Porter
Ngày 2 • 10:04 tối
Thanh tra Sam Porter đặt chân xuống sân bay New Orleans lúc hơn mười giờ tối sau chặng dừng kéo dài hai tiếng ở Dallas, đây là chuyến bay khởi hành cùng ngày duy nhất anh kịp mua vé. Trong thời gian ở Dallas, anh đã định ăn tối tại cửa hàng McDonald’s ở nhà ga, nhưng bụng dạ anh nôn nao, khó chịu. Ăn vào chỉ muốn tống ra bằng hết.
Rời khỏi sân bay New Orleans, Porter bắt taxi tới thẳng Trại giam Giáo xứ Orleans nằm trên phố Gravier. Anh yêu cầu tài xế cho xe chạy vòng quanh trại giam cho tới khi trông thấy lối đi ngoài trời có hàng rào mắt cáo quây quanh và tấm biển giống như trong bức ảnh. Anh bảo tài xế dừng lại và đợi anh ở đây.
Porter xuống xe, băng qua đường, mồ hôi nhễ nhại bên dưới lớp áo khoác dày sụ dù lúc này đêm đã về khuya. Anh chưa bao giờ đi đâu ngoài Chicago vào mùa đông. Sự khác biệt về nhiệt độ giữa Chicago và miền đất phương Nam xa xôi này thật là tuyệt. Bầu không khí nơi đây oi bức, ngột ngạt, thoảng mùi hôi hám của một thành phố dường như đã quen bị bòn rút, bạc đãi, quen với việc bị xối rửa, vệ sinh hằng đêm.
Anh tới hỏi người bảo vệ đang đứng gác ở gần cổng vào. Ông ta cho anh biết giờ thăm phạm nhân là từ chín giờ sáng tới sáu giờ tối, không có ngoại lệ. Giám thị trại giam sẽ có mặt lúc bảy giờ. Anh có việc gì thì đến gặp rồi trình bày với giám thị.
Tuy không nhận ra người phụ nữ trong ảnh nhưng người quản giáo đi đằng trước thì ông ta biết. “Đây là Vince Weidner. Anh ta làm ca ngày, có mặt lúc tám giờ.”
Porter cảm ơn ông ta rồi quay lại xe.
“Anh có người quen trong kia à?” Tài xế hỏi khi Porter sập cửa.
“Ừ, người quen.”
“Tôi từng có thời gian bóc lịch ở trại này, thậm chí nếu không nhờ ông anh họ xin cho chân lái taxi thì bây giờ có khi vẫn đang ngồi trong đó cũng nên. Kiếm được miếng ăn ở đây cũng nhọc lắm. Tiền lương quá rẻ mạt, trong khi du lịch nở rộ đã đẩy giá bất động sản tăng cao. Dân thường đố mà sống được ở cái thành phố này với đồng lương còm. Đành phải dạt về khu ngoại ô và chịu khó đi lại xa. Hoặc là thế, hoặc là xoay xở để tăng thu nhập.”
“Vậy ra đó là lý do anh phải ngồi bóc lịch? Vì xoay xở để tăng thu nhập?”
Anh tài xế khẽ bật cười. “Một ông anh họ khác đã dạy cho tôi những tinh hoa của nghệ thuật móc túi. Ông ấy mà đã ra tay thì gạo xay ra cám.”
“Nếu ông ấy siêu đẳng thế, sao anh lại bị tóm?”
“Thì tôi có bảo là tôi siêu đâu. Có thể trong lúc huấn luyện tôi, anh họ Mic đã bỏ qua một, hai bước hay gì đó. Tôi bị tóm ngay lần hành sự đầu tiên. Đang thò tay vào túi quần sau của một gã thì gã thộp ngay lấy cổ tay tôi mà bẻ. Tôi đau quá hét toáng lên, ba gã cớm gần đó vội chạy lại xem có gì mà ồn ào. Lẽ ra mới chân ướt chân ráo vào nghề, tôi không nên chọn thẳng cha đô con cỡ ấy, chỉ vì tôi nghĩ gã to như hộ pháp thế thì chắc không cảm thấy gì đâu. Đúng là sai một li đi một dặm.”
