Poole
Ngày 2 • 7:04 tối
Đặc vụ Frank Poole đỗ chiếc xe Jeep Cherokee màu đỏ của mình trước tòa nhà số 300 trên đường Mckeen ở khu Downers Grove, cách nhà 317 bên tay phải vài căn. Hồ sơ vụ án Barbara McInley đang để mở trên ghế phụ.
Đây là địa chỉ thường trú duy nhất được ghi nhận của Libby McInley, do cán bộ quản chế viết trong hồ sơ khi cô ta ra tù cách đây sáu tuần.
Đúng ra, anh không nên tới đây.
Anh hiểu quá rõ điều này.
Một chiếc Ford Taurus đời cuối thập niên 80 đang đỗ trên lối đi trước nhà. Hình thức chiếc xe cho thấy nó đã nằm đó một thời gian khá dài. Nước sơn có vẻ như là màu đỏ rượu vang đã bạc phếch hoặc cũng có thể là màu nâu, khó mà nhìn rõ trong khung cảnh tranh tối tranh sáng như thế này. Lối đi không có dấu chân, tuyết chất đống trên nóc xe. Thân xe đầy vết gỉ sét, lốp cũng xịt đi nhiều, chiếc xe bị vứt xó, chẳng được ai ngó ngàng hay nhớ đến. Những nhánh cỏ và cỏ dại nâu úa cao vút nhô lên khỏi lớp tuyết trắng tinh khôi, như thể mùa đông đang nỗ lực tìm cách giấu đi thảm cỏ nhếch nhác nhưng không thành. Ngôi nhà là kiểu nhà cấp bốn, chẳng theo phong cách nào, chỉ gồm mái nhà che trên bốn bức tường quây lại với nhau, bên cạnh có gara với sức chứa một xe. Lớp sơn trắng từ lâu đã không còn cố bám trụ trên tấm ốp tường, để những mảng gỗ sẫm màu lộ ra bên dưới chỗ sơn bong tróc. Phần mái cũng cần được thay thế, sụp hẳn xuống ở nơi có lẽ là phòng khách bé tẹo.
Những ngôi nhà quanh đó đã bắt đầu lên đèn, chỉ có nhà 317 vẫn im lìm trong bóng tối.
Mi nên xem thử một chút, một giọng nói cất lên trong đầu anh. Chỉ ngó qua thật nhanh rồi sau đó có thể lên đường. Nào có mất gì đâu, không hại đến ai, chẳng ma nào biết.
Poole đúng là cũng muốn ngó qua nơi này thật. Anh muốn hỏi chuyện cô ta. Porter nói phải. Có điều gì đó bất thường trong cái chết của em gái cô ta. Nó khiến anh bứt rứt không yên, và Poole biết nếu bây giờ không dám làm thì anh sẽ không ngừng nghĩ đến việc đó suốt hai tuần sau. Cách duy nhất để loại bỏ nó khỏi tâm trí là đến trước cửa ngôi nhà kia, nhấn chuông rồi nói chuyện với cô McInley một lúc.
Sau khi trao đổi với Porter, Poole đã tìm kiếm hết sức tỉ mỉ những thông tin xoay quanh Franklin Kirby, nạn nhân bị McInley tông chết rồi bỏ trốn. Nhưng kết quả là con số 0 tròn trĩnh. Danh tính ông ta được xác định nhờ tấm bằng lái xe cất trong ví. Hồ sơ của McInley có lưu một bản sao tấm bằng, nhưng trong cơ sở dữ liệu giấy phép lái xe lại không hề có bất cứ thông tin nào của ông ta. Số hiệu trên tấm bằng được cấp cho một phụ nữ tên là Lesley Carmichael, bốn mươi sáu tuổi, sống tại Woodlawn, chứ không phải Franklin Kirby. Libby McInley đã đâm chết một người đàn ông dùng danh tính giả, dù cho đó là cái tên Porter rõ ràng có biết.
Poole xuống khỏi chiếc Cherokee và bước ra ngoài trời gió rét khi bốn bề đã chìm trong bóng tối, đóng cửa xe rồi băng qua đường để sang nhà số 317. Cả vỉa hè lẫn lối đi lát đá trước nhà đều không được dọn sạch tuyết. Hiên nhà cũng bị che lấp dưới lớp tuyết dày ít nhất mười centimet. Anh đưa ngón tay đi găng lên nhấn chuông, nghe thấy hai tiếng chuông kính coong vang lên từ bên trong, và chờ đợi.
