Poole
Ngày 3 • 9:55 tối
“Mẹ của Bishop ư?” Poole nhíu mày.
Klozowski gật đầu. “Bà ta có quan hệ tình cảm với Kirby. Bà ta chưa bao giờ bị bắt. Ai mà biết được? Ngón tay và ngón chân Libby bị cắt cụt, đó có thể là một hình thức báo thù. Xẻo tai, cắt lưỡi, móc mắt, rồi bỏ vào ba cái hộp trắng nho nhỏ… bắt chước thủ pháp đặc trưng của Bishop đâu có khó gì.”
“Mấy cái hộp trắng ấy có cùng loại với hộp Bishop dùng trong những vụ giết người trước đó không?” Clair hỏi.
Poole gật. “Có, giống hệt.”
“Nếu mẹ Bishop đang nhởn nhơ ngoài kia, ai mà biết bà ta có thể làm ra chuyện gì. Cứ xem tất cả những thông tin con trai bà ta thu thập được, tôi thấy chẳng có gì quá khó tin khi bà ta kiếm được cái hộp y hệt.” Nash nói. “Bà ta có thừa khả năng, nhờ số tiền “khủng” mà chồng của Carter cuỗm được từ Talbot.”
Poole đi đi lại lại giữa mấy tấm bảng và bàn họp. “Hôm chúng tôi đến căn hộ của Porter, anh ấy có nêu ý kiến rằng vụ sát hại McInley không giống những vụ còn lại. Anh ấy nói Bishop dường như có chút để tâm hơn đến cô ta, rằng cô ta là người duy nhất có tóc vàng trong số các nạn nhân.”
“Điều đó tôi vẫn nhớ.” Clair nói. “Bishop đứng lại một giây, nhìn chằm chằm vào ảnh cô ta. Nói đó là điểm bất thường, trích nguyên văn lời hắn.”
Poole chậm rãi tiến tới trước bảng và viết mấy chữ Bị mẹ của Bishop giết? bên dưới ảnh Libby McInley, sau đó anh lại vòng ra đằng sau mấy tấm bảng rồi trở lại bàn họp, cầm theo một bức ảnh Polaroid cũ và lọn tóc vàng, đựng trong túi bảo quản vật chứng. Anh đặt chúng lên bàn.
“Mọi người có biết gì về hai thứ này không?”
Clair cầm lấy bức ảnh Polaroid. “Anh tìm thấy nó ở đâu vậy?” Cô giơ cho Nash và Klozowski xem.
“Trong ngăn kéo tủ ở nhà Libby, nhét dưới đống quần áo, cùng với lọn tóc kia.”
Clair đặt bức ảnh xuống. “Bishop có nhắc đến mấy tấm ảnh trong nhật ký. Đây có thể là một trong số đó. Nếu đúng là như vậy thì một trong hai người này là mẹ của hắn, còn người kia là cô hàng xóm, Lisa Carter.”
“Chúng tôi đã thử dùng chương trình nhận diện khuôn mặt với hai người phụ nữ này, nhưng không thu được kết quả gì. Tuổi của bức ảnh và góc chụp không có lợi cho việc nhận diện. Vậy còn lọn tóc? Trong nhật ký có nhắc đến không?”
“Không. Có thể là tóc của Libby chăng?” Clair nêu ý kiến.
“Nó không khớp với cả Libby lẫn Barbara.”
“Thế Kirby thì sao?” Kloz nói. “Ông ta có mái tóc vàng để dài đấy.”
Nash kéo túi đựng vật chứng lại gần hơn. “Libby giữ tóc của Kirby để làm gì chứ? Mà cô ta kiếm đâu ra mới được?”
Chẳng ai trả lời được câu hỏi ấy.