“Anh bị giam bao lâu?”
Người tài xế thở dài. “Ba tuần và một ngày, dài đằng đẵng. Đến lúc ra hầu tòa thì thời gian ngồi tù cũng vừa hết. Nhưng chừng đó là quá đủ rồi. Tôi không có hứng thăm thú nơi đó lần nữa đâu, thưa anh. Được an tọa trên cái ghế này là cái mông tôi đã mãn nguyện lắm rồi. Mà tiện thể, chúng ta đi đâu đây?”
Ánh mắt Porter dán chặt vào trại giam. Công trình được xây bằng đá màu be với những ô cửa sổ hẹp. Bà ta đang ở đâu đó trong kia. “Anh có biết gì về giám thị trại giam không?”
“Hoàn toàn mù tịt. Vào trong đó, tôi cứ phải thu mình để tránh xa rắc rối, cóc dám hó hé với ai câu nào. Ba tuần ngồi tù là ba tuần cô độc, đến khi được thả, tôi phải tắm cho sạch mùi hôi hám. Tôi nhìn thấy ông giám thị được đúng hai phút lúc xuống xe buýt để nhập trại, ông ta chẳng nói chẳng rằng mà chỉ quan sát đám quản giáo lùa lũ trâu bò mới vào chuồng.” Tài xế nói. “Trông ông ta khá gai góc. Chắc là do tính chất công việc.” Anh ta nhìn Porter qua gương chiếu hậu. “Tôi biết không phải việc của mình, nhưng mà, bạn anh ngồi tù vì tội gì vậy?”
“Chả biết.”
“Tôi hỏi thế là vì phạm nhân thuộc diện ít nguy hiểm nhất sẽ bị giam ở khu phía đông. Ở Orleans này đầy rẫy những kẻ say xỉn và gây rối trật tự, tôi đến đây chủ yếu là để đón gã nào đó tối hôm trước lỡ quá chén ở khu phố Pháp và bị lôi cổ vào nhà đá một đêm cho tỉnh ra. Khu phía đông nằm ở bên kia trại giam. Mé bên này chỉ chứa tội phạm nặng đô thôi. Cái loại mà một đêm ăn cơm tù chưa đủ để dọa cho chúng biết quay đầu là bờ ấy. Anh phải tìm đến đúng nơi cơ, chứ không, mất công xếp hàng cả tiếng rồi mới biết mình nhầm chỗ thì mệt đấy.” Anh ta giải thích.
“Bà ấy ở khu này.”
“Chà, thế thì tệ quá.”
“Gần đây có khách sạn nào không?” Porter hỏi.
“Khỉ thật, chỗ tử tế thì không có đâu. Hay là chúng ta quay lại trung tâm để kiếm cho anh nơi nào đó ngon lành một tí ở phố Bourbon?”
“Tôi muốn trọ gần đây.”
Người tài xế hít một hơi dài. “Ừm, vậy thì có khách sạn Lý Tưởng cách đây không xa, nhưng tôi thậm chí còn không muốn để cho lão anh họ tôi ở đấy nữa là, mặc dù chỉ tại lão ấy mà tôi bị tóm.”
“Chỗ đó cũng được.” Porter nói.
Người tài xế đảo tròn mắt và khởi động xe. “Chuyến đi là của anh, anh cứ việc làm những điều mình thích. Nhưng tôi vẫn phải cảnh báo trước, nếu anh mà đứng trên ban công ném hạt* vào ai đó ở khu này thì có thể họ sẽ nã sạch đạn trong khẩu 0,22 cho anh lãnh đủ đấy.”
*Chú Thích:
Ý nhân vật muốn nhắc tới lễ hội Mardi Gras được tổ chức vào khoảng tháng Hai, tháng Ba hằng năm với truyền thống ném hạt và chuỗi hạt trang trí từ trên xe diễu hành xuống đoàn người bên dưới. Thành phố New Orleans, bang Louisiana, là một trong những địa điểm tổ chức lễ hội Mardi Gras hoành tráng nhất và nổi tiếng nhất thế giới.
