Porter
Ngày 3 • 9:33 sáng
“Nói thật với ông anh nhé, trần đời chẳng ai đi nghỉ theo kiểu như ông anh đâu.” Hershel Chrisman nói vọng xuống từ ghế trước của chiếc taxi. “Khách du lịch mấy ai bén mảng đến khu này, mà kể cả có đi nữa, họ cũng chạy mất dép ngay. Thà chơi với mấy bà thầy tế juju* hoặc đám buôn thúng bán mẹt trên phố còn hơn dây vào lũ găng tơ quanh đây. Dân ở mấy khu này nghèo rớt mồng tơi, đến ăn ngũ cốc còn dùng dĩa để đỡ tốn sữa nữa là. Muốn vác súng đi bắn dạo mà cũng phải bắt xe buýt thì anh biết rồi đấy.”
*Chú Thích:
“Juju” là từ có nguồn gốc từ tiếng Hausa thuộc miền Bắc Nigeria để chỉ một loại hắc thuật, bùa chú, lời nguyền, được sử dụng chủ yếu ở các nước Tây Phi như Nigeria, Benin, Togo, Ghana…
Porter mỉm cười lần đầu tiên trong suốt hai ngày qua. Thoạt nhìn, khu này cũng đâu đến nỗi nào. Họ đang đỗ xe phía trước một loạt nhà thông cửa đã được chuyển thành văn phòng kinh doanh dọc theo đại lộ South Broad, một vài trong số đó giống hệt mấy văn phòng anh vẫn thấy trên đại lộ California ở Chicago, gần Trại giam quận Cook. Nào là văn phòng dịch vụ bảo lãnh, văn phòng luật sư, dịch vụ rút tiền mặt bằng séc. Ở Chicago, những văn phòng đó toàn chữ graffiti trên tường và chấn song trên cửa sổ. Còn tại đây, mỗi ngôi nhà giấu đi sự xấu xí của mình phía sau đôi nét hấp dẫn mang phong vị New Orleans: những lớp sơn sặc sỡ, những kiến trúc cầu kỳ; văn phòng dịch vụ bảo lãnh ở nhà bên thậm chí còn có cả hàng hiên với hai cái ghế mây cạnh cái bàn cao ngang đầu gối, sẵn sàng để ai đó ngồi nhâm nhi nước chanh vào buổi sáng. Chiếc taxi đỗ phía trước một ngôi nhà thông cửa sơn màu trắng và xanh lục đã được chuyển đổi thành văn phòng, trên cửa trước có tấm biển nhỏ đề dòng chữ: SARAH WERNER, LUẬT SƯ.
“Có lẽ phải chờ lâu đấy.” Hershel nói.
“Tôi không ngại chờ.”
Anh ta nhún vai. “Tùy anh thôi. Anh thấy khách sạn Lý Tưởng kia thế nào?”
Đêm qua, Porter nghĩ mãi mà không quyết định được điều gì tồi tệ hơn: ngủ bên dưới hay bên trên tấm chăn trong phòng khách sạn anh ở. Không khéo nhân viên dọn vệ sinh ghé qua phòng này lần cuối từ hồi Reagan vẫn còn là tổng thống cũng nên. Cả đêm anh cứ thế ngồi trên cái ghế gỗ lưng thẳng, chân gác lên bàn, tốt nhất cứ tránh xa cái sàn nhà ra là hơn. “Rất tuyệt, cảm giác khá giống ở nhà.”
Hershel cười hinh hích. “Tôi đã bảo chỗ đó tởm lắm mà không nghe.”
Bên kia đường có một người đàn ông từ trong ngõ đi ra, đến vỉa hè thì ông ta dừng lại cởi quần. Porter không đừng được, cứ tròn mắt nhìn ông ta vừa ung dung đi tiểu vừa huýt sáo một giai điệu anh không nhận ra, khi xong việc ông ta lại kéo phéc-mơ-tuya lên rồi đi vào ngõ, đưa tay che miệng trong lúc ngáp dài. Dưới bóng râm lạnh lẽo, ẩm thấp của con ngõ, Porter trông thấy ít nhất ba người khác đi lại và một người nữa đang nằm trên cái túi ngủ nhăn nhúm. Một chiếc hộp các tông lớn dựa vào bên thân cái thùng rác. Bên trong hộp thấp thoáng bóng người.
