Nash
Ngày 5 - 8:30 sáng
Nash nhún vai qua làn áo khoác khi cửa thang máy dưới tầng hầm của Sở Cảnh sát Chicago mở ra. Bình thường vốn vắng hoe, hành lang giờ đây nhộn nhịp những hoạt động. Ngay khi cửa thang máy mở ra, một đứa nhóc tuổi chừng hai mươi bước vào trong, tay đẩy chiếc xe chất đầy các thùng đựng tài liệu.
Nash đã nhận ra những cái hộp.
“Cậu đưa mấy cái này đi đâu thế?”
“Roosevelt.” Thằng nhóc đáp.
Nash để ý thấy phù hiệu FBI gắn trên thắt lưng thằng nhóc. “Theo lệnh của ai?”
Thằng nhóc vươn tay ra nhấn vào cái nút lên tầng trệt. Nó chỉ ngón tay phải về phía tiền sảnh. “Nếu anh có thắc mắc, vui lòng nói chuyện với Đặc vụ Poole.”
Khi cửa thang máy sắp đóng, Nash kịp đưa chân chặn lại. Cửa ngừng lại rồi tiếp tục mở ra, anh vươn tay về phía bảng điều khiển thang máy nhấn nút xuống từng tầng rồi bước ra ngoài.
Thêm một đặc vụ trẻ nữa bước qua anh, tay đang đẩy một xe có thêm bốn cái hộp nữa.
Đội đặc nhiệm 4MK đã hoạt động dưới tầng hầm được vài năm, trong một không gian họ gọi là Phòng Tác chiến. Họ thấy ngồi dưới hầm sẽ giúp họ tập trung hơn là ngồi trong văn phòng cùng tất cả các thanh tra khác. Quá nhiều câu hỏi, quá nhiều ánh mắt soi mói, quá nhiều rò rỉ ra giới truyền thông. Sự cô lập sẽ chấm dứt mọi phiền toái. À, phần lớn phiền toái. Vài tháng trước, khi Anson Bishop được xác định là sát thủ 4MK và đã trốn thoát, FBI bèn tiếp quản cuộc điều tra. Họ chiếm luôn cả không gian đối diện với Phòng Tác chiến bên kia hành lang. Porter khăng khăng cho rằng chuyện này chỉ là tạm thời, hoặc Bishop sẽ bị tóm cổ hoặc FBI sẽ trả lại vụ này cho lực lượng thực thi pháp luật địa phương một khi tin hot này không còn chiếm trang nhất trên các tạp chí, nhưng điều ấy không bao giờ xảy ra. Thay vào đó, mọi thứ leo thang. Mọi chuyện đang ngày càng tệ đi.
Trước tiên Nash ngó vào văn phòng FBI - bốn đặc vụ, nhưng anh chẳng biết ai. Tất cả đều đang đóng gói các thùng tài liệu và chất đống chúng gần cửa ra vào.
Bên kia hành lang, trong Phòng Tác chiến, anh thấy Đặc vụ Frank Poole đang ngồi trên ghế trước phòng, nhìn trừng trừng ba tấm bảng bằng chứng màu trắng.
Nash cảm thấy mặt mình đỏ bừng giận dữ khi bước vào trong. “Chuyện quái gì đây Frank?”
“Đặc vụ Toàn quyền Hurless muốn tổng hợp lại mọi thứ ở văn phòng chi nhánh FBI tại Roosevelt. Chúng tôi đã có thông tin chi tiết gửi đến từ New Orleans và Simpsonville - sáu cái xác được phát hiện dưới hồ… căn nhà… mọi thứ Sam đã sục sạo suốt từ lúc anh ta rời Chicago đến khi chúng tôi tìm ra anh ta tại Khách sạn Guyon.”
“Tại sao chúng ta không thể làm thế ở đây?”
“Đó không phải là quyền của tôi.” Poole đáp, không rời mắt khỏi các tấm bảng. “Anh thân thiết với ngài thị trưởng đến mức nào?”
“Tôi á? Tôi đã gặp ông ta hai lần tại các buổi họp mặt quan trọng ở thành phố, đã bắt tay và chụp ảnh cùng ông ta. Tôi không nghĩ ông ta biết tôi là ai đâu.”
“Thế còn Anthony Warnick từ văn phòng của ông ta?”
“Hôm nay tôi vừa gặp anh ta.” Nash đáp. “Sao thế?”