Khách sạn tọa lạc ở khu dân cư không lấy gì làm tử tế. Cách trại giam chỉ vài khối nhà, công trình thấp bè sơn màu hồng được xây dựng phía trên một gara đỗ xe, hai tầng phòng cho thuê nằm dưới một biển quảng cáo huỳnh quang to đùng với dòng chữ KHÁCH SẠN LÝ TƯỞNG DÀNH CHO LỮ KHÁCH - CÒN PHÒNG. Một nửa số đèn trên đó không sáng, có hai bóng nhấp nháy đằng sau tấm nhựa trắng nhem nhuốc, bẩn thỉu.
Người lái taxi gạt cần số sang chế độ đỗ khi xe dừng lại bên hông khách sạn. “Anh đã chắc chắn chưa?”
Lúc anh ta hỏi câu đó, Porter đã gần ra đến cửa. “Họ chấp nhận thanh toán bằng tiền mặt chứ?”
“Ở đây, anh mà đưa cho họ bao thuốc lá Lucky cùng với chai Ripple để đổi lấy một phòng có khi họ cũng đồng ý ấy chứ. Chắc chắn họ chịu nhận tiền mặt rồi.”
Đồng hồ công-tơ-mét hiển thị số tiền phải trả là 51,23 đô la. Porter rút ví lấy ra ba tờ hai mươi đô và đưa cho người lái taxi. “Cầm cả đi.”
Ba tờ tiền ngay lập tức mất hút trong túi áo của anh ta. “Nhân tiện, tên tôi là Hershel Chrisman. Nếu muốn đi đâu, anh cứ a lô cho tôi, tôi phi xe tới đón, dù có phải tới tận đây đi nữa.” Anh ta hất hàm về phía khách sạn và đưa cho Porter tấm danh thiếp in số điện thoại to đậm. “Anh đi hết gara đỗ xe dọc theo bức tường bê tông đó. Phòng lễ tân nằm phía sau thang máy, ở đầu kia của tòa nhà. Nếu anh đổi ý và muốn một phòng tại Khách sạn Hilton trên phố Bourbon thì cứ gọi cho tôi. Muốn thăm thú, ngắm cảnh, cũng gọi tôi luôn. Tôi sống ở đây cả đời rồi, thành phố này tôi rành như lòng bàn tay.” Anh ta hạ giọng nói tiếp. “Nếu anh không cứu được quý bà kia ra, tôi biết vài chỗ để anh có thể tìm cho mình một quý bà khác mới toanh. Cứ gọi cho tôi là xong hết.
Porter gật đầu và nhét tấm danh thiếp vào túi quần. “Cảm ơn vì đã chở tôi, Hershel. Bảo trọng nhé.”
Chiếc taxi rời đi, bỏ lại Porter chơ vơ đứng đó, tiếng còi hụ và tiếng quát tháo văng vẳng đâu đây trong bóng tối.
Porter men theo bức tường gạch không nung để đi qua gara đỗ xe nồng nặc mùi rác rưởi mục rữa, anh tìm thấy phòng tiếp tân ở phía sau dãy thang máy. Chẳng có cửa nẻo hay sảnh vào đẹp đẽ thân thiện, chỉ thấy độc một ô cửa sổ kính dày cáu bẩn, dính đầy những thứ có Chúa mới biết là gì. Một người đàn ông gần sáu mươi tuổi có thân hình cục mịch với mái tóc hoa râm hói trọi và cặp kính gọng đen chăm chú quan sát Porter đi vào. Ban đầu ông ta xem trên màn hình camera giám sát, sau đó nhìn qua cửa sổ.
Porter bước tới trước cửa sổ. “Cho tôi một phòng.”
Người đàn ông liếm đôi môi khô nẻ. Khóe miệng ông ta dính thứ gì đó. Hình như là vụn bánh snack Doritos, nó có màu cam và mềm nhũn. “Phiền anh cho xem hai loại giấy tờ tùy thân và thẻ tín dụng.”
Porter rút ví ra. “Không giấy tờ. Tôi trả tiền mặt.”
Ông ta nhún vai. “29,95 đô một đêm, cộng thêm một trăm đô tiền đặt cọc. Chúng tôi cần bảo vệ tài sản của khách sạn.”
