Cái Chết Thứ Năm

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 133 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 50

❊ ❊ ❊

Poole

Ngày 3 • 11:02 sáng

“Thôi xong. Chuyến này tôi chết chắc rồi.” Vernon Bedard ngồi phịch xuống chiếc ghế gỗ sau bàn làm việc và chậm rãi thở ra một hơi dài. “Đúng ra tôi phải ghé qua kiểm tra tình hình cô ta vào thứ Tư tuần trước, kiểu chuyến thăm “bất chợt” ấy mà, nhưng tôi lại không đến được. Bận tối mắt tối mũi.”

Cán bộ quản chế của Libby McInley đã gọi điện lại cho Poole cách đây hơn một giờ, ông ta chờ anh và Đặc vụ Diener ở ngoài hành lang ủy ban Quản chế Người trưởng thành tại quận Cook, tọa lạc ở trung tâm thành phố, cách trụ sở cảnh sát không xa.

Bedard trông thấy họ ngay khi Poole vừa bước ra khỏi thang máy. Ông ta có vóc người mập lùn, hai bàn tay dày cộp, đeo cặp kính thậm chí còn dày hơn. Ông ta mặc áo sơ mi vàng và quần tây đen trông có vẻ bé hơn khoảng hai cỡ so với người. Ông ta dẫn họ tới phòng làm việc của mình ở tầng ba, căn phòng bé tẹo như cái hộp với độc một ô cửa sổ nhìn ra bãi đỗ xe. Những chồng hồ sơ chất đầy bàn và cả dãy tủ kê sát bức tường phía trong.

Trên bàn có đến ba cái dập ghim. Poole thấy mình không ngừng liếc nhìn chúng trong lúc nghe ông ta nói.

“Cô ta khiến tôi có dự cảm xấu.”

“Ông gặp cô ta lần cuối là khi nào?” Diener hỏi.

Bedard xoay người trên ghế, lục tìm trong đống hồ sơ khác trên cái tủ buýp-phê đằng sau lưng. “Đây rồi.” Ông ta quay lại và mở hồ sơ của McInley ra. Ngón tay cái rà xuống phía dưới tờ nhật trình đính kèm ở mặt trong bìa hồ sơ. “Ngày 9 tháng Một. Cô ta bình ổn và thích nghi tốt sau khi ra tù.” Ông ta đọc lên, giọng cứ nhỏ dần về cuối.

“Tôi thấy ông có vẻ ngập ngừng. Nhận xét đó không chính xác hay sao?” Poole hỏi.

Bedard ngả ra lưng ghế, tập hồ sơ vẫn cầm trên tay. Ngón trỏ khẽ búng tờ giấy nhớ màu vàng dán ở góc. “Vấn đề là thế này. Có nhiều trường hợp phạm nhân gặp khó khăn khi mới ra tù. Theo kinh nghiệm của tôi, con số năm năm hoặc lớn hơn có vẻ như là yếu tố bản lề. Khi phải ngồi tù từ năm năm trở lên, người ta sẽ dễ cảm thấy quen với nếp sống trong trại hơn là bên ngoài. Tôi nghĩ nguyên nhân là do những thói quen sinh hoạt theo lịch trình sẵn có, ví dụ như hằng ngày ăn trưa vào một giờ cố định, rồi cả giờ dạo chơi trên sân, giờ tắt đèn và bật đèn cũng thế. Càng ở lâu trong tù, nơi mà mọi việc đều do người khác làm chủ, họ càng trở nên lệ thuộc vào cách sống đó, ý chí của họ ngày càng thui chột. Điều này rất có ích khi họ ngồi tù. Theo thời gian, họ trở nên dễ bị kiểm soát hơn, nhưng đồng thời họ cũng quên mất khả năng tự lực cánh sinh. Khi được thả, một số người bị choáng ngợp trước vô vàn quyết định và lựa chọn. Những điều nhỏ nhặt mà chúng ta nghiễm nhiên coi là chuyện không cần phải nghĩ, chẳng hạn như việc ăn trưa ở đâu, khi nào, và ăn gì, có thể trở thành những rắc rối vô cùng nghiêm trọng.”