“Ông ta không phải người ở đây.” Hershel nói.
“Thế ư?”
“Dân New Orleans có thể không giàu nhưng chúng tôi biết tôn trọng thành phố, dù là khu vực bẩn thỉu nhất đi nữa. Nơi này là mảnh đất màu nhiệm.” Anh ta hất hàm về phía con ngõ. “Những người như họ không phải dân Louisiana chính gốc. Có lẽ ông ta chỉ là khách du lịch đi ngang qua rồi kẹt lại ở đây. Thành phố kiểu gì cũng đuổi họ đi thôi, tống cổ bằng sạch. Nơi này không có chỗ cho những hạng ấy.”
“Nhưng anh bảo tôi đây là khu vực tệ hại lắm và tôi không nên đến còn gì.”
Hershel phẩy tay. “Cái tệ hại thực ra không phải là bản thân khu này. Tôi hỏi anh, anh có nỡ bắn chết con chó mình nuôi chỉ vì nó có rận không? Phần này của con chó chẳng qua lắm rận hơn những phần khác, thế thôi.”
Một chiếc BMW đen với cửa kính tối màu tấp vào bên cạnh chiếc taxi và đỗ lại. “Xe luật sư đấy, nhìn qua là biết.” Hershel nói.
Porter quan sát cửa bên ghế lái mở ra. Một người phụ nữ có mái tóc nâu dài ngang vai, đeo cặp kính râm to sụ choán gần hết mặt bước ra, đưa mắt nhìn quanh khối nhà, sau đó đóng cửa xe và tiến về phía văn phòng.
Porter nhoài người lên ghế trước. “Của tôi hết bao nhiêu?”
Hershel liếc vào gương. “16,75 đô.”
Porter đưa cho anh ta tờ hai mươi đô và xua tay ra hiệu không cần trả lại tiền thừa.
“Có muốn tôi đợi ngoài này không?”
Porter nhìn người phụ nữ mở khóa cửa của văn phòng luật sư rồi bước vào và đóng cửa lại. Anh đưa cho tài xế mười đô nữa. “Đợi năm phút thôi, quá thời gian đó mà không thấy tôi ra thì anh cứ đi. Khi nào cần tôi sẽ gọi.”
Hershel cầm lấy tờ tiền và bỏ vào túi áo sơ mi. “Người đàn bà của anh hẳn phải đặc biệt lắm thì anh mới chịu hao tâm tổn sức đến vậy để tìm gặp. Đàn ông phần lớn sẽ bỏ thôi chứ mấy ai kiên nhẫn thế được. Hy vọng bà ta nhận ra anh đối tốt với bà ta biết chừng nào và cố mà nhớ lấy điều đó khi được phóng thích.”
Porter bước xuống taxi rồi vỗ nhẹ lên nóc xe một cái, sau đó quay người tiến về phía bậc tam cấp trước cửa văn phòng.
Tiếng chuông báo vang lên khi anh mở cửa và đi vào. Luồng khí mát lạnh từ điều hòa xối vào người anh, hệt như làn sóng ào đến. Anh không hề nhận ra ngoài trời oi bức đến thế nào dù mới sáng sớm ngày ra.
“Mời ngồi, xin cứ tự nhiên. Tôi ra ngay đây.” Một giọng phụ nữ cất lên từ bên trong. “Tôi vừa đến và đang chuẩn bị đun nước pha trà. Không có caffeine thì tôi không làm ăn gì được.”
Văn phòng có diện tích không lớn, chiều rộng chắc chỉ được ba mét, sâu khoảng bốn mét hai. Dù chủ nhà đã cố gắng sửa sang lại nơi này thành phòng làm việc, Porter vẫn có cảm giác như đang đứng ở sảnh của một ngôi nhà cũ hơn là văn phòng luật sư. Trần phòng cao vợi có phào chỉ bao quanh, mảng trần ở trung tâm được khảm những hoa văn cầu kỳ bằng thiếc. Lamri ốp kín chân tường xung quanh phòng. Bên phải anh có một cái lò sưởi nằm kế bên ô cửa sổ kính hoa chì cỡ lớn, đằng trước kê chiếc xô pha nhỏ và hai cái ghế. Chiếm trọn không gian bên trái là tủ sách âm tường với những cuốn sách trông cũng cũ kĩ chẳng kém gì ngôi nhà. Phía cuối phòng có một cái bàn viết bằng gỗ kiểu cổ cùng với hai cái ghế nữa, cả ba đều bị chất đầy sách vở giấy tờ bên trên. Đằng sau bàn là một ngưỡng cửa thông với lối đi sáng sủa. Tâm trí anh mường tượng ra hình ảnh ngôi nhà thuở xưa: phòng khách ở đầu nhà, chính là chỗ này đây, đi sâu hơn vào trong sẽ là căn bếp và phòng sinh hoạt gia đình phần nào lược bớt vẻ trang trọng. Anh tưởng như nghe thấy cả tiếng trẻ con í ới vọng từ đầu này đến đầu kia, những giọng nói ma mị, ám ảnh của một thời đã xa.
