Porter
Ngày 2 • 9:08 sáng
“Anh không cần phải làm việc này đâu, Sam.”
“Có đấy.”
Anh nhấn chuông nhà Reynolds.
Hai người lái xe từ Sở Cảnh sát đến thẳng đây, bật cả đèn chớp. Trên đường đi Porter đã vượt đèn đỏ ít nhất ba lần.
Nash di di chân trong lúc đứng cạnh anh trên bậc tam cấp. “Sở có thể cử sĩ quan tuần tra đến mà.”
Porter xoa hai tay vào nhau. Thời tiết lạnh giá đang giết dần giết mòn anh. Do hiệu ứng phong hàn* nên nền nhiệt chỉ khoảng âm mười sáu độ. “Hơn chín giờ rồi. Có thể họ đã đọc số báo ra sáng nay. Chắc chương trình thời sự buổi sáng cũng đã đưa tin.”
*Chú Thích:
Tức cảm nhận về độ lạnh khi có gió thổi.
Porter nhấn chuông lần nữa.
Tấm rèm che ô kính bên trái cửa ra vào được vén lên trong thoáng chốc rồi lại buông xuống. Có người xoay chốt khóa. Cánh cửa hé mở. Một phụ nữ khoảng trên dưới bốn mươi lăm tuổi từ trong nhà nhìn ra, cặp mắt đỏ hoe thâm quầng, hai hốc mắt trũng sâu vì thiếu ngủ. Mái tóc nâu bết lại trông như nhiều ngày rồi chưa gội. Bà ta mặc áo len dày màu nâu và quần jeans. “Xin hỏi các anh cần gì?”
Porter trình phù hiệu ra. “Tôi là Thanh tra Porter, còn đây là Thanh tra Nash, thuộc Sở Cảnh sát Chicago. Chúng tôi vào được chứ?”
Bà ta nhìn anh chằm chằm, như thể phải mất một giây mới nhận thức được điều anh vừa nói. Sau đó bà ta gật đầu, mở rộng cửa trong lúc nhìn qua vai họ, ánh mắt hướng ra phố. “Có lẽ cái lạnh rốt cuộc cũng đã xua nốt cái xe van săn tin cuối cùng. Đêm qua bọn họ vẫn còn bám trụ ở đây.”
Porter và Nash giậm chân để giũ tuyết bám ở giày rồi bước vào trong nhà và đóng cửa lại. Bầu không khí nóng ấm vây lấy họ, cảm giác thật ngột ngạt so với bên ngoài. Nhưng Porter thấy chẳng hề gì. Có cho anh đứng trong lò lửa cả tiếng đi nữa thì ngón tay anh vẫn cứ tê cóng vì lạnh. Anh đằng hắng. “Chồng bà có nhà không?”
Bà Reynolds lắc đầu. “Nhà tôi chưa về.”
“Ông ấy đi đâu à?”
Người phụ nữ hít một hơi dài rồi ngồi lên tay vịn của chiếc xô pha da kê ở phía sau. “Nhà tôi lái xe đi loanh quanh tìm Ella suốt từ hôm con bé mất tích. Ông ấy chỉ tạt về nhà ăn uống và chợp mắt lấy vài tiếng rồi lại đi. Hồi đầu tôi cũng đi cùng vài lần, nhưng tôi cảm thấy thật vô vọng. Chúng tôi cứ rong xe khắp phố phường, như thể hy vọng sẽ nhác thấy bóng con bé chạy vụt qua giữa những ngôi nhà, chẳng khác gì chú chó vô chủ. Nhưng tôi cũng không thể bảo ông ấy đừng đi. Ông ấy sẽ đau lòng lắm. Thứ Ba tuần trước ông ấy đã cố gắng ở nhà, nhưng cả hai chúng tôi đều cảm thấy bức bối. Hôm qua, ăn tối xong ông ấy lại đi.”
“Chịu khó vận động thế cũng tốt.” Nash nói.
Bà ta ngẩn ra nhìn anh bằng ánh mắt vô hồn, sau đó tiếp tục nói. “Cả tuần đầu tiên tôi không làm gì ngoài gọi điện thoại. Tất cả bạn bè của Ella, người trong gia đình, hàng xóm láng giềng, bất cứ ai tôi có thể gọi được. Rồi cả nhà tình thương, bệnh viện, nhà xác… cứ phải ngồi một chỗ… chỉ quanh quẩn trong bốn bức tường, cảm giác… bất lực vô cùng. Nhưng tôi còn biết làm gì đây? Chúng tôi đã treo thông báo mất tích ở khắp nơi. Việc đó không mang lại hiệu quả trong thời tiết này. Chẳng ai muốn ra khỏi nhà trừ trường hợp bắt buộc.”