Poole vẫn không ngước mắt lên. “Warnick đã gọi đến văn phòng thị trưởng. Thị trưởng đã gọi cho giám sát của giám sát viên của tôi, và trong chưa đầy năm phút tôi nhận được lệnh phải bổ sung thêm anh vào cuộc điều tra này. Mười phút trước đó Đặc vụ Toàn quyền Hurless muốn tôi kiềm chế anh với Sam. Kẻ nào đó đang nắm thóp ai đó. Chẳng điều gì khác giải thích được sự thay đổi chóng vánh như thế.”
Poole đứng dậy, bước ngay đến tấm bảng đầu tiên và chỉ tay vào mấy từ được viết kèm thông tin về Arthur Talbot - Bạn bè với thị trường.
“Chắc Sam đã viết ra dòng này.” Nash nói. “Chúng tôi biết Talbot đã chơi golf với ông ta. Cũng nằm trong chiến dịch tranh cử của ông ta. Các dự án bất động sản của ông ta đều là các dự án quy mô lớn. Tôi không thể hình dung nổi những chuyện này lại xảy ra mà ngài thị trưởng lại không có dính líu.”
“Anh có liên kết ông ta với bất kỳ tội ác nào không?”
Nash lắc đầu. “Chẳng có gì rõ ràng hết. Tôi không biết có ai nhìn nhận như thế nữa không. Talbot mới là trọng tâm của chúng tôi, không phải thị trưởng.”
“Tôi nghĩ ông ta gài anh vào đây làm tai mắt cho mình.” Poole thẳng thừng nói.
Nash nhếch mép. “Nếu đúng thế thì ông ta chọn nhầm người rồi. Tôi có nói chuyện với ông ta đâu.”
Poole im lặng một lúc, rồi nói: “Anh còn bất kỳ điều gì lấn cấn trong đầu về ông ta không?”
Lần này thì Nash phá lên cười. “Anh nghĩ ông ta dùng vũ lực đe dọa tôi hay sao thế?”
Poole nhún vai.
“Không có chuyện ấy đâu.” Nash khăng khăng. “Ông ta chẳng có gì để khống chế được tôi. Tôi là một hướng đạo sinh.”
Poole há miệng định nói gì đó đáp lại nhưng đổi ý. Thay vào đó, anh ta hắng giọng. “Tập trung vào vụ án thôi vậy.”
“Vâng, cứ làm vậy thôi.”
Poole gõ gõ mấy ngón tay lên thành ghế thành vài tiếng gõ có nhịp điệu, rồi lại hướng mắt lên các tấm bảng. “Vài tiếng trước, tôi nhận được cuộc gọi của cảnh sát trưởng ở Simpsonville, Nam Carolina. Chị ta phát hiện một nam giới có tư thế ngồi quỳ trên các bậc thềm ở tòa án, tương tự như hai phụ nữ chúng ta đã phát hiện ở đây. Mắt, tai và lưỡi bị móc và cắt ra, đặt vào trong những chiếc hộp màu trắng thắt dây đen nằm cạnh xác chết. Những từ như “Cha hãy tha thứ cho con” được viết gần đó. Khắp người ông ta phủ một chất bột trắng, giống hệt hai người chúng ta phát hiện ở đây. Vẫn chưa nhận được tin gì từ phòng thí nghiệm, nhưng tôi nghĩ chúng có thể là muối.”
“Chết tiệt, như thế nghĩa là hôm nay chúng ta có bốn cái xác.” Nash đáp.
“Cái gì?”
“Clair đã gọi cho tôi. Cô ấy tìm thấy một người đàn ông, một bác sĩ tên là Stanford Pentz, họ phát hiện ra ông ta trong văn phòng của mình tại Stroger. Giống với những người khác ở mấy cái hộp và chất bột trắng.”
“Thế cái câu kia thì sao?”
Nash gật đầu. “Cha hãy tha thứ cho con. Nó được viết lên tờ đơn thuốc nằm trên bàn làm việc của ông ta.”
“Có cái gì viết lên trán ông ta không?”
“Không, đó là khác biệt duy nhất.”
“Trên trán người đàn ông được phát hiện tại Simpsonville cũng không viết gì.”
Poole suy nghĩ một lúc rồi nói. “Bệnh viện đang bị phong tỏa. Cô ấy có đoán được thời gian tử vong không? Làm sao có người vào trong đó được?”
Ba đặc vụ bước vào phòng và bắt đầu đóng thùng mọi thứ mang ra ngoài cửa.
“Để mấy tấm bảng lại đi.” Poole hướng dẫn.