“Anh chị cứ dẹp đồ trên ghế trước bàn tôi mà ngồi. Bỏ hết xuống sàn cũng được.” Cô ta nói vọng ra từ phía cuối căn phòng. “Xin lỗi, hôm nay tôi không nghĩ là lại có khách.”
Ngôi nhà còn có cả tầng hai. Nhìn từ bên ngoài anh cũng nhận thấy được.
Anh tự hỏi không gian cơi nới ấy liệu có phải đã được sửa sang thành căn hộ vào thời điểm nào đó, và Sarah Werner có sống trên đó không. Cũng giống như mặt tiền sạch đẹp của ngôi nhà cũ chuyển đối thành văn phòng, nơi này xem ra chẳng mảy may chịu tác động của những kẻ đầu đường xó chợ ngoài kia, tựa như thánh địa bình yên nằm dưới đám mây đen phủ bóng lên khu vực này của thành phố, một thế giới khép kín nơi những thăng trầm của thời gian không thể chạm tới, lạc nhịp với mọi thứ đang diễn ra bên ngoài cánh cửa dày cộp và bốn bức tường thạch cao.
Porter băng qua phòng, tới chỗ cái bàn viết, nhấc chồng giấy tờ trên ghế này đặt sang ghế kia, rồi ngồi xuống.
Trên bức tường cạnh bàn treo mấy văn bằng được lồng khung kính. Cô Werner có bằng cử nhân của Đại học Perm State, tốt nghiệp trường Luật thuộc Đại học Pennsylvania ở Philly* năm 1998. Porter không học đại học mà gia nhập ngành cảnh sát không lâu sau khi tốt nghiệp phổ thông. Anh cũng đã định đi học để lấy bằng cử nhân tư pháp hình sự, nhưng sau khi hỏi thăm kinh nghiệm của một vài sĩ quan cảnh sát, anh nhanh chóng hiểu ra rằng cái bằng ấy chẳng mang lại cho anh lợi ích gì ngoài một đống nợ đè đầu. Nếu muốn thăng tiến xa hơn chức thanh tra, anh có thể phải học thêm một vài tín chỉ theo yêu cầu của ngành, nhưng anh không có tham vọng ấy, chưa bao giờ. Những người chức vụ cao hơn anh thường phải gánh trên lưng cả núi áp lực, ngày ngày ngồi một chỗ vò đầu bứt tai xử lý đủ thứ việc liên quan đến ngân sách và nhân sự. Trí não anh đòi hỏi những thử thách có được bằng cách lăn lộn ngoài thực địa.
*Chú Thích:
Tức Philadelphia.
“Rất xin lỗi vì đã bắt anh phải đợi.”
Porter quay sang thì thấy một người phụ nữ đang đứng trên lối đi phía sau bàn, hai tay cầm hai cốc trà bốc khói nghi ngút.
“Tôi pha cho anh một cốc đây.” Cô bảo. “Không thì có vẻ bất lịch sự quá, hơn nữa tôi cũng chẳng thích uống một mình.” Đôi mắt nâu của cô lấp lánh, ánh lên vẻ tinh nghịch khi cô nói ra câu ấy. “Ôi, nhưng tôi quên không hỏi anh thích pha thêm sữa hay đường.”
Porter đưa tay đón lấy chiếc cốc. “Thế này là ngon lắm rồi, cảm ơn cô.”
Cô nói giọng hơi lơ lớ, tuy đã được luyện tập nhiều để phát âm chuẩn hơn nhưng nghe kĩ vẫn thấy. Giọng địa phương thì không phải, giọng Cajun* cũng không.