Poole quay lại bảng, bổ sung thông tin về bức ảnh và lọn tóc. Anh còn viết thêm cái tên KALYN SELKE. “Vậy là tất cả mọi người đều nắm rõ cả rồi, ngoài ra còn một chi tiết nữa: Bishop đã giúp Libby xin được giấy tờ giả dưới cái tên này. Chúng đã thư từ qua lại trong thời gian cô ta ngồi tù.”
“Anh có biết chúng làm thế nào không?” Clair hỏi.
Poole lắc đầu. “Tôi thậm chí chưa có thời gian ghé qua trại giam. Sau khi nói chuyện với cán bộ quản chế của Libby, chúng tôi được biết cô ta gặp khó khăn trong việc tái hòa nhập với cuộc sống bên ngoài. Ông ta cho rằng cô ta muốn trở lại trại giam.”
“Cô ta ở trại nào? Stateville à?”
“Phải. Chúng tôi còn tìm thấy trong nhà cô ta một khẩu 0,45, rõ ràng cô ta đã vi phạm điều khoản tha tù trước thời hạn.” Poole nói. “Cô ta biết có kẻ đang săn lùng mình. Nếu những gì mọi người nói về mối quan hệ giữa Kirby và mẹ Bishop là thật, vậy thì điều đó cũng hợp lý. Ta chỉ cần tìm hiểu xem tại sao Bishop lại bảo vệ cô ta thôi.”
Poole lại hướng sự chú ý lên bảng. “Được rồi. Tình hình tiến triển tốt đấy. Rất tốt, chúng ta đã có được đầu mối khác để tiếp tục điều tra, chí ít là về Libby McInley. Giờ ta xem xét kĩ hơn những nhân vật còn lại nhé.”
Poole bước sang trái vài bước, để lại phía sau tấm bảng chứa dữ kiện về Libby McInley, dồn sự tập trung vào tấm bảng đầu tiên với cái tên ANSON BISHOP ở phía trên cùng, bên dưới là ảnh của bảy nạn nhân mất tích hoặc đã chết.
Nash đằng hắng. “Như tôi đã nói, nếu tất cả những vụ này - theo một cách nào đó - đều do Bishop làm, và hắn vẫn đi theo cách thức cũ như đã làm với các nạn nhân trước kia, như vậy có nghĩa là con cái bị sát hại để trả giá cho tội ác nào đó mà bố mẹ chúng gây ra. Mục tiêu thực sự ở đây không phải là những đứa con.”
“Nash nói đúng đấy.” Clair nói. “Anh có thể sắp xếp lại mấy bức ảnh không? Chuyển bố mẹ lên trên, còn con xuống dưới?”
Poole gật đầu và thay đổi vị trí các tấm ảnh:
#
Floyd Reynolds
Ella Reynolds
Randal Davies
Lili Davies
Darlene Biel
Larissa Biel
Anh giơ ảnh chụp cậu bé đông cứng trong buồng lái của chiếc Toyota Tundra lên. “Vậy là còn cậu bé vô danh này.”
“Ta cần nhanh chóng xác định danh tính cậu ta, sau đó tìm gặp bố mẹ cậu ta ngay.” Clair nói. “Họ có thể là mục tiêu kế tiếp của hắn.”
“Chúng ta biết được những gì về những ông bố bà mẹ khác?”
Clair lấy điện thoại và mở ứng dụng Ghi chú. “Floyd Reynolds, làm việc cho UniMed America Healthcare. Ông ta là nhân viên kinh doanh bảo hiểm. Chúng tôi không phát hiện khoản nợ hoặc vấn đề gì liên quan đến tài chính. Cuộc sống gia đình của ông ta không có dấu hiệu đáng ngờ. Vợ ông ta nói ông ta ra ngoài tìm con gái. Hung thủ dùng dây đàn piano siết cổ ông ta trong xe hơi nhà họ, xác ông ta được tìm thấy ở sân sau, bị giấu bên trong người tuyết. Có một dấu bốt để lại trên lưng ghế lái của chiếc ô tô gia đình. Chúng tôi cho rằng hung thủ đã đặt chân lên đó để lấy điểm tựa khi siết cổ ông Reynolds. Chiếc bốt cỡ mười một.”