Họ gật đầu rồi tiếp tục công việc.
Poole lại nhìn về phía trước phòng. “Bốn cái xác được phát hiện cách nhau chỉ vài giờ. Hai xác ở trong thành phố này, một xác trong bệnh viện đang bị cách ly rất nghiêm ngặt, một cái xác nữa cách bảy trăm dặm. Một mình Bishop không thể làm được.”
Nash túm lấy một cái ghế, ngồi xuống bên cạnh anh ta. “Anh có biết danh tính nạn nhân ở Nam Carolina không?”
Poole gật đầu. “Một người tên là Tom Langlin. Ông ta là người viết báo cáo ban đầu về vụ đốt nhà của Bishop ở đó hồi những năm 90. Ông ta nghỉ hưu khỏi phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy rồi.”
“Anh còn giữ báo cáo đấy không?”
“Vẫn còn ở Nam Carolina. Tôi mới xem qua thôi.” Poole ngả đầu ra sau, hai mắt nhắm nghiền. “Tháng Tám năm 1995. Trước thời của tôi. Có quy định về phóng hỏa tại chỗ. Tom Langlin đã viết báo cáo ấy. Ông ta giờ về hưu rồi nhưng vẫn sống ở vùng này, tôi có thể lái xe đưa anh đến nhà ông ta nếu anh nghĩ là hữu ích. Theo báo cáo, toàn bộ vùng này bốc mùi gas nồng nặc. Vào lúc những chiếc xe tải đến nơi, cả ngôi nhà đã bị cháy rụi. Họ phát hiện ba xác chết trong nhà, tất cả đều là nam giới. Nguyên nhân chết được ghi là không xác minh được do tình trạng bị cháy. Một người sống sót, Anson Bishop, mười hai tuổi. Thằng bé lúc đó đang đi câu cá ngoài hồ và quay về nhà khi trông thấy khói. Họ tin rằng bố hắn chính là một trong ba người được tìm thấy trong nhà, mẹ hắn bị nghi ngờ là người phóng hỏa - có vẻ như bà ta đã mất tích. Thông tin về bà ta được phát trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn chưa biết bà ta đang ở đâu. Chiếc xe rơ-moóc phía sau nhà được thuê bởi Simon và Lisa Carter, họ cũng mất tích sau vụ cháy. Cũng chưa thấy báo cáo nào cho biết đã tìm được họ. Thằng bé vào Trung tâm Điều trị Camden nằm cách đây không xa.” Poole mở to mắt. “Điều này là cảnh sát trưởng cho tôi biết.”
“Được rồi, đáng sợ thật. Anh còn nhớ từng từ cuộc nói chuyện đó không?”
Poole vuốt tóc ra sau đầu, lại hướng sự chú ý lên mấy tấm bảng. “Tôi còn nhớ rõ lắm. Gần như rõ mồn một luôn.”
“Lạy Chúa, nửa giờ trước tôi còn chẳng nhớ nổi mình đỗ xe ở đâu.”
“Anh đừng nên làm thế.”
“Làm gì cơ?”
“Thói hài hước tự trào.” Poole đáp. “Tôi biết anh là người thông minh, anh rất giỏi trong công việc của mình. Hạ thấp bản thân xuống chẳng mang lại kết quả gì đâu. Nó khiến giá trị của anh bị hạ xuống trong mắt người khác đấy. Anh giỏi hơn thế mà.”
Khóe miệng của Nash nhếch lên thành nụ cười nhẹ, giọng anh trầm xuống. “Tôi sẽ cho anh biết một bí mật nhỏ, Frank ạ. Người ta thường có xu hướng mất cảnh giác trước những cảnh sát khờ. Anh sẽ ngạc nhiên khi biết vài mẩu chuyện cười và mấy bộ đồ xộc xệch có thể khiến người ta lơ là đến thế nào. Ai đó như anh bước vào trong phòng và mọi thằng khốn đều cau có. Mọi người sẽ lập tức phòng bị. Họ để ý từng từ một. Nhưng với tôi, họ chỉ muốn uống bia. Họ quên mất rằng mình đang nói chuyện với một cảnh sát.” Anh hất đầu về phía các tấm bảng. “Chút sự hài hước cũng giúp tôi đương đầu với tất cả những chuyện này. Trong căn phòng này có quá nhiều chết chóc có thể khiến ta bị ám ảnh nặng nề một thời gian.”
