những gương mặt đang ngồi quanh bàn. Trừ Sophie Rodriguez ra, còn lại đều là những người anh quen biết đã nhiều năm. Anh lấy lại tờ báo ở bàn Nash và đặt lên bàn họp. “Mọi người cẩn thận với cánh phóng viên đấy. Có kẻ đang gí mũi hơi bị sâu vào chuyện của chúng ta và không ngại đưa ra đủ thứ suy đoán.”

Clair xoay tờ báo lại để đọc hàng tít. “Anh không nghĩ rằng trong chúng ta có người đã tiết lộ với báo giới chứ?”

Porter lắc đầu. “Tôi nghĩ bọn họ sẽ in bất cứ tin gì có thể giúp báo bán được. Và nếu không khai thác được gì từ chúng ta thì họ dựng chuyện để viết. Khi nào cả đội sẵn sàng, tôi mới đưa ra thông cáo. Từ giờ tới lúc đó, ngoại trừ tin báo mất tích của Lili, chúng ta tuyệt đối cấm cửa báo giới.”

Bầu không khí trong phòng bỗng trầm hẳn xuống. Sophie là người đầu tiên lên tiếng. “Không ai xử lý nốt cái bánh rán kia à?”

Kloz gục đầu xuống bàn và buông tiếng thở dài. “Cô lấy đi.”

BẢNG THỐNG KÊ BẰNG CHỨNG

ELLA REYNOLDS (15 TUỔI)

Được báo mất tích ngày 22 tháng 1

Được tìm thấy ngày 12 tháng 2 tại đầm nước trong Công viên Jackson

Đầm nước đóng băng từ ngày 2 tháng 1 (20 ngày trước khi mất tích)

Được nhìn thấy lần cuối khi xuống xe buýt gần Quảng trường Logan (cách nhà 2 khucách Công viên Jackson 24 kilômét)

Mặc áo khoác đen lúc được nhìn thấy lần cuối

Chết đuối trong nước mặn (tìm thấy trong nước ngọt)

Mặc trang phục của Lili Davies khi được tìm thấy

Đi bộ từ bến xe buýt về nhà mất bốn phút

Thường đến cửa hàng Starbucks ở đại lộ Kedzie. Đi bộ về nhà mất bảy phút.

LILI DAVIES (17 Tưổl)

Bố mẹ = Bác sĩ Randal Davies và Grace Davies

Bạn thân = Gabrielle Deegan

Học tại Học viện Wilcox (trường tư), không đến lớp ngày 12 tháng 2

Được nhìn thấy lần cuối khi rời nhà đến trường (đi bộ) sáng ngày 12 tháng 2 lúc 7:15, mặc áo parka có mũ hiệu Perro, chất vải nylon màu đỏ chần quả trám, mũ len trắng, găng tay trắng, quần jeans tối màu, giày tennis hồng (tất cả đều được tìm thấy trên thi thể Ella Reynolds)

Nhiều khả năng bị bắt vào sáng ngày 12 tháng 2 (khi đang trên đường đi học)

Thời gian gây án ngắn = 35 phút (đi học lúc 7:15 sáng, vào học lúc 7:50)

Trường chỉ cách đó bốn khu nhà

Mãi đến hơn 12 giờ đêm (tức sáng ngày 13 tháng 2) mới được trình báo mất tích

Bố mẹ tưởng con gái làm thêm (tại phòng tranh) sau khi đi học về (cả hai việc đều không xảy ra)

ĐỐI TƯỢNG TÌNH NGHI

Có thể lái một chiếc xe bán tải màu xám kéo theo một bồn chứa nước

Có thể làm công việc liên quan đến bể bơi (vệ sinh hoặc bảo trì)

PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

Băng ghi hình tại Starbucks (xóa mỗi ngày?) - Kloz

Máy tính, điện thoại, e-mail của Ella - Kloz

Tài khoản mạng xã hội, lịch sử cuộc gọi và tin nhắn điện thoại, e-mail của Lili (không tìm thấy điện thoại và laptop) - Kloz

Chỉnh rõ ảnh chụp đối tượng trong diện tình nghi lúc lái xe vào công viên - Kloz

Camera của công viên bị nới lỏng? Kiểm tra băng ghi hình cũ - Kloz

Tìm ra hãng xe và dòng xe của chiếc ô tô bán tải trong băng ghi hình? - Kloz

Clair và Sophie đi theo lộ trình đến trường của Lilithẩm vấn Gabrielle Deegan

Porter và Nash tới phòng tranh (quản lý = cô Edwins)

Lên danh sách các bể bơi nước mặn ở Chicago thông qua văn phòng cấp phép xây dựng - Kloz

Kiểm tra các cửa hàng thủy sinh và đầu mối cung cấp trang thiết bị thủy sinh trong vùng

n nó dù chỉ một lần trong bản báo cáo dài bốn mươi ba trang đánh máy.” Một kỹ thuật viên hiện trường tiến lại gần rồi lặng im đứng bên cạnh Đặc vụ Toàn quyền Hurless, chờ cho tới khi hai người tạm ngừng trao đổi. Họ đưa mắt nhìn cô, lúc đó
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.