Porter
Ngày 3 • 8:07 tối
Ứng dụng GPS phát âm báo nhắc họ rẽ phải, Sarah cho xe giảm tốc độ, đi theo tấm biển chỉ dẫn để đến Simpsonville.
Porter lại đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. “Tôi trông thấy Heather đứng bên cạnh cúi xuống nhìn tôi, sau đó mới thấy cộng sự của mình. Anh ấy đứng dậy khỏi chiếc ghế trong góc phòng. Khoảng một tiếng sau thì sếp tôi đến. Lúc đầu, mọi chuyện khá kỳ quặc. Tôi nhận ra cộng sự, nhưng lại không hề nhận ra có điều không ổn. Tôi nhớ tôi đã đuổi theo tên buôn ma túy, tôi nhớ tôi đã trúng đạn, tất cả vẫn còn rất mới. Heather hỏi tôi tên gì, tôi nhanh nhảu đáp tôi là tình yêu của đời cô ấy. Cô ấy hỏi tổng thống đương nhiệm là ai, tôi trả lời ro ro. Tiếp đó cô ấy lại hỏi thế tổng thống tiền nhiệm là ai, đến đây thì tôi chịu chết. Không gì diễn tả được cảm giác ấy, chỉ biết là cứ như có người đã dùng tẩy xóa mờ ký ức đó của tôi vậy. Tôi có thể hình dung ra khuôn mặt ông ta, nhưng tên thì không tài nào nhớ nổi. Và thế là loạt bài kiểm tra, xét nghiệm bắt đầu, nhiều vô số kể.”
“Một dạng mất trí nhớ à?”
“Chứng mất trí nhớ về trước* do tràn dịch não, họ gọi như vậy đấy. Khả năng vận động của tôi không bị ảnh hưởng, thật là may mắn. Phần lớn ký ức vẫn vẹn nguyên - từ thời thơ ấu, thời niên thiếu, thậm chí nhiều sự việc xảy ra trước đó chưa lâu, tất cả tôi vẫn nhớ, nhưng có những khoảng trống rất lớn, ký ức của mấy tháng, mấy năm liền tự dưng bốc hơi.” Anh ngừng lại giây lát, ngón tay gõ nhịp trên cửa sổ xe. “Heather từng yêu cầu tôi luyện tập bằng cách viết lại những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời theo trình tự thời gian, cố gắng xác định ngày tháng càng chính xác càng tốt. Hôm nào chúng tôi cũng tập, lấy một tờ giấy trắng và viết ra tất cả những gì tôi có thể nhớ được. Mấy ngày đầu, bản danh sách cứ dài ra sau mỗi lần tập. Tình hình tiến triển tốt. Nhưng được khoảng một tuần thì ngừng. Tôi không mất đi ký ức nào khác, chỉ có quãng thời gian ấy là vẫn trống rỗng. Các bác sĩ trấn an tôi rằng những ký ức bị lãng quên rồi dần dần sẽ trở lại. Một vài trong số đó có lẽ đã trở lại thật, nhưng đến tận bây giờ tôi vẫn còn quên nhiều lắm.”
*Chú Thích:
Hội chứng mất khả năng ghi nhớ những sự việc xảy ra trước thời điểm chấn thương.
“Heather đã cùng anh trải qua tất cả những điều đó sao?”
Porter gật đầu. “Cô ấy không nhận lời đi chơi chính thức với tôi chừng nào tôi chưa ra viện và trở lại nhịp sống bình thường trong ít nhất một tháng. Cả hai đều cảm thấy rung động, biết là có ý với nhau, nhưng hình như việc bệnh nhân nằm viện lâu ngày phải lòng người chăm sóc là chuyện thường xảy ra, cô ấy sợ rằng tình cảm giữa chúng tôi cũng giống thế thôi. Tôi biết là không phải, nhưng trong tình huống này, lời nói của tôi không có trọng lượng cho lắm. Chúng tôi vẫn gặp nhau hằng ngày để lên danh sách cho tôi - cô ấy gọi việc đó là “lên danh sách” - nhưng cô ấy quyết không chịu nhận lời chính thức đi chơi với tôi. Cuối cùng, khi cơ quan đồng ý cho tôi đi làm lại sau ba tháng kể từ ngày nhập viện thì cô ấy mới gật đầu, chúng tôi đi ăn tối rồi xem phim. Bộ phim hôm ấy chúng tôi xem là The Princess Bride*. Bốn tháng sau, chúng tôi kết hôn.”
