Đứa Trẻ Thứ Sáu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 45

❊ ❊ ❊

Poole

Ngày 5 - 2:00 chiều

“Máu của ngài thị trưởng à?” Nash hỏi, bước gần hơn tới giường.

“Tôi không biết.” Warnick đáp. “Khi chúng tôi phát hiện ra căn phòng đã thế này rồi.”

Không giống hai người kia, Poole không cử động gì sau khi vào phòng ngủ. “Đây là hiện trường tội ác, nó phải được cách ly. Bao nhiêu người đã vào phòng này rồi?”

“Nhiều lắm.” Warnick bước đến chỗ tủ quần áo. “Nhân viên an ninh của ngài thị trưởng đã lau chùi mọi bề mặt và cố gắng làm sạch cái đống trên giường rồi mới gọi cho tôi. Từng phân vuông cái không gian này đã bị làm ô nhiễm ít nhất một giờ đồng hồ. Mấy tên ngu ngốc.”

“Nếu kẻ nào đó làm ngài thị trưởng bị thương, tại sao nhân viên an ninh của ông ta phải cố che đậy nó?” Nash hỏi.

Poole biết ngay câu trả lời. “Bởi vì đây không phải là lần đầu tiên ngài thị trưởng để lại sau lưng một đống hỗn độn. Họ nghĩ rằng làm thế là để giúp.”

Warnick dò xét Poole, cân nhắc câu trả lời của anh ta. “Thói tự do phóng túng… của ngài thị trưởng… đôi khi có thể gây khó chịu. Chẳng có gì quá điên rồ đâu, những người phụ nữ đó luôn được đền bù đầy đủ, họ biết mình đang dây vào ai. Chúng tôi từng có những vết bầm tím trong quá khứ. Có lần còn cả một ngón tay bị gãy. Nhưng chưa bao giờ như thể này, chưa bao giờ có máu.”

“Nhưng vì ông ta từng làm họ bị thương trong quá khứ, nên nhân viên của ông ta cho rằng…”

“Họ là một lũ đần.” Warnick nhắc lại.

Nash đi vòng quanh phòng, nhìn xuống dưới gầm giường, trong phòng tắm, trong nhà vệ sinh. “Người phụ nữ kia đâu?”

Warnick nhún vai. “Họ cho rằng cô ta bỏ chạy rồi. Chẳng thấy cô ta đâu hết. Tôi trích xuất camera an ninh nhưng tất cả loạn hết cả lên - các dữ liệu thời gian sai bét, đoạn phim thì hoàn toàn không có thứ tự gì hết. Máy quay được lắp tại tất cả những nơi công cộng, cả trong thang máy nhưng chẳng tìm ra được bất kỳ ai vào hay ra khỏi phòng này đêm qua.”

Poole liếc nhìn Nash nhưng cả hai không ai nói gì.

Nash dừng chân tại tủ quần áo, đứng cạnh Warnick. Cả hai người đang nhìn lên một tấm gương. Khi Poole đến đứng cạnh họ, anh đã hiểu lý do. Trên tấm gương, được viết bằng một thứ như là xà phòng là dòng chữ Cha hay tha thứ cho con.

Tương tự những phụ nữ được phát hiện sáng nay. Tương tự các nạn nhân tại bệnh viện và người đàn ông dưới Simpsonville. Anh liếc quanh phòng, nhìn xuống sàn nhà. “Có tìm thấy muối ở đâu không?”

“Muối á?” Warnick lắc đầu. “Không. Sao lại có muối?”

Nash chắc cũng nghĩ ra điều tương tự. Anh ta nhìn quanh phòng và nhận ra một thứ gần cửa phòng tắm. Anh ta bước đến rồi quỳ xuống. “Ở đây có một ít. Không nhiều lắm. Chỉ một ít dây trên thảm thôi.”

Poole hất đầu về phía thùng rác trong góc nhà. Phần còn lại của tờ giấy gói muối nằm ở dưới đáy thùng. Nash lấy từ trong túi ra túi đựng bằng chứng rồi dùng nhíp gắp gói giấy lên cho vào túi, dán kín miệng túi rồi bỏ vào túi áo.

Poole kiểm tra cái máy quay phim… nó trống rỗng. “Anh còn giữ cuộn băng không?” Anh hỏi Warnick.

“Khi chúng tôi thấy thì nó đã thế rồi.”