“Chúng ta chắc không có thông tin về cỡ giày của Bishop phải không?”
“Đúng vậy.”
Poole bổ sung chi tiết này lên bảng, sau đó dùng bút trỏ vào cái tên Randal Davies. “Ông Davies thì sao?”
“Ông ta là bác sĩ. Làm việc tại khoa Ung bướu của Bệnh viện Stroger. Cũng như Reynolds, cuộc sống riêng hoặc tài chính của ông ta không có vấn đề gì. Ông ta bị giết bằng lisinopril liều cao, loại thuốc thường dùng để điều trị huyết áp cao, nhưng ông ta không được kê dùng. Chúng tôi nghĩ hung thủ đột nhập vào nhà riêng của gia đình Davies từ cửa hậu. Lisinopril cô đặc được hắn bỏ vào máy pha cà phê. Được biết, trong gia đình chỉ có mỗi ông ta uống cà phê.”
Poole cau mày. “Vậy thì hoặc là hung thủ đã biết điều này từ trước, hoặc là hắn không quan tâm ai sẽ chết.”
“Nhà bếp có mấy cửa sổ lớn không rèm. Từ bên ngoài nhìn vào có thể thấy hết.” Nash giải thích. “Hung thủ chỉ cần quan sát đôi chút là có thể biết được sở thích đồ uống của mỗi người.”
“Có lý. Tôi không cho rằng nhóm người trưởng thành là mục tiêu ngẫu nhiên, ngay cả trong nội bộ mỗi gia đình. Nếu hung thủ thực sự là Bishop, hắn chắc chắn có lý do riêng cho mỗi nạn nhân.” Poole nói. “Như vậy, bây giờ chỉ còn lại nạn nhân nữ duy nhất trong nhóm này cần xem xét.”
“Phải, Darlene Biel. Chúng tôi đã cử một sĩ quan ở lại bệnh viện trông chừng bà ta. Bà ta tuy đã ổn định nhưng được gây mê nhân tạo. Hung thủ đã tiêm xyanua vào tuýp kem đánh răng của bà ta. Bà ta trúng độc trong lúc đánh răng tại nhà trú ẩn mà chúng tôi cứ ngỡ đã an toàn.” Clair hít một hơi dài và cụp mắt xuống. “Lỗi là do tôi. Tôi có trách nhiệm canh chừng, bảo vệ bà ta.”
Nash vươn ra, đặt tay lên vai cô. “Cô đã cứu sống bà ta. Chứ nếu là người khác, không khéo giờ này bà ta đã chẳng qua khỏi.”
Anh ta kể lại cho Poole nghe chuyện Clair cho Darlene Biel uống dung dịch xà phòng.
“Kiềm trong xà phòng trung hòa tính axit của xyanua ư? Ấn tượng thật. Cô học được ở đâu vậy?”
Clair đáp: “Hồi cấp ba, thầy giáo dạy khoa học của tôi chẳng may nuốt phải xyanua. Khi phát hiện ra, ông ấy lập tức chạy vào nhà vệ sinh nam và uống nước xà phòng. Nhờ thế ông ấy mới sống được. Có lẽ vụ đó đã khiến tôi nhớ mãi.”
“Đừng quá khắt khe với bản thân.” Poole nói với cô. “Xyanua có tác dụng cực nhanh. Chỉ chậm một, hai phút nữa thôi là bà ta có thể đã mất mạng rồi. Chính vì ở trong nhà trú ẩn với cô nên bà ta mới thoát chết. Nếu chuyện xảy ra ở nhà thì chưa chắc bà ta đã sống sót.”
