Nhật ký
Những bóng đèn huỳnh quang trên cao kêu ro ro nghe như có đến cả triệu con ong đang ẩn náu đâu đó bên trong trần phòng, còn thứ ánh sáng chói gắt rỏ xuống chẳng khác nào những giọt mật bị bỏ phí. Tôi cố bỏ ngoài tai âm thanh ấy, khi thấy mình không làm được, tôi lại ngả đầu xuống cái gối mỏng dính họ phát cho.
Phòng tôi chỉ rộng chừng mét tám, sâu hai mét tư. Họ gọi đấy là phòng, tôi chấp nhận định nghĩa này dù tiềm thức thì thầm với tôi rằng nó giống xà lim hơn là phòng. Phòng phải là nơi không bị khóa lại bất cứ khi nào bạn được lệnh bước vào. Phòng phải có cửa sổ mở ra được. Phòng tôi chẳng có gì trong hai điều ấy.
Hôm đầu tiên đến đây, tôi tỉnh giấc giữa đêm và bò ra khỏi giường để đi vệ sinh. Lúc hai chân vừa chạm xuống mặt sàn lạnh ngắt, có lẽ tôi cũng cảm nhận được dường như có điều gì đó khác lạ, nhưng chỉ khi đi tới chỗ đúng ra là cánh cửa phòng ngủ thì tôi mới tỉnh hẳn và nhận ra không phải tôi đang ở nhà, mà ở một chốn xa lạ.
Không phải phòng của tôi.
Không phải giường của tôi.
Một nơi hoàn toàn khác.
Cảm giác buồn đi vệ sinh tan biến. Tôi bò về cái giường chật hẹp. Tôi ngủ một mạch đến tận khi những ngọn đèn chói lóa trên trần lại bừng sáng lúc sáu giờ đúng, bay ong thức giấc theo nhật trình đã định. Đèn luôn bật cho đến đúng mười giờ tối. Trong phòng không có đồng hồ, mà tôi cũng không thấy cái nào bên ngoài khi nhìn qua ô cửa nhỏ trên cửa ra vào, nhưng chiếc đồng hồ trong tôi thì cực kỳ chính xác. Ngay từ hồi tôi còn bé, cha đã dạy tôi đếm thời gian trong tâm tưởng. Cha chỉ cho tôi biết lắng nghe tiếng tích tắc đều đều của cái đồng hồ nằm đâu đó trong một góc nhỏ nơi tiềm thức của tôi, cái đồng hồ chuẩn xác hơn bất cứ loại đồng hồ treo tường nào, một khi đã học được cách tin tưởng nó.
Nhà tôi không có đồng hồ.
Tôi cũng không được phép có đồng hồ đeo tay.
Cái đồng hồ duy nhất tồn tại là đồng hồ trong tâm trí tôi, thường xuyên được cha kiểm tra.
Cha sẽ yêu cầu tôi nói cho cha biết giờ giấc, đôi lúc cha chọn những thời điểm rất đỗi kỳ quặc để hỏi. Chỉ cần sai lệch hơn một phút thôi là tôi sẽ phải nhận hậu quả. Tôi không muốn nhắc đến những hậu quả ấy, nhưng khỏi nói cũng biết, tôi hiếm khi trả lời sai.
Cha cũng dạy tôi cả cách khắc chế thời gian. Cha bảo kỹ năng đó gần giống thiền định, nhưng còn quan trọng hơn thế nhiều. Hồi ấy tôi không cảm thấy kỹ năng này thực sự cần thiết, nhưng cha nói một ngày nào đó có thể tôi sẽ cần, mà tôi thì luôn sẵn lòng học hỏi bất cứ điều gì cha dạy. Muốn khắc chế thời gian, tôi chỉ việc nhắm mắt lại và phong bế tâm trí. Quá trình đó có thể kéo dài năm phút hay năm giờ, tùy vào quyết định của tôi trước khi bắt đầu. Khác với lúc ngủ, tôi có thể giữ cho não bộ không ngừng hoạt động, chỉ tập trung nghĩ đến một vấn đề, hoặc tôi cũng có thể dẹp bỏ luôn cả suy nghĩ, để những giây phút mà bình thường sẽ đằng đẵng trôi đi trong nhàm chán thì giờ đây vụt qua chỉ trong chớp mắt.
Những lúc họ nhốt tôi trong phòng như thế này, tôi lại khắc chế thời gian.