Poole rướn người về phía trước, chăm chú xem tờ nhật trình trong hồ sơ của Libby McInley. “Vậy nghĩa là cô ta không “bình ổn và thích nghi tốt sau khi ra tù”?”

Bedard nhìn hai đặc vụ trong giây lát. “Cô ta không được điểm nào trong hai điểm ấy. Tình hình cô ta rất tệ hại.”

“Thế sao ông lại viết ra câu đó?”

“Nhiệm vụ của tôi là giúp đỡ những người như cô ta làm lại cuộc đời ở bên ngoài song sắt. Cầm tay họ, hướng dẫn họ để họ học lại cách tự chăm lo cho bản thân, đồng thời tránh xa tất cả những cám dỗ và rắc rối đã đẩy họ vào vòng lao lý ngay từ đầu. Việc này không hề dễ dàng với cả đôi bên, tôi cũng như họ.” Ông ta đặt tay lên tập hồ sơ. “Hồ sơ những vụ do tôi đảm trách là thứ mà gần như bất cứ ai có quyền truy cập hệ thống cũng đều dễ dàng xem được, chứ không chỉ có cấp trên của tôi. Chẳng hạn như một số cơ quan - phần lớn là cơ quan nhà nước - hoặc những cán bộ hướng nghiệp, những người quản lý nhà ở xã hội, rồi cả cơ quan hành pháp nữa.” Ông ta liếc nhìn hai người. “Tôi chỉ cần viết một câu bất lợi trong hồ sơ của phạm nhân thôi là sẽ khiến người ta gặp rắc rối ngay, bất lợi đó sẽ đeo đẳng họ suốt một thời gian dài. Tôi mà nhận xét Libby McInley gặp khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống bên ngoài thì chẳng mấy chốc cô ta sẽ bị tước đi nhiều cơ hội học tập vì người ta cảm thấy phạm nhân quản chế khác xứng đáng hơn. Những cơ hội làm việc trong thời gian quản chế có thể không bao giờ đến lượt cô ta. Chẳng mấy chốc, cô ta sẽ không thể tiếp tục sống được ở ngoài này nữa.”

“Có phải ý nghĩa của tờ giấy nhớ vàng là như thế?” Poole hỏi. “Một kiểu mật hiệu để nhận biết tình hình thực tế, dù hồ sơ có viết thế nào đi nữa?”

Bedard gật đầu. “Màu xanh lục nghĩa là tốt, màu đỏ báo hiệu có vấn đề. Màu xanh dương cho thấy có thích nghi nhưng chậm.”

“Mảnh giấy của cô ta màu vàng.”

“Màu vàng nghĩa là cô ta muốn trở lại trại. Tôi từng gặp nhiều phạm nhân quản chế gây ra trọng tội rồi đến đồn cảnh sát gần nhất tự thú chỉ để được vào trại lần nữa.” Bedard liếc xuống tấm ảnh chụp Libby McInley trong hồ sơ. “Tôi đã hy vọng có thể đăng ký cho cô ta vào trung tâm hỗ trợ tái hòa nhập. Cô ta có tên trong danh sách chờ. Nếu cách đó vẫn không ăn thua thì có thể tôi sẽ yêu cầu cô ta tìm một, hai người ở chung. Đôi khi, việc tăng cường giao tiếp cũng có ích đấy.”

Poole thấy mình lại nhìn ba cái dập ghim. Anh cố ép bản thân tập trung sự chú ý vào người cán bộ quản chế. “Ông Bedard này, sau đây tôi sẽ hỏi ông một câu, và tôi muốn ông suy nghĩ thật kĩ trước khi trả lời.” Anh rướn người, tì cùi chỏ lên bàn. “Theo ông, Libby McInley muốn trở lại trại giam là vì cô ta không có khả năng tự lực cánh sinh và không thể tự chăm lo cho bản thân, hay vì cô ta sợ hãi thứ gì đó ở bên ngoài và cảm thấy an toàn hơn khi ở trong trại?”