Poole thở hắt ra, nhìn xuống sàn. “Sam có phải là một phần trong chuyện này không?”
Nash chúi hai mu bàn tay vào hai ống quần. “Tôi rất muốn nói không. Tôi rất muốn nói tuyệt đối không đời nào. Tôi đã quen biết anh ấy rất lâu rồi và anh ấy là một trong những cảnh sát xuất sắc nhất tôi từng có hân hạnh làm việc cùng. Nếu anh hỏi tôi câu này một tháng trước, tôi cho rằng có lẽ tôi sẽ nói anh nghe tất cả những điều đó. Nhưng bây giờ tôi không chắc, và điều đó khiến tôi khiếp sợ. Anh ấy bị ám ảnh. Đánh mất lý trí. Đi chệch đường như vậy. Giúp người đàn bà ấy trốn ngục… Tôi không ngừng tự nhắc nhở bản thân rằng anh ấy để tôi tránh xa việc này là nhằm bảo vệ tôi, cả Clair và Kloz cũng thế, nhưng tôi không có cảm giác như thế. Tôi cảm thấy nó giống như giấu giếm, lừa dối. Nếu tôi phải viết tất cả những gì anh ấy đã làm lên một trong những cái bảng kia, không viết tên anh ấy lên trên đầu, mà chỉ cần nhìn vào bằng chứng, những hành động của anh ấy, thì anh ấy đã trở thành nghi phạm số một của tôi. Tôi đang có khoảng thời gian khó khăn với chuyện đó, nhưng tôi biết là nó đúng. Như đã nói, chúng ta có bốn cái xác mới và trong suốt quãng thời gian đó anh ấy đang bị giam giữ. Anh ấy không thể nào là người chịu trách nhiệm, nhưng điều ấy không có nghĩa là anh ấy cũng hoàn toàn trong sạch. Có điều gì đó anh ấy không nói với tôi, một chuyện nghiêm trọng, và dù là chuyện gì đi nữa thì nó đang ngày càng lớn dần suốt quãng thời gian chúng ta giải quyết vụ này. Tôi sẽ khiếp sợ đến chết khi biết chuyện đó là chuyện gì, nhưng người cảnh sát trong tôi sẽ không dừng lại cho đến khi tôi biết. Dù thế nào đi nữa, đó là cách mọi chuyện diễn ra.”
Cả hai im lặng trong vài phút, rồi Poole nói: “Tại Cục, họ tin rằng cuộc điều tra này có sự dàn xếp. Họ cho rằng đó là lý do tại sao 4MK nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật lâu thế.”
Khi Poole còn chưa nói hết câu, Nash đã lắc đầu. “Sở dĩ 4MK nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật lâu thế là do hắn chính là một thằng tâm thần chó chết, nên các động cơ của hắn trừ hắn ra không ai có thể hiểu nổi. Nếu Sam có liên quan, chữ nếu to đùng, điều đó không đúng với những gì anh ấy đã làm ở khía cạnh công việc. Anh đã thấy căn hộ của anh ấy chưa, cái bức tường ấy? Đó không phải là những hành động của kẻ đang cố gắng đánh lạc hướng vụ án, mà đó là cái nhìn thấu suốt vào tâm trí bị ám ảnh. Một người muốn hạ gục Bishop bằng mọi giá. Người đàn ông đang ngồi trong phòng thẩm vấn kia vẫn muốn điều đó.” Nash quay sang Poole. “Anh cần phải cho anh ấy đọc những cuốn nhật ký đó. Hãy để anh ấy giúp đỡ. Không cần biết anh có tin tưởng anh ấy hay không, không còn ai có thể đọc được suy nghĩ phức tạp của Bishop giỏi hơn anh ấy đâu. Anh biết thế, cho dù anh có chịu thừa nhận nó hay không.”
“Thùng hồ sơ đã được gửi đến chỗ anh ta mười phút trước rồi.” Poole nói.
Nash nhíu mày.
“Thế là anh bắt tôi nói suốt từ nãy đến giờ vô ích à?”
“Nói cái gì cơ?” Poole hỏi. “Tôi không nghe rõ.”
“À, vậy ra anh cũng thích đùa?”
“Chỉ lần này thôi.”
Poole đứng dậy rút di động ra chụp lại các tấm bảng. “Có buổi tóm tắt ngắn ba mươi phút tại Roosevelt. Ngài thị trưởng muốn anh phải có mặt.”
Nash không rõ liệu lời thông báo cuối cùng này có phải là trò đùa không.