Clair bỏ ngoài tai những lời khen ngợi ấy. Nhìn vầng trán cô nhăn tít lại, Poole biết cô đang nghĩ xa hơn. Khi lên tiếng, cô cũng trả lời luôn câu hỏi anh định đưa ra cho cả nhóm. “Biel từng… ý tôi là, Biel là trình dược viên. Bà ta thường xuyên phải đi công tác, có một túi đồ dùng cá nhân chuẩn bị sẵn từ trước khi chúng tôi yêu cầu vợ chồng họ rời nhà tạm lánh đi nơi khác. Tuýp kem đánh răng có độc nằm trong cái túi đó. Đội Khám nghiệm Hiện trường đã kiểm tra tuýp kem đánh răng dùng chung đặt trên kệ trong nhà tắm thông với phòng ngủ lớn ở nhà họ, tuýp kem đó không có độc. Cũng như với Randal Davies, hung thủ chỉ nhắm vào bà ta mà thôi. Hắn đã thu thập thông tin từ trước, biết được bà ta có một túi đồ như thế, và lên kế hoạch giết bà ta.”
“Còn ai khác phát hiện ra điểm chung trong vụ này không?”
“Các nạn nhân đều làm việc trong ngành y, một người là bác sĩ, hai người là nhân viên kinh doanh.” Nash nói.
“Vợ hoặc chồng họ làm nghề gì?”
Clair liếc xuống phần ghi chú. “Grace Davies và Leeann Reynolds ở nhà nội trợ. Larry Biel làm ở công trường xây dựng.”
“Đều không liên quan đến ngành y.”
“Đều không liên quan đến ngành y.” Clair tán đồng. “Chắc chắn đó là điểm chung khả dĩ.”
Poole gật đầu, chăm chú đọc những ghi chép trên bảng. “Được rồi, tốt lắm. Chúng ta có thể dựa vào đó để tìm hiểu.” Anh chỉ vào tên Ella Reynolds. “Giờ ta sẽ nói về con cái họ nhé.”
Clair quay sang người phụ nữ ngồi bên kia bàn. “Sophie này, cô có muốn…”
Không đợi cô nói hết, Sophie đã gật gù. “Ừ, được thôi. Ella Reynolds, mười lăm tuổi. Thi thể cô bé được tìm thấy ngày 12 tháng Hai, dưới lớp băng ở đầm nước trong Công viên Jackson. Mới đầu, phát hiện này khiến chúng tôi khá bất ngờ vì đầm nước đóng băng từ tận đầu tháng Một, ít nhất hai mươi ngày trước khi cô bé mất tích. Sau đó chúng tôi biết rằng Anson Bishop đã khoét một ô trống trên băng, thả cô bé xuống đầm, rồi bơm nước chứa trong cái bồn bị đánh cắp vào, tạo thành lớp băng mới, ngang bằng mặt băng cũ. Chúng tôi tin cô bé bị bắt cóc ở Quảng trường Logan, cách nhà bảy phút đi bộ. Được biết gần đây cô bé có mua một chiếc ô tô ở Cars R Us, cửa hàng bán xe nằm cách đây không xa. Cô bé thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt. Bố mẹ cô bé không hề biết chuyện này. Cô bé cũng mới xin được giấy phép tập lái.”
“Lúc chúng tôi tìm thấy Ella, cô bé mặc trang phục của nạn nhân thứ hai, Lili Davies.” Clair nói. “Chi tiết này có vẻ rất giống cách Bishop vẫn làm để tạo yếu tố giật gân và thu hút sự chú ý.”
“Tôi cũng nghĩ vậy.” Poole nói. “Nó chính là một phần của tạp âm mà tôi nhắc đến ban đầu. Hãy tạm gác lại chi tiết đó đã. Ta hoàn toàn có thể bổ sung lại sau, nếu thấy có liên quan. Chúng ta biết được gì về Lili?”