Bedard cau mày. “Ý cậu là cô ta đang gặp nguy hiểm? Có thể có ai đó muốn làm hại cô ta?”

“Phải.”

Bedard hít một hơi thật sâu rồi chầm chậm thở ra. “Câu hỏi này thật khó trả lời. Cô ta không hề nói gì với tôi cả. Lần gần đây nhất gặp cô ta, tôi thấy cô ta có vẻ rệu rã. Cô ta cầm ly ra bồn rửa lấy nước cho tôi mà tôi thấy tay cô ta run rẩy. Mắt cô ta thâm quầng, sưng húp vì thiếu ngủ. Trông cô ta có vẻ gầy yếu, sụt cân, chắc do ăn uống không tốt. Nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy cô ta nghĩ rằng mình đang gặp nguy hiểm. Nếu thế thật thì chắc tôi phải nhận ra chứ. Tình huống này tôi gặp rất nhiều khi làm việc với dân găng tơ mà.”

“Ông có bao giờ lục soát nơi ở của đối tượng bị quản chế không?” Đặc vụ Diener hỏi.

“Tất nhiên là có, nếu như có lý do xác đáng.”

“Thế nơi ở của Libby McInley thì sao?”

Người cán bộ quản chế lắc đầu. “Cô ta vào tù là do đâm xe làm chết người rồi bỏ trốn. Không hề dính dáng đến ma túy hoặc vũ khí. Lúc ở trại, cô ta cũng luôn tránh xa những thứ đó. Xét nghiệm chất gây nghiện là việc bắt buộc đối với những đối tượng đang trong thời gian quản chế, và lần xét nghiệm nào của cô ta cũng cho kết quả âm tính. Tôi không có bất cứ lý do gì để lục soát nơi ở của cô ta. Hai cậu hỏi thế là sao? Cô ta dính vào chuyện gì à?”

Bedard cựa mình trên ghế.

Poole hiểu rõ ẩn ý trong câu hỏi của ông ta. Cô ta dính vào chuyện gì mà tôi lẽ ra phải biết à? Tôi gặp rắc rối đến đâu?

“Ông thấy cái tên Kalyn Selke có quen không?”

“Không.”

Diener nhoài người tới. “Ông chắc chứ?”

Bedard quay sang trái, tìm bàn phím máy tính bên dưới mấy tờ giấy ghi chép rồi gõ cái tên đó. “Tôi không nhận ra. Cô ta không nằm trong số đối tượng quản chế do tôi phụ trách. Mà tên cô ta cũng không có trong cơ sở dữ liệu.”

Poole nói: “Chúng tôi tìm thấy một bằng lái xe và một cuốn hộ chiếu trong nhà Libby, cả hai đều được đăng ký dưới tên Kalyn Selke, nhưng ảnh thì lại là của Libby McInley.”

“Đồ thật hay giả?”

“Thật.”

“Không dễ gì mà lấy được những giấy tờ đó.”

Poole nói tiếp: “Kalyn Selke thật đã chết từ năm lên bảy. Cô bé bị ô tô đâm khi đang đi xe đạp. Chuyện xảy ra từ hai mươi bốn năm trước.”

“Chắc là cô ta lấy được giấy khai sinh rồi dùng nó để xin hộ chiếu, sau đó lại dùng hai giấy tờ trên để xin bằng lái xe.” Bedard nói luôn những điều đang nghĩ trong đầu. “Nếu cô ta làm việc đó trong thời gian ngồi tù thì chứng tỏ cô ta có người giúp. Hay kể cả sau khi ra tù đi nữa thì cũng vẫn cần người giúp.”

“Điều gì khiến ông nghĩ thế?”