Tôi hiểu họ làm thế nhằm mục đích gì. Tôi chỉ được phép ra ngoài để dùng nhà vệ sinh và đến gặp bác sĩ Oglesby. Thời gian còn lại, tôi phải ngồi trong căn phòng này. Họ muốn làm tôi buồn chán. Họ muốn làm tôi ghét cay ghét đắng căn phòng. Họ muốn tôi chào đón khoảng thời gian được bước chân ra ngoài, trông ngóng buổi điều trị tiếp theo với ông bác sĩ. Cách này hẳn là có tác dụng với những chủ nhân trước đây của căn phòng, nhưng những mánh khóe kiểu ấy chẳng mảy may tác động được tới tôi, chừng nào tôi còn có thể khắc chế thời gian. Chừng nào tôi còn tận dụng cơ hội này để ngẫm lại hoàn cảnh hiện nay của mình, để tìm giải pháp, động não suy nghĩ.
Những chiếc đèn huỳnh quang bật lên lúc sáu giờ sáng và tắt đi lúc mười giờ tối, chu trình cứ thế lặp đi lặp lại. Chu trình ấy lặp lại đến nay đã được tám lần. Bây giờ là bốn giờ ba mươi hai phút chiều ngày thứ tám tôi ở đây. Chẳng có cách nào thoát khỏi căn phòng này. Cửa sổ bị đóng chặt rồi. Mà dù tôi mở được đi chăng nữa thì cũng không thể lách qua những chấn song bên ngoài. Tôi có thể phá khóa nếu có dụng cụ, nhưng tôi lại chẳng có gì trong tay. Phòng tôi là phòng thứ năm ở bên này hành lang; nhà vệ sinh nằm phía đối diện, bên tay phải. Tuy chưa gặp những người ở phòng khác nhưng tôi có nghe thấy tiếng họ, nhất là vào ban đêm. Tôi nhận ra được ba giọng nam, hai giọng nữ. Giọng nữ cùng dãy cách phòng tôi hai căn có vẻ khoảng mười lăm tuổi.
Cô ấy hay khóc đêm. Đêm nào cũng khóc.
Tôi không biết tên cô ấy. Ở đây người ta không dùng tên họ, chỉ có bác sĩ Oglesby mới dùng.
Hành lang dài tổng cộng khoảng mười lăm mét. Lúc họ đến đưa tôi tới văn phòng của bác sĩ Oglesby, chúng tôi rẽ sang tay trái, đi qua chỉ toàn những cánh cửa đóng kín. Khi ra về, tôi để ý và ghi nhớ kĩ các phòng ở đầu bên kia hành lang: phòng y tế bên phải, phòng bảo vệ bên trái, và một phòng đóng kín nằm ở giữa. Tôi chưa thấy cánh cửa đó mở ra bao giờ nhưng có nghe tiếng, mỗi lần như thế đều có tiếng chuông điện kêu rè rè, sau đó là âm thanh mở khóa. Tôi nghĩ chắc nó được điều khiển từ đâu đó gần phòng bảo vệ, nhưng có thể các y tá cũng có quyền kiểm soát. Tôi hình dung trong đầu một nút bấm nhỏ cáu bẩn sau những năm tháng bị ngón tay bao người chạm vào.
Hai đầu hành lang có camera, những con mắt đen sì nằm trong những khối cầu nhỏ chằm chằm nhìn xuống từ trên trần. Tôi chưa phát hiện ra camera trong phòng bác sĩ Oglesby, nhưng tôi khá chắc chắn là có. Camera phòng tôi được giấu phía sau cửa thông khí cạnh bóng đèn, quan sát tôi từ trên cao. Nó không phát ra tiếng động, song tôi vẫn cảm nhận được nó chớp mắt.
Tôi rất muốn biết, bác sĩ à, lúc này đây ông có ngồi bên bàn làm việc và quan sát tôi qua màn hình nào đó không? Những gì rút ra được, ông ghi cả vào cuốn sổ be bé chứ? Tôi tưởng tượng ông đang ngoáy bút lia lịa, tuôn ra những từ ngữ càng lúc càng vô nghĩa. Anson Bishop bé bỏng tội nghiệp, đứa trẻ mồ côi sinh ra từ lò lửa.
Đứa con gái ở phòng nọ lại khóc. Khóc vào giờ này kể cũng lạ.