Poole không rõ mình có nên tin anh ta không. Nếu trong cuốn băng có bằng chứng hoặc những hình ảnh tố cáo tội ác của ngài thị trưởng, nó sẽ là thứ chẳng ai muốn bị nằm trong tay sai đối tượng và Poole nhanh chóng có ấn tượng rằng bất kỳ người nào ngoài Warnick cũng đều không đúng hết. “Không tìm được cho tôi cuốn băng sẽ bị xem là tội hủy chứng.”

Warnick bước một bước gần hơn. “Không có cuộn băng nào cả.”

Đôi mắt anh ta gặp ánh mắt Poole, cả hai cùng nhìn đi chỗ khác. “Chúng ta biết gì về cô ta?” Nash hỏi, cúi người xuống giường. Ánh mắt Warnick nhìn xoáy vào Poole một lúc nữa, rồi quay sang Nash. “Người phụ nữ á?”

“Vâng.”

“Đây mới là chỗ mọi thứ rối tung hết.”

Nash khịt mũi. “Anh nói thật đấy chứ?”

Warnick tảng lờ anh ta. Anh ta lại quay đầu về phía cửa ra vào đang mở rồi hét lên. “Beddington!”

Một lúc sau, một người đàn ông đi vào. Dáng người lực lưỡng, cơ bắp cuồn cuộn, tầm tuổi bốn mươi với mái tóc mỏng màu đen. Hàng râu mọc lởm chởm trên gương mặt anh ta và tình trạng bộ đồ mặc trên người cho thấy anh ta đã ở đây cả đêm. Dưới hai mắt anh ta xuất hiện những quầng thâm. Warnick giới thiệu mọi người với nhau. “David đây là người quán xuyến chi tiết an ninh cho ngài thị trưởng kể từ ngày bầu cử.”

“Trước đó nữa ạ.” Beddington đáp. “Ngài ấy đã thuê tôi khi vẫn còn đang trong chiến dịch. Hồi ngài ấy hẵng còn trong hội đồng thành phố.”

Warnick sốt ruột vung tay trong không khí. “Kể cho họ nghe những gì anh đã nói với tôi, về người phụ nữ ấy.”

Beddington ném sang Warnick cái nhìn căng thẳng.

“Không sao đâu. Họ cũng làm theo lệnh mà - không một chi tiết nào được lọt ra khỏi phòng này.”

Poole không biết rằng mình được nhận lệnh nhưng anh chẳng nói gì. Nash cũng vậy.

Beddington đổi trụ sang chân trái, nhìn xuống sàn nhà. “Ngài thị trưởng hay sử dụng dịch vụ đặc biệt cho những cuộc gặp gỡ như thế này. Giờ thì chỉ đôi khi thôi.” Anh ta thò tay vào trong túi áo ngực trên áo khoác, lấy ra một chiếc điện thoại rẻ tiền. “Chúng tôi luôn luôn gọi từ một trong các số này, không bao giờ dùng số thường liên lạc vì…”

“Chúng tôi hiểu tại sao.” Warnick ngắt lời. “Vào thẳng vấn đề đi.”

Beddington gật đầu bỏ tọt điện thoại vào túi. “Tôi đi làm muộn nên tôi gọi từ trong xe mình. Khi đến đây thì cô ta đã chờ sẵn trong phòng ngủ - tôi nhìn thoáng qua thấy cô ta đang đi lại xung quanh. Cả ngài thị trưởng nữa. Ông ta đóng cửa lại khi trông thấy tôi. Tôi không biết làm thế nào cô ta đến được trước tôi trong cái thời tiết chết giẫm này, nhưng mà cô ta đã làm được. Tôi không suy nghĩ nhiều về chuyện này nữa, cũng chẳng có thời gian mà nghĩ vì tôi đang phân tâm bởi một chuyện khác.”

“Chuyện khác?”