*Chú Thích:
Người Cajun là hậu duệ của những người Canada gốc Pháp định cư tại Acadia (nay là tỉnh bang Nova Scotia và các vùng phụ cận thuộc Canada).
Sarah Werner mỉm cười đưa cho anh chiếc cốc rồi duyên dáng ngồi xuống ghế phía sau bàn, hai tay nâng cốc trà lên môi. Cô mặc chân váy vest màu xám đậm, đôi tất đen ôm lấy cặp chân thon dài đã bị ánh mắt tội lỗi của Porter liếc thấy trước khi mất hút dưới gầm bàn. Anh lại đưa mắt nhìn mấy tấm bằng treo trên tường và nhẩm tính. Nếu cô vào đại học ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông thì bây giờ cô khoảng bốn mươi lăm tuổi, trẻ hơn anh chừng mười tuổi. Nhìn cô, anh chẳng thể nào đoán được điều đó. Nếu tình cờ gặp cô trên phố, có lẽ anh sẽ cho rằng cô chỉ tầm ba mươi lăm là cùng. Ngoài mấy vết chân chim rất mảnh nơi khóe mắt, làn da cô đẹp không tì vết. Mái tóc nâu xõa xuống vai cô theo những nếp sóng mềm mại. Anh ngửi thấy mùi tử đinh hương thoang thoảng đâu đây.
“Có lẽ tôi nên hỏi anh là ai nhỉ.” Cô nói và mỉm cười.
Porter kéo tâm trí trở về với thực tại. “Xin lỗi, mấy ngày vừa qua vất quá.” Anh đưa cho cô danh thiếp của mình. “Tôi là Thanh tra Sam Porter thuộc Sở Cảnh sát Chicago.”
Cô chăm chú đọc nó trong giây lát rồi đặt xuống góc bàn. “Sát nhân Bốn Con Khỉ phải không?”
“Cô biết vụ đó ư?”
Cô đặt danh thiếp của anh lên trên một xấp gần chiếc điện thoại. “Tôi là luật sư bào chữa tội phạm hình sự, Thanh tra ạ. Chẳng giấu gì anh, niềm hứng thú của tôi đối với ngành tâm lý tội phạm có lẽ đã gần chạm ngưỡng ám ảnh rồi. Tôi cố gắng theo dõi thật sát sao tất cả những vụ án nghiêm trọng. Tôi có thể giúp được gì cho anh? Anh có cho rằng hắn đã xuống tới New Orleans rồi không?”
Porter nhấp một ngụm trà rồi đặt cốc lên bàn. “Những gì tôi sắp cho cô xem, cô phải coi đó là bí mật giữa hai chúng ta. Cô không được phép nói với ai, hiểu chứ? Chúng tôi chưa công khai chi tiết này và không thể để rò rỉ thông tin vào thời điểm này được.”
“Dĩ nhiên rồi.”
Porter thò tay vào túi áo khoác, lấy ra bức ảnh, đặt lên bàn rồi xoay lại để cô xem được rõ hơn.
Ánh mắt Sarah dán chặt vào mắt anh trong giây lát, sau đó cô nhìn xuống bức ảnh. “Đây là…?”
“Thân chủ của cô, phải. Tôi tin là thế.”
“Nhưng bà ta thì có liên quan gì đến sát nhân Bốn Con Khỉ?”
Porter lật bức ảnh cho cô xem dòng chữ viết tay ở mặt sau.
“Tôi nghĩ tôi tìm được bà ấy rồi. B.” Sarah đọc to. Cô nhíu mày và lại đưa mắt nhìn anh. “Tôi không hiểu. Tìm được ai cơ?”
“Đây là nét chữ viết tay của Anson Bishop. Hắn tin rằng thân chủ của cô là mẹ hắn.”
Nét mặt cô vẫn giữ nguyên vẻ trung dung. “Thế anh nghĩ sao?”
Porter nhún vai. “Tôi không biết phải nghĩ sao. Tạm thời tôi chỉ đang lần theo một đầu mối mà thôi. Cô có thể cho tôi biết điều gì về bà ta?”
Sarah đẩy trả bức ảnh về phía anh rồi rút từ trong chồng giấy ở bên phải ra một tập hồ sơ màu nâu. Cô mở hồ sơ, để lộ một tấm ảnh chân dung chụp khi bị bắt kẹp ở bìa trái và một xấp tài liệu được buộc gọn ở bên phải.
