Nhật ký
“Cháu cảm thấy thoải mái chứ, Anson?”
Ông ta mỉm cười với tôi, nhưng nụ cười ấy không thật. Nó là kiểu cười người ta hay đeo khi dự một buổi dạ tiệc, buổi gây quỹ, hoặc lễ trao giải, kiểu cười dễ thường biến mất ngay khi người đó khuất dạng phía sau cánh cửa vừa khép lại, rời xa ánh mắt soi mói của những người xung quanh. Tôi chưa bao giờ tham dự dạ tiệc, buổi gây quỹ hay lễ trao giải, nhưng tôi có đọc những bài báo viết về chúng. Có lần, mẹ mang về một cuốn tạp chí People, trong đó tràn ngập những nụ cười kiểu ấy, lịch thiệp nhưng vô hồn.
“Cháu có muốn uống gì không?”
“Không ạ, thưa ông.”
“Thật là lễ phép.” Bác sĩ Oglesby nói, mắt nhìn xuống cuốn sổ ghi chép. “Cháu ở đây đã được một tuần rồi, vậy mà ta cảm thấy chúng ta hầu như vẫn chưa biết gì về nhau cả.”
Ông ta có vóc người không lớn lắm, chắc chỉ cao hơn tôi chừng dăm ba centimet. Ai cũng gọi ông ta là “bác sĩ”, nhưng tôi chưa thấy ông ta mặc blu trắng bao giờ. Hôm nay ông ta mặc áo len họa tiết quả trám màu xám pha đen cùng với quần kaki. Ông ta có hơi thừa cân. Ngấn mỡ ở bụng phòi ra phía trên đai quần mỗi khi ông ta bắt tréo chân. Nhưng không nhiều. Có thể ông ta tập thể dục vài ngày mỗi tuần, chỉ một chút thôi - đống mỡ muốn lộ diện, cơ thể muốn được béo, nhưng ông ta vẫn kiểm soát nguy cơ béo phì. Tạm thời là vậy. Tôi không thể không tự hỏi mười năm nữa trông ông ta sẽ thế nào. Liệu ông ta có thay đổi suy nghĩ về chuyện mặc áo blu không? Tôi mà là bác sĩ thì tôi nhất định sẽ mặc.
Phòng làm việc của ông ta giống như một chiếc hộp lớn vậy.
Bốn bức tường sơn toàn một màu trắng toát, trên đó treo các loại văn bằng và ảnh chụp bác sĩ Oglesby nở nụ cười giả tạo bên cạnh những người cũng có điệu cười giả tạo y như thế. Khác với bàn làm việc thông thường ở Trung tâm Điều trị Camden, bàn của ông ta làm bằng gỗ, hẳn là ông ta tự mang đến. Các bàn khác hầu hết làm bằng kim loại màu xám.
Hai chúng tôi ngồi trên ghế phía trước bàn, quay mặt vào nhau. Chắc hẳn khi tham gia một trong những khóa học cấp cho ông ta đống bằng treo trên bức tường kia, vị bác sĩ tử tế này được dạy rằng tốt hơn hết nên ngồi ngang hàng với người bệnh. Bởi vậy, thay vì an tọa trên chiếc ghế da êm ái đằng sau bàn làm việc, ông ta chọn ngồi ngoài này với đám thường nhân.
Một tấm thảm phương Đông cỡ lớn phủ gần kín sàn gạch, rõ ràng là hàng nhái. Tuy tôi chưa bao giờ nhìn thấy thảm phương Đông thật, hay kể cả là đồ nhái đi nữa, nhưng cái thảm này có điều gì đó như muốn nói rằng nó là hàng giả. Chắc là do vết bẩn lạ lùng ở góc phía xa, bị chậu dương xỉ che đi gần hết.
“Một tuần.” Ông ta lẩm bẩm, gõ tập kẹp giấy đặt trên đùi. “Cháu có dùng thuốc gì không, Anson? Trước khi đến đây ấy? Bất cứ loại nào?”