Không thấy ai ra mở.
Anh nhấn chuông lần nữa, ngoái đầu về phía lối đi.
Poole quay lại nhìn cửa trước.
Trong nhà không một tiếng động.
Không thấy đèn đóm gì cả.
Libby McInley có thể đã nhìn thấy anh nên tắt điện đi. Cô ta cũng chẳng phải phạm nhân đầu tiên có thái độ trốn tránh khi thấy cảnh sát tìm đến nhà sau khi ra tù. Trong hồ sơ của cô ta không ghi thông tin nghề nghiệp hiện tại. Có lẽ cô ta không có nhiều lý do để ra ngoài. Trời ạ, chính anh cũng không muốn đi đâu trong cái thời tiết này, trừ phi bắt buộc.
Anh gõ cửa, ba tiếng gõ vang lên khá to. “Cô McInley? Tôi là Đặc vụ Frank Poole. Tôi biết cô có nhà. Mau mở cửa ra.”
Anh chẳng biết cô ta có nhà thật không, nhưng cái chiêu cũ rích này vẫn thường mang lại hiệu quả.
Poole hà hơi vào hai bàn tay đeo găng. Anh có cảm giác như đang đứng trong bồn tắm chứa đầy nước đá. Làn hơi phả ra bay vào không trung rồi tan biến.
Poole xuống khỏi hiên nhà, bước qua bờ giậu thấp và gí sát mặt vào ô cửa sổ kính lớn. Tấm kính lạnh lẽo phủ đầy băng giá. Anh không thể nhìn thấy bên trong.
Nếu máy sưởi đang chạy thì mình sẽ cảm nhận được khi sờ vào kính, đúng không? Sao lại có người không bật máy sưởi trong cái thời tiết này được nhỉ?
Anh lùi lại và đi quanh nhà, vừa đi vừa cố nhìn qua từng ô cửa sổ. Nếu hàng xóm có ai đó trông thấy anh thì lúc này họ đang gọi 911 là cái chắc. Sang đến bên hông nhà, anh suýt ngã nhào khi vấp phải một chiếc xe đạp Schwinn cũ màu đỏ đã hoen gỉ, bị vùi trong đống tuyết to sụ. Tại đây còn có tàn tích của vài chậu cây cảnh đã chết từ lâu cùng với đoạn ống tưới nước cuộn lại, bị quên lãng khi đông sang.
Vòng ra phía sau, anh bắt gặp một khoảng sân lát gỗ. Chiếc bếp nướng BBQ hiệu Weber màu đen nằm lăn lóc trên sân như đang say ngủ, mấy cái ghế gấp ngoài trời chất đống xung quanh trông chẳng liên quan. Anh bước lên sàn gỗ, những tấm ván phát ra tiếng răng rắc dưới sức nặng của anh.
Có thể gỗ đã mục. Không khéo sụp xuống như chơi.
Anh thận trọng tiến tới cửa hậu.
Cánh cửa lưới đã bị rạch.
Một vết rạch thẳng, dài khoảng mười hai centimet, đủ để ai đó thò tay vào trong.
Đủ để mở cửa lưới, sau đó xử lý cái khóa kia bằng dụng cụ phá khóa.
Poole thử vặn tay nắm. Không khóa.
Anh thò tay vào trong áo khoác, mở bao và rút ra khẩu Glock 22, giữ súng ở ngang hông, họng chúc xuống. Trên nòng súng có gắn một chiếc đèn pin LED nhỏ. Anh dùng ngón trỏ gạt công tắc để bật đèn lên.
Anh đẩy nhẹ cửa. Nó không chịu nhúc nhích, kẹt cứng vì băng giá. Anh đẩy lần nữa, mạnh hơn. Cuối cùng, cánh cửa bật tung kèm theo tiếng va đập rõ to.
Điều đầu tiên anh nhận thấy là mùi, một mùi ngòn ngọt muốn lợm giọng của thứ gì đó đã biến chất, đã hư hỏng. Nó bốc ra từ bên trong, cảnh cáo anh chớ có đến gần, bảo anh hãy quay ra xe rồi lái về.
“Cô McInley? Đặc vụ Frank Poole đây. Tôi đang tiến vào đấy.”
Cánh cửa gỗ dẫn tới một nhà bếp. Poole lấy mũi giày đẩy cửa và dùng đèn pin trên nòng súng quét khắp phòng. Bát đĩa chất cao như núi cạnh bồn rửa, che kín mặt bàn bếp bên dưới. Khắp nơi la liệt hộp pizza, hộp các tông đựng món Tàu gọi về, lon soda rỗng và vỏ chai nước.