Sophie nói tiếp. “Mười bảy tuổi. Lần cuối cùng có người trông thấy cô bé là lúc cô bé đi bộ tới Học viện Wilcox hôm 12 tháng Hai. Cô bé không đến lớp. Trường khá gần nhà, chỉ cách có bốn khu. Thi thể Lili được tìm thấy tại phòng tranh Leigh nơi cô bé làm việc. Cái xác được đặt trong kho chứa đồ nằm ở sâu bên trong cửa hàng, rõ ràng hung thủ cố ý để cho ai đó phát hiện ra cô bé. Hắn dùng một sợi dây điện màu đen quấn quanh cổ cô bé và treo lên, nhưng chắc chắn cô bé đã chết từ trước rồi. Cũng như cô bé nhà Reynolds, Lili tử vong do bị đuối nước nhiều lần trong nước mặn. Như Clair đã nói, cô bé được tìm thấy trong trang phục của Ella Reynolds, vậy là hung thủ đã đổi quần áo của hai cô bé cho nhau.”
Klozowski ló đầu lên khỏi laptop. “Hình như cô có nhắc đến việc Lili cũng đang tìm mua xe hơi?”
Clair gật đầu. “Sophie và tôi đã nói chuyện với bạn thân của cô bé, Gabrielle Deegan. Gabrielle kể rằng bố của Lili hứa sẽ mua ô tô làm quà khi nào cô bé tốt nghiệp, nhưng cô bé muốn có xe sớm hơn.”
“Có mối liên hệ nào với cửa hàng xe hơi mà cô bé thứ nhất đến mua không?” Poole hỏi.
“Họ không biết gì về Lili cả.” Nash đáp. “Chúng tôi đã thẩm vấn nhân viên bán hàng ở đó nhưng không thấy có mối liên hệ thực sự. Tụi thiếu niên đứa nào chẳng thích có xe riêng. Tôi nghĩ đây đơn thuần là sự trùng hợp ngẫu nhiên nữa mà thôi. Kiểu như tạp âm mà anh nhắc đến ấy.”
Poole quay lại với mấy tấm bảng. “Được rồi, thế Larissa Biel thì sao?”
“Larissa thì lại khác.” Sophie nói. “Cô bé mới mất tích hồi sáng, và vẫn chưa có thi thể nào được tìm thấy. Rất có thể cô bé vẫn còn sống. Tạm thời chúng ta mới biết có thế. Cô bé đã lên kế hoạch tham dự buổi vũ hội ở trường vào tối nay. Lúc sáng, khi bố mẹ cô bé đi làm thì cô bé vẫn ở nhà. Bà mẹ đã bí mật đặt lịch để hai mẹ con đi spa nhằm tạo bất ngờ cho cô bé. Nếu không, có khi giờ này chúng ta vẫn chưa biết cô bé mất tích cũng nên.”
“Căn cứ vào những gì ta biết về trường hợp của Ella Reynolds, đặc biệt là Lili Davies, cô bé không còn nhiều thời gian đâu. Davies chết chỉ trong vòng một ngày sau khi mất tích.” Clair nói rồi quay sang Klozowski. “Có tìm được gì trong laptop hoặc điện thoại của cô bé không?”
“Bố mẹ cô bé cài chương trình quản lý con cái KidBSafe vào laptop. Tụi nhóc đã truyền nhau cách qua mặt phần mềm đó gần hai năm nay rồi. Chúng tôi tìm thấy bộ hack được cài đặt trong máy của cô bé. Larissa có thể tùy nghi bật tắt phần mềm quản lý bất cứ lúc nào và hạn chế những thông tin mà bố mẹ thấy được.” Kloz cựa mình trên ghế. “Ngoài ra, chúng tôi còn phát hiện chương trình PrivaShield chạy ngầm. PrivaShield xóa dữ liệu bộ nhớ đệm ngay khi dữ liệu được tạo ra, về cơ bản, nó loại bỏ những dấu vết để lại trong quá trình sử dụng. Cô bé này thông minh ra phết. Cô bé chỉ chừa lại một lượng dữ liệu vừa đủ để bố mẹ cảm thấy rằng họ vẫn đang kiểm soát được con mình, còn lại thì giấu tiệt. Chúng tôi vẫn tiếp tục tìm, nhưng chắc không thu được gì từ cái laptop đâu. Có thể cô bé mang theo điện thoại khi bị bắt. Chúng tôi lần theo hành tung của cô bé lúc sáng và tới được ngã tư nơi đại lộ West Chicago cắt với đại lộ North Damen, sau đó mất tín hiệu. Nhiều khả năng hung thủ đã tháo pin hoặc phá hỏng chiếc di động. Chúng tôi có gửi yêu cầu cung cấp dữ liệu khẩn nhưng công ty điện thoại chưa hồi đáp. Tôi sẽ báo cáo ngay khi có tin tức mới.”
