Poole
Ngày 3 • 1:18 chiều
A, các bạn của tôi!
Thật vui khi biết cuối cùng các bạn đã tìm được đến nơi này! Tôi đã hy vọng mình sẽ ở đây với các bạn khi thời khắc đó đến, nhưng trời ạ, việc ấy lại không thành hiện thực. Tôi được an ủi bởi sự thật rằng hộp tài liệu này đã tự tìm đến đôi tay đầy năng lực của các bạn, và vì tôi cũng chắc chắn các bạn sẽ trao nó cho bên cảnh sát kinh tế, để họ có thể bổ sung vào đống chứng cứ ngày càng dày thêm chống lại ông Talbot và công ty của ông ta. Tôi tin chiếc hộp này chứa đựng đầy đủ thông tin kết tội quan trọng, nhưng tôi e mình không thể chờ đợi cho đến lúc phiên tòa bắt đầu, nên tôi cứ tiếp tục và đưa ra bản án mà tôi tin rằng nó phù hợp với mức độ phạm tội này. Cũng như với đối tác kinh doanh lâu năm của ông ta, Gunther Herbert, ông Talbot sẽ sớm đối mặt với công lý, và ông ta sẽ phải giải trình cho những việc làm của mình. Hay tôi sẽ cho ông ta được hôn tạm biệt con gái lần cuối trước khi giã từ nhỉ? Có lẽ không. Cứ để họ nhìn thấy nhau đổ máu là hay nhất.
Người bạn chân thành của mọi người,
Anson Bishop
Poole vuốt phẳng các mép của tờ giấy, săm soi nét chữ viết tay, nét chữ rõ ràng, dễ đọc, vậy mà vẫn có gì đó đáng sợ lạ kỳ.
Lá thư nằm trong cái hộp được hai thanh tra Clair Norton và Brian Nash tìm thấy ở một căn hộ trống, vài ngày sau khi Bishop bắt cóc Emory Connors và vài giờ sau khi hắn bắt bố đẻ của cô bé, Arthur Talbot. Địa chỉ căn hộ có trong hồ sơ nhân viên mà Bishop đã chuẩn bị để hoàn thiện nhân thân giả và thâm nhập vào phòng thí nghiệm của bộ phận giám định hiện trường thuộc Sở Cảnh sát Chicago với tư cách Paul Watson. Bishop cố ý để cảnh sát tìm ra thông tin đó và đã dàn dựng một trong vô vàn kế hoạch nhằm đảm bảo rằng nó được phát hiện không sớm hơn và cũng chẳng muộn hơn thời điểm hắn lựa chọn. Hắn biết kiểu gì họ cũng sẽ lần ra địa chỉ căn hộ một khi vỏ bọc của hắn bại lộ, nhưng phải theo đúng tính toán của hắn chứ không được sớm hơn.
Poole đã lấy ra những thứ có trong hộp và xếp thành hàng ngay ngắn trên cái bàn gấp trước khi đến gặp cán bộ quản chế của Libby McInley.
Những tờ giấy được buộc lại thành chồng, có mười hai chồng cả thảy.
Bảy chồng đầu tiên chứa đựng các thông tin xoay quanh Arthur Talbot, đặc biệt là các giao dịch bất động sản và đầu tư tài chính của ông ta. Ban Điều tra Tội phạm Kinh tế của cả Sở Cảnh sát Chicago lẫn FBI vẫn đang bóc tách các chi tiết, nhưng tính đến thời điểm hiện tại, họ đã tịch biên khối tài sản có giá trị lên đến hơn năm mươi triệu đô la được cho là bắt nguồn từ các hoạt động tội phạm. Do quy mô của Tập đoàn Talbot quá lớn nên hầu hết tài sản đã bị đóng băng, tuy nhiên tòa cho phép các tài khoản kinh doanh của công ty hoạt động bình thường. Rốt cuộc, họ vẫn mong muốn giải quyết mớ rắc rối này mà không gây ảnh hưởng đến hàng ngàn việc làm hợp pháp do các công ty của Talbot mang lại. Quỹ tín thác của Emory Connors cũng còn nguyên vì hoàn toàn không liên quan đến Talbot, hẳn là theo yêu cầu của ông ta.
Poole đặt những chồng giấy ấy sang một bên.