Bedard nhún vai. “Trò này thực ra phổ biến hơn cậu tưởng đấy. Như tôi đã nói lúc trước, làm lại cuộc đời là việc chẳng dễ dàng gì đối với những phạm nhân này. Một số cảm thấy mình có cơ hội tốt hơn khi bắt đầu lại với một nhân thân mới. Cách đây khoảng mười năm, có một tên thụ án chung thân ở Trại giam bang Ohio đã bị bắt quả tang điều hành đường dây làm nhân thân giả. Hắn tìm cách tiếp cận những phạm nhân sắp mãn hạn và mồi chài họ bằng cách vẽ ra cơ hội làm lại cuộc đời, sau đó gạ gẫm họ sử dụng dịch vụ của hắn. Nếu đồng ý, phạm nhân sẽ thu xếp nhờ người quen bên ngoài thanh toán cho anh họ của hắn cũng ở bên ngoài, gã anh họ kia sẽ làm giấy tờ, khi nào phạm nhân ra tù thì đã có nhân thân mới đang đợi sẵn. Không thể thực hiện được việc này từ trong trại, phải gọi điện rồi thư từ rất lằng nhằng. Cậu cần có địa chỉ thường trú để người ta gửi giấy tờ về. Họ không gửi cho cậu thông qua trại giam đâu.”

“Có lẽ vậy.”

Bedard gãi cổ rồi nhìn ngón tay mình. “Đường dây ở Ohio này ấy à? Nghe nói hằng năm bọn chúng thu về gần hai trăm ngàn đô nhờ làm nhân thân giả. Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên chút nào nếu ở Trung tâm Cải huấn Stateville nơi cô ta thụ án cũng có kẻ dám làm. Có thể trại giam nào cũng có người làm. Thậm chí nhiều người nữa là khác. Công nghệ càng phát triển thì nghề này càng được chuyên môn hóa, lời lãi thu được càng lớn.”

“Chúng tôi còn tìm thấy một khẩu 0,45 trong ngăn kéo chứa giấy tờ giả.” Diener nói.

Bedard thở dài. “Cũng có thể cô ta mua của chính gã đó luôn. Bọn chúng phục vụ theo yêu cầu, từ giấy tờ, vũ khí, cho đến kế hoạch đi lại. Chỉ cần có tiền thì muốn mua cho mình cuộc đời kiểu gì cũng được, tôi nghĩ vậy.”

Poole hỏi: “Cô ta có tiền không?”

Bedard xem lướt qua hồ sơ một lần nữa. “Bố mẹ cô ta đều đã mất. 4MK cũng cướp đi người em gái độc nhất của cô ta. Tôi không thấy ai đến thăm cô ta trong suốt năm ngoái. Nếu muốn tra các năm trước nữa thì hai cậu phải hỏi trại. Cũng không có cả danh sách lịch sử cuộc gọi. Theo những gì tôi thấy thì cô ta sống cô độc và tránh xa mọi rắc rối trong thời gian thi hành án. Cô ta sở hữu những tài sản gì trước khi vào tù?”

Diener cúi nhìn những ghi chú trong điện thoại. “Cô ta nợ mười hai ngàn đô tiền vay mua ô tô, bốn mươi tám ngàn đô khoản vay sinh viên, còn tài khoản vãng lai có ba mươi hai đô.

Số tiền này được ngân hàng trừ dần để nộp phí dịch vụ, cho đến khi tài khoản cuối cùng cũng bị đóng.”

Người cán bộ quản chế xòe hai bàn tay. “Câu trả lời của các cậu đấy. Không một xu dính túi. Có hai phương thức thanh toán được sử dụng trong nhà tù: tiền trao cháo múc hoặc chịu ơn. Nếu cô ta không có tiền trả, tôi sẽ điều tra lựa chọn thứ hai. Cô ta có thể đã đồng ý làm một việc theo yêu cầu của người nào đó sau khi ra tù để đổi lại việc được nhận nhân thân mới. Có thể là lấy mạng ai đó, vì thế mới cần đến khẩu súng kia.”

“Ông đã từng tiếp xúc với cô ta. Ông nghĩ cô ta có gan làm ra một việc như thế không?” Poole hỏi.