*Chú Thích:
The Princess Bride (tạm dịch: Nàng dâu công chúa) là bộ phim hài lãng mạn và kỳ ảo do Mỹ sản xuất vào năm 1987.
“Anh không bận tâm khi mất đi một phần ký ức kia à?”
Porter nhún vai. “Những ký ức đẹp nhất của tôi là khi ở bên Heather. Tôi nhớ tất cả kỷ niệm chúng tôi đã có. Những thứ khác tôi không cần.”
“Thế còn công việc của anh ở Sở Cảnh sát? Quay lại làm tiếp có gặp khó khăn gì không?”
“Có, việc đó đúng là có chút khó khăn. Tôi đã không lường trước được. Ngoài một phần ký ức bị mất ra thì tôi không sao. Về mặt thể chất tôi vẫn bình thường, chỉ phải làm vài bài kiểm tra viết và khám sức khỏe, sau đó đi phỏng vấn, thế là lại tiếp tục lên đường xông pha, nhưng là với một cộng sự khác. Cộng sự cũ của tôi đã chuyển sang làm toàn thời gian bên đội phòng chống ma túy. Xét về khía cạnh nào đó, phát đạn ấy cũng lấy đi của tôi một thứ nữa. Charleston trong mắt tôi không còn được như xưa. Như thể thành phố đã trở nên đen tối hơn, xấu xa hơn đôi chút. Tôi luôn bất an mỗi khi đến gần cái ngõ nơi tôi gặp chuyện. Tôi bắt đầu cảm thấy nỗi lo lắng này có thể sẽ khiến tôi bị thương, khiến tôi sao nhãng không đúng lúc. Heather và tôi thảo luận về vấn đề này khá lâu, rồi chúng tôi quyết định chuyển đến Chicago, bắt đầu lại ở một nơi mới. Tôi xin sang đội tuần tra của Sở Cảnh sát Chicago, khi đội trọng án cần tuyển nhân sự thì tôi chớp luôn cơ hội. Khỉ thật, chuyện xảy ra cách đây lâu quá rồi, hồi ấy tôi vẫn còn trẻ lắm.”
“Hai người không sinh con à?”
“Chúng tôi có cân nhắc và nói chuyện với nhau không biết bao nhiêu lần, nhưng lần nào cũng cảm thấy chưa phải lúc thích hợp. Heather gần như là ngôi sao đang lên tại Bệnh viện Đa khoa Chicago, công việc của tôi ở Sở cũng suôn sẻ, thuận lợi. Mọi người thường hay tự nhủ để sang năm thì hơn, công việc đỡ bận bịu, tài chính ổn định, cứ vin vào đó để lần lữa mãi. Thế rồi chớp mắt một cái, nhìn lại thì đã quá muộn. Nhưng tôi không hối hận. Có lẽ tôi không muốn thay đổi bất cứ điều gì trong đời.”
“Ngay cả việc bị bắn vào đầu?”
“Ngay cả việc bị bắn vào đầu. Này, cô tấp xe vào kia đi.” Porter chỉ vào trạm xăng Stop-N-Go nhỏ ở đằng trước, bên phải đường.
“Để làm gì? Xăng vẫn còn đầy mà.”
“Mua đồ.”
Sarah giảm tốc độ rồi cho xe ra khỏi con đường cao tốc hai làn nhỏ hẹp và quành vào bãi xe rải sỏi. Một chiếc Ford bán tải cũ mèm đang đỗ trước cửa hàng. Ngoài nó ra, nơi này hoàn toàn vắng vẻ. Cô dừng lại bên cạnh cái xe bán tải và gạt cần số về chế độ đỗ. Cô giơ cuốn nhật ký lên. “Anh cứ đi đi. Trong này có vài chỗ tôi muốn xem lại.”
“Tôi sẽ quay lại ngay.” Anh tháo dây an toàn rồi xuống khỏi chiếc Sonata.
Chuông điện reo vang khi Porter đẩy cửa bước vào, nhân viên ở quầy thu ngân ngước lên nhìn anh một giây rồi lại cắm cúi đọc tạp chí Autotrader.