Bốn chồng tiếp theo cũng liên quan đến Talbot nhưng mở rộng ra, bao gồm hai băng đảng tội phạm có tổ chức hoạt động trong phạm vi Chicago và các khu vực lân cận, ngoài ra còn có hai mươi ba cá nhân khác liên quan. Tội ác chúng gây ra trải dài từ đánh bạc, rửa tiền đến buôn bán ma túy, mại dâm. Kết quả số dữ liệu này mang lại là sáu vụ bắt giữ và sắp tới sẽ còn nhiều hơn.
Poole cũng tạm đặt chỗ tài liệu đó sang một bên. Chồng cuối cùng mới là thứ thu hút sự chú ý của anh.
Chồng này có khoảng ba trăm trang giấy, trang trên cùng có dòng kẻ màu xanh lục pha trắng với những dòng chữ bé xíu, nét chữ gọn gàng. Dòng đầu tiên có nội dung như sau:
163. WF14 2.5k. JM.
Đính kèm chồng giấy là một chiếc phong bì to màu nâu, bên trong chứa hai mươi sáu tấm ảnh Polaroid chụp các thiếu niên khỏa thân đủ kiểu, cả trai lẫn gái. Mỗi tấm đều được đánh số. Chữ viết trên đó không giống chữ của Bishop. Theo như báo cáo mà Thanh tra Nash đệ trình, chiếc phong bì này vốn không được buộc vào chồng giấy mà nằm ở dưới đáy hộp. Dù hai thứ rất có thể liên quan đến nhau, Poole vẫn muốn chứng cứ được đặt ở đúng vị trí ban đầu của chúng để giữ nguyên hiện trạng. Ghép hai thứ vào với nhau dựa trên suy đoán là việc làm bất cẩn và có thể dẫn đến những kết luận sai lầm.
Poole lướt ngón tay lên dòng chữ đầu tiên:
163. WF14 2.5k. JM.
Con số 163 được cho là số hiệu của một đứa trẻ cụ thể nào đó - nữ giới da trắng, mười bốn tuổi, được bán hoặc mua với giá 2.5K, nhiều khả năng là đô la nhưng cũng có thể là một loại tiền tệ khác. Bitcoin là lựa chọn phổ biến nhất của các đối tượng buôn người.
Poole hiểu khá rõ về Bitcoin. Loại tiền này đã trở thành cái gai trong mắt cơ quan hành pháp kể từ năm 2008, vì lũ tội phạm có thể tiến hành giao dịch qua mạng không khác gì tiền mặt mà không để lại bất cứ dấu vết nào giúp lần ra đối tượng và mục đích giao dịch.
Nếu con số đó đúng là 2.500 Bitcoin thì giá trị quy đổi sẽ là 2,6 triệu đô la Mỹ. Điều này có vẻ bất khả thi. Một thiếu nữ da trắng khỏe mạnh mười bốn tuổi thường được bán tại Mỹ với giá dưới 25.000 đô la. Chữ K đôi khi cũng được dùng để viết tắt cho Bitcoin. Nếu đúng thế thì 2.5K sẽ tương đương khoảng 2.600 đô la, khả năng này cao hơn nhiều.
Ý nghĩ con người có thể bị đem ra mua bán với bất cứ giá nào khiến Poole cảm thấy thật ghê tởm, anh phải cố xua nó ra khỏi đầu. Phải tập trung vào chứng cứ trước mắt.
163. WF14 2.5K. JM.
Đứa trẻ số 163, thiếu nữ da trắng mười bốn tuổi, bị bán hoặc rao bán với giá 2.600 đô la. Hai chữ viết tắt JM có thể là tên cô bé hoặc tên kẻ mua hoặc bán. Không có cách nào biết chắc được.
Poole xem qua đống ảnh Polaroid. Không tấm nào có số 163.
Ai đó đã ghép những tấm ảnh còn lại với những dòng chữ tương ứng; mảnh giấy ghi chú màu vàng được dán bên cạnh mỗi dòng như vậy. Mười chín cô bé, bảy cậu bé.
Poole đếm số dòng ở trang đầu tiên: hai mươi sáu. Với gần ba trăm trang giấy, điều đó nghĩa là có gần tám ngàn trẻ em được liệt kê ở đây. Không, phải nói là “có gần tám ngàn người được liệt kê ở đây” mới đúng. Nếu con số ở bên phải ký hiệu giới tính và chủng tộc thực sự là số tuổi, thì nhiều người trong số này còn lớn tuổi hơn, dù con số lớn nhất anh tìm thấy là hai mươi ba.