Máy sưởi không chạy.
Tiến lại chỗ bồn rửa, anh nhận thấy bát đĩa đã đóng băng thành một khối vững chắc. Một lớp băng tuyết mỏng phủ khắp căn phòng.
Mùi vẫn bốc ra từ bên trong.
Poole đi qua bàn làm bếp và bước vào phòng ăn nhỏ. Trên bàn rải đầy hộp và giấy tờ - những lá đơn xin việc kèm theo bản sao sơ yếu lý lịch, cái tên “Elizabeth McInley” được in bằng phông chữ đậm nét ở phía trên cùng. Ngoài ra còn có mấy tờ báo, hóa đơn chưa mở, quần áo gồm áo cánh và áo lót, tất cả đều bị vứt bừa bãi.
“Cô McInley? Cô có đang ở trong đó không?”
Hơi thở của Poole lơ lửng trong không gian lạnh lẽo. Anh trông thấy bộ điều nhiệt trên tường và liếc nhìn. Máy sưởi đã tắt, núm điều chỉnh đang để ở mức nhiệt thấp nhất.
Bên trái anh là ngưỡng cửa đang để ngỏ. Poole đi qua đó và đặt chân vào phòng khách nhỏ, lúc này cả súng và đèn pin đều chĩa thẳng để dẫn đường cho anh. Bên phải là cửa chính cùng với ô cửa sổ lớn mà vừa rồi anh đã cố nhìn qua, mặt trong cũng mờ tịt không khác gì mặt ngoài. Bên trái có một chiếc xô pha kê sát tường, đối diện với đó là chiếc ti vi nhỏ được đặt trên mấy thùng đựng sữa. Một cái bàn làm bằng ván sợi ép rẻ tiền kê phía trước xô pha. Có người đã gạt hết những thứ trên bàn xuống, nào là tạp chí, điều khiển từ xa, vài hóa đơn điện, nước, ga, cùng mấy tờ rơi quảng cáo.
Nằm ngay ngắn giữa bàn, cách đều nhau, là ba chiếc hộp màu trắng thắt dây đen. Vỏ hộp trắng tinh lấm tấm những đốm nâu và đỏ tươi, giống như bị bắn lên vậy.
Từ chỗ anh đang đứng, nhìn thẳng về phía trước sẽ thấy một phòng tắm nhỏ. Bên trái ti vi có một cánh cửa khác, hẳn là dẫn tới phòng ngủ.
Poole bước tới, đưa mắt quan sát phòng tắm. Chiếc bồn tắm màu trắng có vết ố bao quanh, bồn rửa dính đầy kem đánh răng khô cứng. Trên sàn có một cái khăn bông mốc meo bị vo viên và vứt sang một bên cạnh bồn cầu. Ai đó đã lau sạch một khoảng ở chính giữa tấm gương, hình bóng phản chiếu mờ mịt đáp lại ánh nhìn của anh.
Anh rời phòng tắm để quay ra phòng khách, khẩu súng lúc này chĩa vào cánh cửa phòng ngủ. Anh nhác thấy mấy cái hộp trên bàn qua khóe mắt. Anh cố không nhìn về phía chúng. Poole tiến lại gần cửa phòng ngủ đang để ngỏ, súng quét quanh, anh chọn cách tiếp cận trực diện thay vì áp sát tường và chậm rãi tiến vào từ bên cạnh. Ánh đèn loang loáng chiếu lên tường, cho thấy một cái tủ ngăn kéo cũ rích cùng với chiếc giường.
Một phụ nữ bị trói chặt tứ chi vào bốn góc giường. Quần áo bị cắt nát, những mảnh vải tả tơi vương vãi khắp sàn. Người cô ta chi chít vết cứa nhỏ, đỏ ửng, có đến hàng ngàn vết như thế, phủ kín từng centimet trên da. Cặp mắt đã không còn, thay vào đó là hai hốc đen ngòm. Miệng cô ta dính đầy máu khô. Poole biết rằng bên dưới mớ tóc dính bết, một bên tai cô ta cũng mất luôn rồi. Anh sẽ tìm thấy những thứ ấy trong mấy cái hộp kia.
Anh tháo đèn pin rồi cất súng đi.
Và cứ thế nhìn chằm chằm vào thi thể của Libby McInley.