“Vợ của ngài thị trưởng. Bà ta nắm thóp ông chồng nên bà ta gọi cho tôi. Lần nào cũng thế, như cái đồng hồ. Ông ta nói quan hệ của hai vợ chồng như kiểu mở sao đó, nhưng nói chuyện với bà ta suốt bao năm qua, thì tôi thấy không phải như vậy. Tôi bước vào trong hành lang để nói chuyện với bà ta, khiến bà ta bình tĩnh lại, cuối cùng là đến thang máy lên tầng gác lửng - sóng ở đó tốt hơn - và chúng tôi đã nói chuyện trong gần một giờ. Bà ta tốt lắm. Nói chuyện rất vui. Khi tôi quay về phòng mình, tôi thấy một người phụ nữ từ nhà môi giới đang đứng trong tiền sảnh, là người mà tôi đã gọi đến. Cô ta nói chẳng có ai ra mở cửa hết - đây không phải là người tôi đã thấy trong phòng kia một giờ trước, mà là người hoàn toàn khác - trẻ hơn, tóc vàng. Đến lúc ấy tôi mới biết có chuyện không ổn. Tôi trả tiền cho cô ta bảo cô ta quay về đi, sau đó lấy thẻ từ của mình quay vào trong phòng và phát hiện ra đống hỗn độn này.” Anh ta chỉ tay về phía cái giường đẫm máu. “Tôi đã gọi cho những người khác, họ bắt đầu lau dọn hết mọi thứ, và tôi trông thấy chiếc điện thoại dùng một lần của ngài thị trưởng trên tủ quần áo. Tôi đã cho rằng chính ngài ấy đã gọi cho nhà môi giới, đánh chết tôi đi, vì tôi đã đi làm muộn. Khi tôi kiểm tra lịch sử cuộc gọi, tôi nhận ra ngài ấy cũng không hề gọi. Những cuộc gọi khác đều ở đấy, nhưng cuộc gọi ấy thì không. Không ai trong số chúng tôi gọi điện cho người phụ nữ đầu tiên. Đó là lúc tôi gọi cho ngài Warnick.”

Poole quay sang Warnick. “Anh là ai thế, chuyên gia dọn dẹp rắc rối của thị trưởng à?”

“Tôi là người đã gọi cho sếp của cả hai người, bảo họ rằng chúng tôi đang gặp phải vấn đề nghiêm trọng cần những người ưu tú ở Chicago giải quyết. Chuyện này không thể để lộ ra ngoài được. Không một từ nào được lọt ra.” Anh ta giơ hai ngón tay lên chỉ về phía cửa phòng sau lưng Maddie Abel, các đoạn phim vẫn đang phát lại trước mặt cô ta. “Một trong số hai tên này phải chịu trách nhiệm. Chúng tôi cần tìm ra là kẻ nào để còn đưa ngài thị trưởng quay về trước khi chuyện này bị lộ ra.”

Nash hất đầu về phía giường. “Với lượng máu lớn như thế này nhiều khả năng ngài thị trưởng sẽ không về nữa đâu.”

“Ngài ấy nặng gần một trăm hai mươi bảy cân, một phụ nữ không thể nào mang ngài ấy ra khỏi đây được. Có thể cô ta chĩa súng vào đầu ngài ấy, hoặc là dùng dao, nhưng bằng cách nào đó ngài ấy đã tự nguyện bước ra khỏi đây.”

Nash nói. “Có thể sử dụng rổ đựng đồ giặt là, xe đẩy của dịch vụ dọn phòng, có đến hàng triệu cách đưa một tấm thân bồ tượng như thế ra khỏi khách sạn này.”

“Có thể là Vincent Weidner.” Poole gợi ý.

Warnick nhăn nhó. “Cha quản giáo ở New Orleans ấy hả?”

“Y đã trốn thoát rồi. Porter nói tên y có trong các cuốn nhật ký. Có thể y có liên quan.”

Warnick xua xua tay trong không khí. “Quên mấy cuốn nhật ký đi. Nếu Porter trả tiền cho tên Upchurch viết chúng ra, thì tất cả là rác rưởi hết.”

Poole lại quay sang Beddington. “Anh có thể cho chúng tôi biết thêm gì về người phụ nữ anh đã thấy ở trong này không?”

Beddington gãi gãi mũi rồi lắc đầu. “Tôi chỉ trông thấy cô ta chừng nửa giây thôi. Cô ta đi lướt qua ngưỡng cửa mở rộng. Tôi không nhìn được rõ lắm.”

“Cố gắng nhắm mắt lại, đôi khi giúp được đấy.”

Anh ta làm theo, cắn một bên môi. “Lùn. Có thể cao gần 1,5m hoặc 1,6m. Tóc nâu, chấm ngang vai. Cô ta mặc váy đen bó sát thân thể, cặp giò đẹp lắm.”

“Còn gương mặt cô ta?”

“Tôi không thấy mặt cô ta.”

“Tôi muốn có số điện thoại của nhà môi giới anh đã gọi.” Poole nói với anh ta.

Beddington nhăn nhó. “Hai người không nghe rõ à? Cô ta không đến từ nhà môi giới mà cô ta đã đến đây từ sớm rồi.”

“Vậy làm sao cô ta tới đây được? Nếu nhà môi giới không cử cô ta đến, làm sao cô ta biết mà đến khách sạn này, đến đúng phòng này như thế?”