“Jane Doe số 2138. Ngoài bí danh đó và danh sách tội trạng bị truy tố, tôi không biết gì về bà ta cả. Tôi đã gặp bà ta hai lần, nhưng bà ta chưa từng nói một câu nào.”
“Không nói ngay cả với cô ư?”
“Ngay cả với tôi.”
“Một quản giáo ở trại giam kể với tôi là bà ta chỉ định đích danh cô. Cái tên duy nhất bà ta nói ra là tên cô.”
Lần này đến lượt Sarah nhún vai. “Và tôi hoàn toàn không rõ lý do. Không hiểu nhờ đâu mà bà ta biết đến tên tôi nữa. Tôi cho đăng kha khá quảng cáo trong vùng, vậy nên nhiều khả năng bà ta đã từng xem danh thiếp hoặc tờ rơi của tôi. Có thể bà ta nghe nói tôi nhận bào chữa miễn phí. Có thể bà ta chọn ngẫu nhiên khi thấy tên tôi trong niên giám điện thoại, ai mà biết được. Lần đầu tiên gặp bà ta, tôi đã giải thích rằng bà ta có thể yên tâm nói với tôi mọi chuyện. Những gì hai chúng tôi trao đổi với nhau sẽ không bị báo cáo lại hoặc tiết lộ với người khác. Tôi đã trình bày một bài hết sức đầy đủ về nghĩa vụ của luật sư trong việc bảo mật thông tin khách hàng. Chúng tôi ngồi đó suốt ba mươi phút, thế mà bà ta chỉ nhìn tôi chằm chằm.” Cô nhấp một ngụm trà rồi nói tiếp. “Lần thứ hai xuống trại, tôi xem lại các tội danh bị truy tố và giải thích cho bà ta hiểu mức độ nghiêm trọng của những cáo buộc. Bà ta vẫn im như thóc. Có điều, bà ta đã ký giấy ủy quyền để tôi làm người đại diện hợp pháp, thế nên tôi biết những điều tôi nói bà ta đều hiểu cả. Tôi biết bà ta biết chữ, chẳng qua bà ta không chịu nói thôi.”
“Bà ta đã ra tòa lần nào chưa?”
Sarah đảo tròn mắt. “Phiên xử đúng là một màn trình diễn tệ hại. Thẩm phán Kobrick đã chứng kiến đủ thứ chuyện xảy ra ở thành phố này rồi, và ông ấy không thích giỡn chơi. Ông ấy dọa sẽ coi như bà ta đã nhận tội khi bà ta không chịu mở miệng trong buổi tuyên đọc cáo trạng. Tôi đã thuyết phục ông ấy hoãn phiên xử lại hai tuần. Theo lịch, chúng tôi sẽ phải ra tòa lần tiếp theo vào ngày 19 tháng Hai, như thế tôi chỉ còn chưa đến một tuần để giải quyết mớ bòng bong này. Hôm nay tôi sẽ xuống trại, nếu bà ta vẫn không chịu nói thì có khi tôi đành phải nhờ chuyên gia tâm lý can thiệp.”
“Tôi có thể khiến bà ta mở miệng.”
Sarah uống nốt cốc trà, chầm chậm xoay chiếc cốc bằng những ngón tay mềm mại, móng tay được chăm chút cẩn thận. “Sau đó thì sao? Gán cho bà ta tội gì đó ở tận Chicago ư? Tôi không nghĩ điều ấy có lợi cho thân chủ của tôi đâu.”
“Mục tiêu nhắm đến của tôi không phải bà ta, mà là con trai bà ta.”
“Điều gì khiến anh nghĩ rằng bà ta biết hắn đang ở đâu? Kể cả biết đi nữa, tại sao bà ta phải nói với anh? Tôi nghĩ trên đời chỉ có một bản năng duy nhất mạnh mẽ hơn cả bản năng tự bảo vệ.” Sarah nói. “Ấy là bản năng bảo vệ con của người làm mẹ.”
“Tôi có thể khiến bà ta mở miệng. Tôi có thể giúp được cô.” Porter nhoài người qua bàn. “Làm ơn, cho tôi gặp bà ta.”
Cô mỉm cười, gấp tập hồ sơ lại, cuối cùng cô gật đầu. “Thôi được.”