Ông ta đã hỏi tôi câu này rồi, lần này là lần thứ tư. Tôi trả lời hệt như những lần trước.
“Không ạ.”
“Vì ta thấy cháu có vẻ bứt rứt, giống như người đang trải qua các giai đoạn cuối của quá trình cai thuốc. Vài y tá đã nhận xét như vậy trong hồ sơ bệnh án của cháu. Ngoài ra, cháu còn có hiện tượng đổ mồ hôi và co giật trong đêm. Đó đều là những dấu hiệu của việc cai thuốc.”
Tôi không nói gì.
“Có phải là chlorpromazine hay fluphenazine không? Hay là haloperidol, loxapine*?”
*Chú Thích:
Các loại thuốc kể trên đều là thuốc chống loạn thần.
Tôi vẫn lặng thinh.
“Haloperidol hả? Cháu biết không, khi nhắc đến cái tên này, ta nhận thấy phần cơ bên dưới mắt trái của cháu khẽ giật. Chứng tỏ cháu có biết loại thuốc đó. Một cậu bé ở tuổi cháu sao có thể biết được một loại thuốc như thế trừ phi nó được bác sĩ chỉ định và ngày nào cháu cũng trông thấy tên thuốc trên lọ?”
Mặt tôi đỏ bừng. Tôi từ tốn hít một hơi thật sâu.
“Haloperidol không phải loại thuốc muốn bỏ là bỏ ngay được đâu. Nếu bác sĩ cảm thấy cần điều chỉnh hoặc loại bỏ nó khỏi liệu trình điều trị, bệnh nhân sẽ phải giảm dần liều lượng theo thời gian. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định tạm thời bổ sung một loại thuốc khác có dược lực yếu hơn để giảm bớt những tác động có hại khi hạ liều dùng.”
Bác sĩ Joseph Oglesby có đeo kính. Mắt kính không dày lắm, và tôi không khỏi thắc mắc liệu ông ta có thực sự cần đến nó không. Ông ta có vẻ giống kiểu người đeo kính chỉ để tô đậm hình tượng bác sĩ, để vào vai tốt hơn. Cặp kính nối với một sợi dây bằng bạc ông ta tròng vào cổ, cứ chốc chốc lại bỏ ra rồi đeo lên, giống như một cách để kết lại câu nói hơn là công cụ hỗ trợ thị giác. Cái kiểu kính có dây đeo cổ khiến tôi liên tưởng đến thủ thư. Nhưng ông ta mà là thủ thư nỗi gì. Ngồi đây, tôi có thể trông thấy lớp bụi bám đầy trên những cuốn sách xếp thành hàng trên mấy cái kệ đằng kia.
“Đột ngột ngưng dùng haloperidol có thể dẫn đến các hiện tượng mất ngủ, bất an, bứt rứt, lo âu, trầm cảm, buồn nôn, co giật, thậm chí là ảo giác. Cháu có thấy chân mình đang gõ nhịp trên sàn không? Với tốc độ nhanh như thế ấy mà? Đó là dấu hiệu chắc chắn. Có lý do gì khiến cháu không muốn dùng thuốc nữa không, Anson? Có phải vì thế mà cháu nói dối ta?”
Tôi ngừng nhịp chân. Tôi không hề nhận ra mình đang nhịp chân.
Tôi sẽ không làm thế nữa.
Ông bác sĩ đặt đầu bút lên môi, cặp mắt dán vào tôi, sau đó ông ta viết gì đó vào bệnh án. “Từ đó đến nay đã được một tuần, nghĩa là cháu đã qua giai đoạn tồi tệ nhất. Ta không thấy có lý do gì để cho cháu dùng tiếp vào thời điểm này. Nếu cảm thấy cần phải uống, cháu sẽ nói với ta chứ? Chúng ta sẽ cùng nhau xem xét lại việc dùng thuốc, được không?”
Tôi không muốn nhưng vẫn phải gật đầu.
Lại là nụ cười đó, nụ cười rất mơ hồ, chỉ thấp thoáng nơi khóe miệng ông ta.