“Chẳng có bí ẩn gì ở đây hết.” Warnick đáp. “Thứ Hai nào ngài thị trưởng cũng làm trò này - cũng giờ đó, cũng phòng đó. Anh có thể đặt chuông đồng hồ dựa theo cái ấy của ông ta. Chính vì thế nên bà vợ mới biết. Chính vì thế nên nhân viên của ông ta mới biết. Mọi người ở khách sạn này cũng đều biết. Tôi đã nói chuyện với nhà môi giới rồi - ngõ cụt. Tôi không muốn anh phí thời gian với họ. Người đàn bà này bằng cách nào đó đã nghe phong thanh được về lịch trình của ngài thị trưởng, biết rằng ông ta sẽ đến đây và lên kế hoạch từ đó. Có thể cô ta không chỉ có một mình, nhưng cô ta không cùng hội với họ.”

“Có phải là quán Pizza của Carmine không?” Nash hỏi.

Warnick quay về phía anh ta. “Làm sao anh biết được?”

“Cái tên Carmine đã xuất hiện trên danh sách các công ty của Arthur Talbot vài tháng trước, hồi chúng tôi kiểm soát tài chính của ông ta. Công ty này cũng bị dán cờ đỏ vì đi đầu trong ngành dịch vụ mại dâm cao cấp. Họ đang chịu sự giám sát suốt cả năm nay rồi.” Anh ta quay sang Poole. “Khi chúng ta quay về Sở Cảnh sát Chicago, chúng ta có thể trích xuất các đoạn phim, nhưng tôi nghĩ Warnick đã đúng. Cô ta hẳn sẽ không thông qua họ đâu, như thế quá dễ bị tóm.” Nash lại quay sang Beddington. “Cái tên Sarah Werner có ý nghĩa gì với anh không?”

Beddington lắc đầu.

Warnick nhăn nhó. “Người phụ nữ mà Porter nói đã ở cùng anh ta tại New Orleans phải không? Anh nghĩ là bà ta à?”

Nash nhún vai. “Mô tả giống nhau. Tóc nâu chấm ngang vai.”

“Tại sao bà ta lại tấn công ngài thị trưởng?”

Không ai trả lời được câu hỏi đó. Poole quay nhìn lại cái giường vẻ tức giận. “Chúng ta cần đội CSI đến đây. Có ai trong hai người biết nhóm máu của ngài thị trưởng là gì không?”

“Ôi không.” Warnick phản pháo. “Không được gọi CSI, không được chụp ảnh. Không ai khác được phép vào căn phòng này. Không ai khác được biết ngài thị trưởng đang mất tích, thông tin cần phải được giữ kín như thế.”

“Thế thì chính xác anh cần chúng tôi làm gì?”

“Tôi muốn các anh tìm ra kẻ nào đã bắt ông ta đi và tìm cho ra ông ta, mà không làm bung bét mọi chuyện ra. Tôi muốn ngài thị trưởng quay về giường vào lúc nửa đêm như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, và Porter hay Bishop, hay bất kỳ kẻ nào chịu trách nhiệm, sẽ bị mục ruỗng trong tù ở nơi nào đó. Tôi muốn người dân Chicago nghĩ rằng mọi thứ đều ổn cả, và thấy an toàn khi đi dạo trên phố. Tôi muốn hai người các anh làm tốt công việc của mình.” Warnick nói. Anh ta rút ra con dao, bước đến bên giường và cắt một mảnh nhỏ ga trải giường đẫm máu rồi chìa ra. “Đây là mẫu máu của anh. Ngài Thị trưởng có nhóm máu A+.”

“Anh không nghiêm túc đấy chứ?”

“Không ư?” Bàn tay tự do của anh ta rút điện thoại di động ra, quay số bật loa ngoài. Poole nhận ra giọng của người nghe máy ngay lập tức. Warnick nói. “Hurless à? Bảo chàng trai của anh làm công việc của anh ấy đi.”

“Thưa sếp?” Poole nói.

Phía bên kia đầu dây, Đặc vụ Toàn quyền Hurless hắng giọng. “Làm như anh ta nói đi, Frank.”

“Người này đã làm ô nhiễm hiện trường và đang cố gắng che đậy nó.”

Hurless nói. “Chẳng có ai che đậy cái gì cả. Căn phòng sẽ bị niêm phong, bằng chứng không chạy đi đâu được cả. Vào lúc này, ưu tiên hàng đầu là tìm ngài thị trưởng mà không gây ra hốt hoảng. Quay về Sở thẩm vấn Bishop và Porter. Một trong hai tên này biết chính xác chuyện gì đang diễn ra. Đó là ván cược tốt nhất của chúng ta.”