Poole trở lại bàn họp. Anh quan sát ảnh chụp cậu bé đóng băng bên trong buồng lái của chiếc xe bán tải, rồi lật tấm ảnh lại để cả nhóm cùng nhìn thấy. “Vậy là chỉ còn cậu bé này.”
“Tôi tin Eisley đang cố hết sức để xác định danh tính cậu ta, nhưng khối băng khiến quá trình khám nghiệm mất nhiều thời gian hơn.” Clair nói, chăm chú nhìn tấm ảnh cậu bé đông cứng trong buồng lái chiếc xe bán tải.
“Cái xe đứng tên Kalyn Selke.” Klozowski nói.
“Danh tính giả của Libby McInley.” Nash nói. “Lại một ngõ cụt.”
“Phải.”
Poole nhìn mấy tấm bảng. “Bấy nhiêu đó là hết rồi phải không?”
“Vẫn còn mấy bài cáo phó.” Nash đáp.
Poole quay về phía bàn họp. “Cáo phó?”
Clair gật đầu. “Sáng nay, tổng đài 911 tiếp nhận cuộc gọi của một bà cụ, bà ta nói rằng Floyd Reynolds chết hai lần. Bài cáo phó viết cho ông ta được đăng tải trên số báo ra ngày hôm nay và thứ Tư tuần trước. Khi tìm hiểu sâu hơn, chúng tôi phát hiện vài bài khác nữa. Xem ra, lâu nay hung thủ đăng cáo phó cho các nạn nhân của hắn trên mấy tờ báo địa phương trước khi xuống tay sát hại họ.”
Poole đã không còn chú ý lắng nghe. “Chết hai lần.” Anh chậm rãi nói, sau đó quay lại nhìn lên bảng. Anh tìm thấy cái bảng có ghi ba bài thơ và lật lại để những người khác đọc được. “Tôi nghĩ Bishop giết Đặc vụ Diener vì anh ta trông thấy ba bài thơ này. Chúng được viết trên tường trong căn nhà hoang. Mọi người có thấy mấy từ gạch chân kia không? Chết là từ duy nhất xuất hiện hai lần.” Anh kể cho họ nghe việc mảng tường có chứa ba bài thơ bị khoét đi như thế nào.
“Hãy xem các từ gạch chân còn lại.” Clair nói. “Băng, nước, sợ… tất cả đều liên quan đến mấy vụ án.”
“Đã truy thông tin cuộc gọi đến 911 chưa?”
Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía Klozowski. Anh ta giơ một ngón tay ra hiệu chờ trong giây lát, rồi nhíu mày. “Theo như báo cáo viết, cuộc gọi xuất phát từ Nhà dưỡng lão Lasting Harmony nằm gần bùng binh. Nhân viên ở đó nói người gọi là bà lão chín mươi ba tuổi tên là Ingrid Nesbit, bà cụ đọc cáo phó hằng ngày nên rất bức xúc khi phát hiện có đến hai bản cáo phó của Floyd Reynolds. Bà cụ đòi gọi điện cho bằng được.”
“Lại đâm đầu vào ngõ cụt.” Nash càu nhàu.