Porter hít một hơi dài. “Chuyện này nói ra thật không dễ chút nào…”
Bà Reynolds giơ tay lên ngắt lời anh. “Không cần đâu. Tôi đã xem trên bản tin thời sự buổi sáng rồi. Ba tuần nay ti vi nhà tôi không lúc nào tắt. Tôi có thiếp đi một lúc trên xô pha, tối qua lúc tỉnh dậy tôi thấy ti vi đang đưa tin về vụ việc ở công viên. Họ không trực tiếp nói đó là Ella mà chỉ bảo thi thể một cô bé vừa được tìm thấy dưới đầm nước. Nhưng người làm mẹ hết thảy đều biết. Có lẽ tôi đã biết từ nhiều tuần trước. Hình như tôi đã thấy anh trên ti vi. Trông anh quen quen.”
“Xin chia buồn với gia đình.”
Bà ta gật đầu, đưa tay lên quệt đôi mắt trông như thể đã không còn lệ để khóc con từ hai tuần trước. “Ella nhà tôi sẽ không đời nào bỏ đi, điều đó chúng tôi biết ngay khi hay tin con bé mất tích. Có lẽ kể từ lúc đó, cứ mỗi phút trôi qua, hy vọng trong tôi lại lụi dần. Một cô bé sao có thể biến mất dễ dàng đến vậy trong thế giới ngày nay, khi mà đâu đâu cũng có camera giám sát và Internet. Một cô bé biến mất không để lại bất cứ dấu vết gì thì nhất định là đã gặp chuyện chẳng lành.” Bà ta hít sâu một hơi. “Con tôi chết thế nào?”
“Chúng tôi cho rằng cô bé chết đuối. Chúng tôi vẫn đang chờ báo cáo chi tiết.”
“Chết đuối dưới đầm ư?”
Porter lắc đầu. “Không… mà là ở nơi khác. Cô bé chết đuối rồi sau đó mới bị thả xuống đầm.”
“Ý anh là, con bé bị chết đuối. Có kẻ đã hại nó, phải không?”
“Tôi e là vậy.”
Bà Reynolds chậm rãi đưa mắt nhìn xuống sàn nhà. “Tôi định hỏi anh xem con bé có phải chịu khổ sở gì không, nhưng có lẽ tôi biết trước câu trả lời rồi, và chưa chắc tôi đã muốn chính tai mình nghe thấy. Ý tôi là, có kẻ đã bắt cóc nó từ mấy tuần trước. Anh có biết con bé chết khi nào không? Có biết loại súc sinh đó đã làm gì con tôi suốt từng ấy ngày trời không?”
Nash cũng cụp mắt xuống. “Tạm thời chúng tôi chưa biết thêm được gì nhiều ngoài những điều trên. Chúng tôi đã hy vọng có thể báo tin cho ông bà trước khi…”
“Trước khi tôi biết tin từ nguồn khác? Các anh thật tử tế, chứ đám phóng viên kia thì…”
“Bà có cách nào liên lạc được với ông nhà không? Có lẽ chúng ta nên gọi cho ông ấy? Bảo ông ấy về?”
Một lần nữa ánh mắt bà ta lại trở nên vô hồn trong lúc ngẫm nghĩ về những điều Nash vừa nói. Porter đã từng chứng kiến điều này, biểu hiện xa rời thực tại. Với những người bị sang chấn tâm lý nghiêm trọng, đôi khi nhận thức của họ phần nào tách rời khỏi thực tại, như thể họ đang quan sát những sự việc diễn ra xung quanh hơn là tham gia vào. Bà Reynolds gật đầu, lấy ra chiếc điện thoại di động vùi trong tấm chăn trên xô pha. Vài giây sau, bà ta mấp máy ba từ hộp thư thoại rồi cụp mắt xuống sàn trong lúc để lại lời nhắn. “Floyd à? Em đây. Mình về đi nhé. Họ… cảnh sát đang ở nhà đây. Họ tìm thấy con gái chúng ta rồi.”
Bà ta cúp máy, sau đó lại vứt điện thoại lên xô pha.
Có tiếng cửa đóng sầm phía sau nhà, rồi một cậu bé đi vào phòng khách, để lại vệt tuyết dài trên sàn bếp. Mặc bộ quần áo chống rét màu xanh hải quân, đội mũ vành rủ màu vàng, quàng khăn, đi găng tay đen, trông cậu bé chắc chỉ khoảng bảy, tám tuổi. “Mẹ ơi? Có ai đó đã đắp người tuyết trên sân sau nhà mình.”
Bà Reynolds liếc về phía cậu bé rồi lại quay sang nhìn Porter và Nash. “Giờ không phải lúc, Brady à.”
“Con thấy hình như người tuyết bị thương.”
“Sao cơ?”
“Người tuyết đang chảy máu.”