Chicago là thành phố có tỉ lệ tội phạm buôn bán người cao thứ ba trong cả nước. Những nghiên cứu gần đây ước đoán có ít nhất 25.000 nạn nhân sinh sống trong và xung quanh thành phố. Nếu danh sách này là thật thì nó đại diện cho gần một phần ba trong số những người đó. Poole không có lý do gì để nghi ngờ thông tin Bishop cung cấp. Những dữ liệu khác hắn đưa ra đều chính xác.
Cơ quan Điều tra nạn Buôn người tại quận Cook, Cơ quan Điều tra nạn Buôn người tại Chicago (CTTF), và Cơ quan Điều tra nạn Buôn người tại Illinois đều đã nhận được bản sao của số tài liệu trên, nhưng họ chưa đạt được tiến triển gì trong việc xác định chính xác ý nghĩa của những nội dung trong đó. Nếu tìm ra, những dữ liệu này có thể giúp triệt phá đường dây buôn người quy mô lớn chưa từng thấy trên nước Mỹ.
Poole đứng dậy, duỗi chân cho đỡ mỏi. Anh cầm lấy một tấm ảnh Polaroid và bước tới chỗ cái bảng trắng, giơ lên bên cạnh tấm ảnh tìm thấy ở nhà Libby McInley. Lúc đầu anh đã hy vọng chúng được chụp bằng cùng một máy. Điều đó đúng là hơi hão huyền, nhưng anh cần một mối liên hệ giữa chúng, một thứ gắn kết tất cả các mảnh ghép lại với nhau.
Những tấm ảnh này không được chụp bằng cùng một máy.
Kết quả phân tích cho thấy ảnh những đứa trẻ này được chụp bằng máy phim Polaroid 780 Turbo, trong khi tấm ảnh được tìm thấy ở nhà McInley lại được chụp bằng máy PX 680 Color Shade FF. Ngoài ra anh còn biết rằng máy ảnh Polaroid rất giống với họng súng. Mỗi máy đều để lại một dấu hiệu đặc trưng trong những tấm ảnh in ra, đó là một loạt đường kẻ cực kỳ mảnh mà mắt thường không thể phân biệt được, nhưng đủ để xác định những tấm nào được chụp bằng cùng một máy với sự trợ giúp của một chiếc kính hiển vi. Tất cả ảnh Bishop để lại trong chiếc hộp kia được chụp bằng cùng một máy. Từ số series in trong tấm phim có thể tra ra ngày sản xuất, nó cho biết những tấm ảnh này được chụp rải rác trong vòng hai năm, vào cuối thập niên 90.
Điện thoại của Poole đổ chuông, anh lê bước về bàn làm việc.
Diener gọi.
Anh nhấn nút nghe.
“Frank à? Tôi tìm được manh mối rồi. Anh nói quả không sai.”
“Vụ giấy tờ giả ấy à?”
“Ừ. Cơ quan Hộ tịch Illinois đã nhận được tờ khai xin cấp lại giấy khai sinh gửi qua cổng thông tin điện tử vào ngày 10 tháng Tư năm 2014, cách đây gần một năm.”
“Trong khi McInley vẫn đang ngồi tù.”
“Đúng vậy. Lá đơn được gửi bởi Kalyn Selke… ừm… kẻ nào đó mạo danh Kalyn Selke. Người này đã cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết như: tên bệnh viện sinh, quê quán, nhũ danh của mẹ, họ tên đầy đủ của bố. Phần lý do xin cấp ghi là “mất do hỏa hoạn”. Người đó thậm chí còn nộp cả giấy tờ tùy thân có ảnh Libby McInley nữa. Giấy tờ là giả, nhưng chẳng ai thèm kiểm tra. Giấy khai sinh cấp lại được gửi vào ngày 2 tháng Năm năm 2014. Sau đó gần một tuần, vào ngày 8 tháng Năm, tờ khai xin cấp hộ chiếu được gửi đi cùng với giấy khai sinh và ba hóa đơn tiền điện, điện thoại và truyền hình, tất cả đều của cùng một địa chỉ, chính là địa chỉ của người nhận các giấy tờ này: một tư gia tại khu Brighton Park. Bây giờ tôi qua đó đây.”
Ngực Poole thắt lại. “Nhắn cho tôi địa chỉ đi. Tôi sẽ gặp anh ở đó.”