Clair vẫn chăm chú nhìn lên bảng. “Nếu những bài thơ này thực sự có liên quan đến các vụ án và hắn muốn ta tìm thấy chúng, vậy tại sao lại khoét đi? Sao lại giết Diener?”
Poole thở dài. “Tôi nghĩ, hắn muốn để Porter phát hiện ra chúng, chứ không phải tôi. Và chắc cũng không phải mọi người ở đây.”
Clair quay sang Klozowski. “Anh nói các bài cáo phó giả đều được gửi đi từ cùng một máy tính, đúng không? Đã lần ra tung tích gì chưa?”
Klozowski không đáp. Thay vì vậy, anh ta dán mắt vào laptop.
“Kloz?”
“À, chưa. Chưa truy ra địa chỉ IP, nhưng nếu cái máy đó truy cập ở bất cứ đâu trong mạng Wi-Fi thành phố, tôi sẽ biết ngay. Tôi nghĩ…” Giọng Kloz nhỏ dần, anh ta rướn người lại gần hơn.
“Sao thế?” Clair hỏi.
“Tôi nhận thấy một thứ, nhưng có thể không là gì cả. Chắc chỉ là do tôi suy diễn linh tinh thôi.” Klozowski nói.
Clair đứng dậy, đi sang chỗ anh ta. “Có gì thì mau khai ra, Kloz. Đừng để tôi phải động thủ lần nữa.”
“Tôi đang đánh dấu trên bản đồ địa điểm xảy ra các vụ bắt cóc và nơi các thi thể được tìm thấy. Nếu nối các điểm đó lại với nhau theo từng cặp, chúng hầu như đều xoay quanh Bệnh viện John H. Stroger Jr.”
Nash nhoài người sang xem bản đồ. “Đấy là nơi làm việc của Randal Davies.”
“Nhân viên kinh doanh bảo hiểm và trình dược viên. Chắc hẳn các nạn nhân khác cũng thường xuyên lui tới đó.” Clair nói. “Darlene Biel cũng đang điều trị tại bệnh viện này.”
Poole rướn tới gần. “Nếu tôi lấy được danh sách nhân viên, anh có thể đối chiếu với dữ liệu cáo phó không? Biết đâu ta gặp may và tìm ra nạn nhân kế tiếp của hắn trước khi lại xảy ra chuyện.”
Kloz thoăn thoắt gõ bàn phím. “Ồ, được, tôi làm ngay.”
Nash đã đứng dậy và đang nhìn lên bảng. “Chúng ta vẫn bỏ sót điều gì đó.”
“Điều gì?” Poole hỏi.
“Tôi không tin một mình Bishop làm được tất cả những việc này. Dù hắn có Libby McInley giúp đỡ đi chăng nữa, thật sự là một người vẫn không thể kham nổi từng ấy việc. Ở đây vẫn còn điều gì đó lớn lao hơn đang ngầm diễn ra.”
“Có thể.”
“Anh không thể đóng vai Chúa Trời nếu không chịu kết giao cùng quỷ dữ.” Nash đọc to. “Vậy ra đó là những gì hắn đang làm với những đứa trẻ ấy? Giết chết rồi lại hồi sinh chúng? Đóng vai Chúa Trời?”
“… Cùng quỷ dữ.” Clair nói.
“Cả ba bài thơ đều xoay quanh chủ đề sự sống và cái chết. Có thể đó là điều hắn đang muốn nói với chúng ta.” Poole vuốt tóc ra đằng sau. “Mấy ngày nay thỉnh thoảng tôi mới được chợp mắt. Giờ khó mà tập trung nổi.”
Đúng lúc đó, điện thoại của anh reo vang.
Anh lấy máy trong túi ra và nhìn xuống màn hình bé tẹo: CUỘC GỌI ẨN DANH.
Anh nhấn nút nghe.
Một giọng nói cất lên trước khi anh kịp lên tiếng.
“Frank à, Sam đây.”