Cả cửa hàng chỉ có năm dãy kệ, Porter lượn qua từng dãy. Anh nhặt hai cái đèn pin, một vỉ pin cỡ trung, một hộp túi Ziploc, một hộp găng tay cao su, một máy ảnh kỹ thuật số rẻ tiền, và một túi snack Cheetos cỡ lớn. Anh mang tất cả ra và đặt lên quầy thu ngân.
Cậu thu ngân trông như chỉ mười sáu, mười bảy tuổi là cùng. Cậu ta có cái mụn to đùng ngự trên cái cằm ửng hồng, mũi quá bự trong khi mặt thì nhỏ. Cậu ta bỏ cuốn tạp chí xuống, gật đầu với Porter rồi bắt đầu quét mã hàng hóa. Cậu ta quét hộp găng tay đến lần thứ tư máy mới chịu nhận. Porter tự hỏi không hiểu cậu này có biết tính tiền không nữa.
“Tất cả là 23,48 đô.” Cậu nhóc nói và nhìn những món hàng một lượt. “Chú định mở phòng khám hậu môn - trực tràng à?”
“Trò phẫu thuật não không kiếm được mấy nên tôi tính đổi nghề.”
Porter đưa cho cậu thu ngân một tờ hai mươi đô và một tờ năm đô, sau đó anh tự bỏ đồ vào túi trong lúc cậu ta đếm tiền trả lại anh.
“Chúc chú buổi tối vui vẻ, bác sĩ.”
“Ừ.”
Khi vào xe, anh để lại túi Cheetos rồi bỏ chỗ đồ còn lại xuống dưới chân. Sarah giữ cuốn nhật ký trên vô lăng trong lúc đánh xe ra đường, ngón trỏ kẹp vào giữa để đánh dấu trang đang đọc dở.
“Cô đọc xong cả cuốn rồi mà chẳng nhận xét gì cả. Cô nghĩ sao?”
Cô thở hắt ra một hơi. “Tôi không biết phải nghĩ sao nữa. Phần nào trong tôi cảm thấy đứa trẻ đó cũng đáng thương. Nhưng rồi tôi nhớ đến tất cả những người bị hắn hại, những sinh mạng bị hắn cướp đi, và tôi tự nhắc mình nhớ rằng hắn là một con quái vật. Rồi còn mẹ hắn nữa. Bà ta bảo “Chuyện không phải như trong này viết đâu.” Vậy nghĩa là sao? Tất cả đều không phải á? Hay chỉ một vài phần? Chúng ta vừa trải qua chuyến bay hơn chín trăm cây số chỉ vì một phạm nhân viết một dòng địa chỉ vào cuốn sổ này đây.”
Porter không nói gì.
Cô thảy cuốn nhật ký vào lòng anh. “Cho tôi miếng Cheetos đi.”
Porter mở túi snack và đưa cho cô.
Sarah nhón một miếng bỏ vào miệng. “Nếu thân chủ của tôi thực sự đã gây ra một nửa trong số những việc được nhắc đến trong này thì sao?” Cô lắc đầu, liếm ngón tay. “Tôi không thể làm luật sư đại diện cho một người như thế được. Không đời nào.”
Giọng nói vang lên từ GPS nhắc họ đi thêm ba trăm mét nữa thì rẽ trái, vào đường Jenkins Bridge. Sarah bật xi nhan.
Lúc xe mới ra khỏi thành phố Porter đã thấy tối lắm rồi. Nhưng ở đây thậm chí còn tệ hơn. Xung quanh tuyệt không có bóng dáng ngôi nhà hay cái xe nào, chỉ toàn đường sá và bãi đất nông nghiệp.
Sarah rẽ trái, đường Jenkins Bridge tuy có trải nhựa nhưng vẫn rất khó đi. Cô đánh xe sang trái để khỏi sa vào một ổ gà to tướng nằm chình ình ở giữa, sau đó lại ngoặt gấp sang phải để tránh cái ổ gà kế tiếp. Hai bên đường, thiên nhiên đã bắt đầu giành lại đất đai từ tay con người, cỏ dại và cây cối mọc tràn lan, khiến vỉa hè nứt toác, xuống cấp trầm trọng. “HBT.” Sarah nói, cho xe đi chậm lại.