“Tôi nghĩ, sau vài năm ngồi tù, bất cứ ai cũng thành có gan hết, ngay cả một cô gái ngây thơ trong sáng ở vùng ngoại ô.”

Mười phút sau, hai đặc vụ đứng cạnh chiếc xe Jeep của Poole. Tuyết đã ngớt, giờ chỉ còn lác đác rơi, phủ khắp không gian một màu trắng toát. Poole lấy ống tay áo lau kính chắn gió. “Việc điều tra hàng xóm có kết quả gì không?”

Diener lắc đầu. “Thông tin cảnh sát tuần tra thu được là con số 0 tròn trĩnh. Tôi đã đi hỏi hai bên hàng xóm, mỗi bên bốn nhà. Khu đó chẳng lấy gì làm tử tế. Người duy nhất còn nhớ đã trông thấy cô ta là một bà già sống bên kia đường. Ngày nào bà ta cũng đứng mọc rễ bên cái cửa sổ lớn, thọc sâu mũi vào chuyện thiên hạ.” Anh ta liếc xuống điện thoại. “Tên là Roxy Hackler. Bảo trông thấy Libby cả thảy ba lần kể từ khi cô ta về sống. Hôm đó, một chiếc taxi chở cô ta đến cùng với một cái túi xách thể thao. Hôm sau, Roxy nhòm trộm thấy cô ta từ cửa hàng về, khệ nệ tay xách nách mang. Rồi đến tuần trước, bà ta bảo Libby có ra ngoài, đi đi lại lại trên vỉa hè trong lúc nói chuyện điện thoại. Bà ta thấy lạ là bởi thời tiết. Ai lại ra ngoài nghe điện thoại trong cái trời này chứ?”

“Có biết cô ta nói chuyện với ai không?”

“Không có chiếc điện thoại nào đăng ký dưới tên cô ta. Tìm ở nhà cô ta cũng không thấy.”

“Liệu căn nhà có bị gắn thiết bị nghe trộm không?”

Diener lấy chân hất một đụn tuyết đen nhẻm ở vỉa hè. “Chắc không đâu. Các kỹ thuật viên chẳng tìm được gì dù đã xới tung căn nhà từ trên xuống dưới mấy lần. Nhưng như vậy không có nghĩa cô ta không cho rằng nhà mình bị nghe trộm. Cô ta chẳng phải phạm nhân đầu tiên nghĩ rằng có người theo dõi hoặc nghe trộm mình sau khi ra tù.”

“Trong trường hợp này thì cũng có thể đấy.”

Diener phồng má thở hắt ra, làn hơi trắng xóa lơ lửng trong không trung. “Bishop chưa bao giờ quay lại nhắm vào thành viên thứ hai trong gia đình nạn nhân. Cô ta là trường hợp đầu tiên. Cô ta biết hắn sẽ đến nên tìm cách chạy trốn. Nhưng hắn vẫn nhanh chân hơn.”

Poole gật đầu. “Tôi cũng nghĩ vậy. Tìm ra lý do, chúng ta sẽ tiến đến gần hơn với việc tìm ra Bishop.”

“Vậy tiếp theo ta làm gì? Ở ngoài trời lâu, tôi lạnh sun vòi rồi đây này.”

“Tôi sẽ quay lại trụ sở cảnh sát. Cần phải xem nốt những thứ có trong cái hộp Bishop để lại. Hay là anh điều tra chỗ giấy tờ giả ấy đi? Xem Libby kiếm được chúng ở đâu. Cần phải biết kẻ nào giúp đỡ cô ta.”

“Ta có nên giám sát gia đình các nạn nhân còn lại của hắn không?”

Poole không biết phải trả lời câu hỏi ấy ra sao.

n nó dù chỉ một lần trong bản báo cáo dài bốn mươi ba trang đánh máy.” Một kỹ thuật viên hiện trường tiến lại gần rồi lặng im đứng bên cạnh Đặc vụ Toàn quyền Hurless, chờ cho tới khi hai người tạm ngừng trao đổi. Họ đưa mắt nhìn cô, lúc đó
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.