Porter lấy ra năm tờ hai mươi đô trong ví và đẩy vào qua khe hở dưới cửa sổ. “Chỗ đó là một trăm đô. Nếu ở quá ba đêm, tôi sẽ quay lại.”
Người quản lý vơ lấy số tiền, đấm tay lên thân cái máy thu ngân cũ rích để mở ngăn kéo và cất tiền vào. “Vậy còn tiền đặt cọc? Nhỡ anh cuỗm mất ga giường hoặc khăn tắm thì sao.”
“Tôi mới sửa nhà nên tậu đủ cả rồi. Khỏi lo đi. Ngay cả đồ trong tủ lạnh mini tôi cũng không động đến đâu.”
Người quản lý nheo mắt nhìn Porter với vẻ thăm dò, sau đó ông ta hẳn cho rằng điều đó không đáng để cãi cọ. Ông ta đẩy một tập kẹp giấy qua khe cửa sổ. “Vui lòng để lại họ tên.”
Porter nguệch ngoạc hai chữ Bob Seger* lên dòng để trống tiếp theo trong danh sách và trả lại cho ông ta.
*Chú Thích:
Bob Seger (1945 -) là ca sĩ và nhạc sĩ người Mỹ.
Ông ta chăm chú nhìn cái tên rồi lấy một chiếc chìa khóa treo trên tấm bảng đục lỗ ở bên cạnh, thả vào khay kim loại bên dưới khe hở. “Tôi xếp cho anh ở phòng penthouse suite*. Nó nằm ở mé phía đông, trông ra quang cảnh thành phố tuyệt đẹp. Anh có thể mua đồ ăn sáng nhẹ ở máy bán hàng tự động đặt ở cuối mỗi hành lang. Chúc anh nghỉ ngơi thoải mái.”
*Chú Thích:
Penthouse suite là loại phòng hạng sang nằm ở tầng cao nhất của tòa nhà.
Porter cầm lấy chìa khóa, nhưng đó không phải loại thẻ từ mà là chìa khóa cơ được lồng vào dây đeo bằng nhựa, số 203 màu đen dập trên đó đã bạc phếch. Anh bỏ nó vào túi và xách va li lên. “Cảm ơn.”
Người quản lý đã lại dán mắt vào mấy màn hình camera giám sát. Ông ta thờ ơ xua tay, đầu ngón tay dính vụn snack màu cam.
Porter đi qua chỗ thang máy để leo cầu thang bộ lên tầng hai, tìm phòng 203. Chẳng rõ những phòng xung quanh có ai ở không, vì không có dấu hiệu nào cho thấy điều đó. Các ô cửa sổ đều tối đen.
Anh loay hoay một lúc mới vặn được chìa khóa. Mở xong, anh đẩy cửa, bước vào phòng và bật đèn lên.
Giữa phòng kê chiếc giường 1m6x2m, một cái tủ ngăn kéo bằng gỗ sồi màu sáng đầy vết xước được đẩy sát vào bức tường phía đối diện. Cạnh điều khiển từ xa có một tấm biển với dòng chữ HBO MIỄN PHÍ! nhưng chẳng thấy cái ti vi nào mà chỉ có khoảng trống ở nơi từng đặt ti vi, bằng chứng là những chỗ sây sát để lại trên mặt gỗ. Vết bẩn màu nâu đã phai màu choán gần hết mặt sàn, trông chẳng ra hình thù gì cả. Ai đó đã cố dùng dung dịch cọ rửa để tẩy sạch vết bẩn trên tấm thảm Berber màu xanh lục, nhưng rốt cuộc chỉ khiến nó càng bẩn thêm. Ở góc xa là bộ bàn viết và ghế trầy trụa, xước xát.
Trong phòng có cả nhà tắm nhưng Porter không buồn xem qua. Chuyện đó để từ từ. Thay vì vậy, anh đặt va li lên giường rồi bước tới bên cửa sổ. Anh vén tấm rèm dày cộp ra. Đứng từ đây có thể trông thấy ánh đèn trại giam ở đằng xa, lác đác những ô cửa sổ nhỏ hẹp vẫn sáng lên trong đêm khuya vắng.