“Sao cơ?”
“Hóc bà tó.”
“Tôi không hiểu câu đó nghĩa là gì.”
“Nghĩa là chúng ta đang ở nơi khỉ ho cò gáy, và chỉ ba phút nữa thôi là tôi bắt đầu suy nghĩ lại về những lựa chọn gần đây của mình.”
GPS nhắc cô đi thêm ba mươi mét rồi rẽ trái. Sarah bật đèn chiếu xa. “Anh có thấy chỗ rẽ nào không? Vì tôi không thấy. Tôi chẳng nhìn thấy gì mấy.”
Porter nhoài người về phía trước. “Kia kìa. Ngay sau tảng đá to tướng kia.”
Sarah rẽ sang trái, con đường nhựa chuyển thành đường rải sỏi xen lẫn với cỏ. “Nếu anh giết tôi ngoài này rồi vứt xác tôi trong cái huyệt nông choèn nào đó, ít nhất hãy tìm cho cá của tôi một gia đình tử tế nhé?”
“Cô nuôi cá sao?”
“Một con thôi. Nó tên là Monroe. Cậu chàng rất biết lắng nghe và chỉ hay phán xét chút xíu.”
Bãi đất nông nghiệp dần nhường chỗ cho cây cối, nào sồi, dương đào, và các loài cây thường xanh. Rặng cây cao vút, cành lá vươn dài vắt ngang qua con đường nhỏ, cong queo, vặn xoắn vơi lên trời cao hệt như những ngón tay khẳng khiu đan vào nhau.
“Bạn còn cách điểm đến phía trước ba mươi mét.” Giọng nói trên GPS thông báo. “Địa điểm cần tìm nằm ở bên phải.”
Sarah nhíu mày. “Tôi chẳng nhìn thấy gì cả, anh thì sao? Anh có nghĩ bà ta nói dối không?”
“Tôi không biết phải nghĩ gì nữa.”
Ứng dụng GPS phát một giai điệu nho nhỏ vui tai, sau đó thông báo: “Bạn đã đến nơi.”
Sarah đạp phanh và dừng xe. “Ở đây chẳng có gì hết. Bà ta chơi chúng ta một vố rồi.”
Porter dõi mắt nhìn thẳng. Phía trước, con đường chạy thêm một đoạn ngắn rồi mất hút trong đám cây cối và bụi rậm um tùm. Nhìn quanh, anh không thấy gì ngoài rừng cây mọc san sát.
Porter tháo dây an toàn, mở cửa xe và bước ra ngoài trời đêm lạnh lẽo.
Sarah tắt máy rồi cũng xuống xe.
Sỏi lạo xạo dưới gót giày khi anh tiến đến bên vệ đường. Tất cả sức lực trong anh bỗng cạn sạch, vai anh thõng xuống. “Tôi đúng là thằng ngốc.” Anh nói. “Đáng lẽ tôi phải nhận ra ngay từ đầu chứ.”
Sarah đi vòng qua đầu xe, tới đứng cạnh và đặt tay lên vai anh. “Anh, là một cảnh sát tốt. Anh đã cố gắng lần theo đầu mối. Chỉ có điều, không phải lúc nào việc đó cũng mang lại kết quả.”
Chợt có thứ gì đó chạy vụt sang bụi rậm phía bên trái, cách hai người không xa. Porter ngoái lại thì thấy một cặp mắt sáng long lanh ngước lên nhìn mình. Cặp mắt bất động chừng một giây rồi mất hút trong bụi cây. “Cái gì thế kia?”
“Hình như là con gấu mèo.”
Porter đi sang trái vài bước. “Ý tôi không phải con vật…”
Anh đưa tay, với lấy một thân dây leo to, mọc trùm lên…
“Đó là hòm thư sao?”
Anh gạt đi đám cỏ dại và bụi rậm, để lộ ra cái cột chống xiêu vẹo và chiếc hòm với lớp sơn trắng nứt nẻ trên đỉnh cột.
Anh mắt anh dán chặt vào một từ viết bằng sơn đen đã phai màu trên thân hòm thư, khó mà nhìn rõ được dưới ánh sáng tù mù.
Bishop.