“Tôi rất khó chịu với chuyện này.” Poole phản pháo. “Rất khó chịu đấy.”

“Chúng tôi sẽ phong tỏa nó trong vòng ba giờ. Nếu đến lúc ấy mà anh còn không tìm được ngài thị trưởng, tôi sẽ gọi Đội Phản ứng Bằng chứng đến cày nát căn phòng đó. Chúng ta sẽ mời cả báo chí tham gia nếu cần phải thế, nhưng ngay bây giờ chúng ta không thể mạo hiểm để thông tin bị rò rỉ.” Ông ta dừng lại một lát, rồi nói thêm: “Tôi sẽ gọi thêm một người nữa tham gia nếu cần thiết, nhưng tôi không muốn phí thời gian gọi thêm đặc vụ nữa để đẩy nhanh tiến độ.”

Gương mặt Warnick càng đỏ hơn. “Không thêm ai nữa. Thêm đặc vụ nữa nghĩa là thêm nguy cơ rò rỉ nữa. Thêm thời gian bị phí phạm là thêm nhiều người chết nữa, chúng ta…”

Hurless cắt lời anh ta. “Anh đã cho họ xem cái hộp chưa?”

“Chưa đâu.”

Poole liếc sang Warnick. “Hộp nào?”

Trên điện thoại Hurless nói. “Làm xong việc ở đó đi rồi quay về Sở. Đồng hồ đang kêu tích tắc đấy.”

Nói rồi ông ta gác máy.

“Hộp nào?” Poole hỏi lại.

“Nó chẳng có liên quan gì đến ngài thị trưởng.” Warnick nói.

“Anh phải hiểu điều đó.”

“Anh ấy nói đúng đấy.” Beddington nói. “Ông ta chẳng liên quan gì đến cái thứ ấy đâu. Tôi đã quen biết ông ấy từ lâu rồi. Tôi chắc chắn về điều đó.”

Poole ngày càng tức giận. “Hộp-nào?”

Warnick quay lại tủ quần áo, giật mở ngăn kéo trung tâm trên cùng ra, rồi lùi lại. Poole và Nash nhìn nhau, rồi bước đến dòm vào ngăn kéo.

Chiếc hộp màu trắng không to hơn cỡ 8,5x11 inch, bằng kích cỡ một mẩu giấy. Nắp hộp và sợi dây buộc màu đen bị xé ra vứt sang một bên khi ai đó đã mở hộp. Bên trong hộp có ít nhất một trăm bức ảnh những đứa trẻ vị thành niên chụp bằng máy Polaroid - cả trai lẫn gái, rất nhiều tấm chúng không mặc quần áo. Vài đứa mỉm cười vào máy ảnh, còn phần lớn là căng thẳng, mắt nhìn vào cái gì đó hay ai đó ngoài máy ảnh, đứng gần hoặc đằng sau thợ chụp ảnh.

Poole lại nhìn Nash rồi lấy ra chiếc găng tay nhựa từ trong túi đeo vào tay. Anh vươn tay ra lấy một trong các bức ảnh rồi lật đằng sau. Được viết bằng nét chữ nắn nót đằng sau bức ảnh là dòng chữ: 203. WF15 3k. LM.

Họ đã từng thấy những bức ảnh như thế này. Trong một chiếc hộp to hơn nhiều được phát hiện trong căn hộ của Anson Bishop.

“Ngài thị trưởng không thích trẻ con đâu.” Beddington nói.

Poole không lắng nghe nữa, anh đang mải nhìn chằm chằm xuống một thứ khác, nó được viết trên mặt trước của một trong những bức ảnh bằng mực đen đã nhòe. Dòng chữ có đoạn, Này Sam, còn nhớ tôi không?

Nhưng thật lạ lùng, không phải dòng chữ viết tay là thứ thu hút sự chú ý của anh, mà là chiếc áo len chui đầu của thằng bé, trang trí huy hiệu của một đội bóng chày - Charleston Riverdogs.

kín trong giấy bóng, hai cuốn đã long bìa và mấy chồng giấy đánh máy buộc chặt vào với nhau bằng các kẹp ghim nặng. Poole bước đến cầm lên một trong những cuốn vở bài tập. Trên bìa có kẹp một chiếc bút chì, vài trang giấy rời ra được gấp lạ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.