Nhật ký
Tôi thấy cánh cửa dẫn vào kho thóc mở. Cánh cửa này rất lớn - đủ rộng cho cả máy kéo đi qua - được gắn vào hàng lan can phía trên. Cửa tuy mở không đủ rộng cho máy kéo đi qua, nhưng thay vào đó ai đấy đã trượt cửa sang bên khoảng hai feet. Tôi nhìn chằm chằm khe cửa trong vài phút, cố gắng quyết định xem người để cửa kho mở thế này đã đi vào hay đi ra.
Hơn vài tháng trước, đã có vài lần tôi vô tình thọc tay vào túi tìm kiếm sự an ủi trong lớp thép lạnh lẽo của con dao, cứ mỗi lần như thế những ngón tay tôi lại phải bỏ ra trong tuyệt vọng. Giờ cũng là một khoảnh khắc như thế. Để bước vào kho thóc mà không biết liệu có người trong đấy hay không thật là dại dột, tôi biết cha sẽ không khuyên bảo tôi làm thế, cũng như ông sẽ không vui nếu biết tôi đã làm thế, nhưng cha không có ở đây và có điều gì đó thôi thúc tôi bước vào trong kho thóc. Tôi không muốn nói có sức mạnh vô hình nào đó đã lôi kéo tôi, tôi không tin vào những thứ như thế, nhưng đó là những gì tôi cảm thấy. Như một phần trong tôi đã vào trong kho thóc đó và tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc lấy lại nó.
Tôi im lặng bước qua khe cửa, tiến vào không gian đen ngòm. Biết rằng mình đang để lại bóng dài qua khe hở sau lưng, tôi nhanh chóng lẩn sang bên trái - vừa đủ nép mình trong bóng tối. Tôi cảm thấy thoải mái trong bóng tối, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Khi còn bé tôi khiếp sợ bóng tối. Tôi sợ nhiều đến nỗi mẹ phải để đèn sáng liên tục trong phòng tôi, quàng lên bóng đèn chiếc khăn quàng để giảm bớt độ sáng. Biết chuyện này cha chỉ cười và trêu ghẹo tôi, nhưng tôi chẳng quan tâm. Tôi cần ánh sáng ấy cũng thật nhiều như tôi cần hơi thở. Tôi nghĩ đó là lý do tại sao ông ấy cướp nó khỏi tôi.
Khi bước vào phòng mình, vào cái đêm đặc biệt ấy, chiếc bóng đèn đã bị lấy đi. Tôi đã hỏi mẹ tôi về chuyện này, bà chỉ đưa một ngón tay lên môi rồi hất đầu về phía phòng khách của chúng tôi. Tôi hỏi bà tại sao cha lại cướp đi ánh sáng của tôi, chỉ mấy lời đơn giản thế thôi cũng đủ khiến gương mặt bà trắng bệch. Vấn đề không phải là câu chuyện tôi nói ra, mà là âm lượng giọng nói của tôi khi nói ra, cách tôi lớn giọng nói ra câu chuyện ấy mới là thứ khiến cha bước ra cửa.
“Đi với cha.” Ông nói.
Và cho dù tôi có thể đoan chắc mẹ nhưng muốn phản đối, nhưng bà không làm thế, khi dẫn tôi đến cánh cửa tầng hầm và bước xuống cầu thang. Trên đường quay ra, ông tháo hết từng bóng đèn, lấy ngọn đèn phía trên đầu cầu thang rồi khóa cửa. Từ bên kia cánh cửa, ông bảo tôi. “Hãy quên đôi mắt của con đi - thị lực là một quý cô lừa đảo - chỉ khi nào con tin tưởng các giác quan khác của con như con tin tưởng đôi mắt mình, lúc ấy con mới thực sự học được cách nhìn.”
Ông không cho tôi chăn đắp cho đến đêm thứ hai, ba đêm sau đó nữa tôi mới được cho một cái gối. Tôi mất hơn một tuần dưới đó, gần hai tuần. Phải đến khi tôi học được cách trân trọng bóng tối thì cha mới cho phép tôi quay lên gác. Và ông đã đúng, có rất nhiều cách để nhìn mà không cần phải dùng mắt. Tư duy con người thích ứng rất nhanh, sẽ tự tìm ra cách.
Có những âm thanh dưới tầng hầm đó.
Những âm thanh giờ tôi nghe thấy trong kho thóc này.
Tiếng bàn chân nhỏ bé chạy chỗ này chỗ kia. Tiếng lũ nhện thì thầm khi đan lưới. Trong một thế giới tối om như thế này, một thế giới mà đôi mắt tôi bị mù, có đến hàng triệu con mắt vẫn có thể nhìn thấy tôi, tôi cảm thấy tất cả bọn họ đang ngày càng tiến đến gần mình.
Không khí trong kho thóc mát mẻ hơn, tôi đứng im, thế nhưng tôi biết ngay tôi không ở một mình.
“Tớ biết cậu ở trong này.”
Giọng nói của tôi nghe to hơn tôi tưởng. Tôi không muốn làm nàng khiếp sợ. Tôi biết đó là Libby. Tôi không chắc làm thế nào tôi biết nhưng tôi biết vậy thôi. Tôi nghĩ mình đã nhận ra nàng ở đây ngay từ lúc tôi áp tai vào cửa phòng nàng ở trong nhà. Tôi biết chắc chắn nàng ở đây như tôi biết nàng đã rời khỏi Trung tâm Điều trị Camden vào cái ngày dường như rất lâu về trước, nhưng thực ra lại không lâu lắm.
“Libby, là tớ, Anson đây.”
Lại im lặng, và rồi…
“Có ai đi cùng cậu không?”
Giọng nàng vẳng đến từ trên đầu tôi về bên trái. Một giọng nói ngọt ngào, tựa thiên thần, ngân nga và du dương như nốt nhạc vậy. Một giọng nói tinh khiết như dòng suối trên núi. Một giọng nói có thể đọc cuốn danh bạ điện thoại ngân nga như thể đó là câu chuyện tuyệt mỹ nhất từng được kể.
“Chỉ có tớ thôi.” Tôi bảo nàng. “Cậu ở đâu thế?”
Ban đầu nàng không nói gì, nhưng tôi nghe thấy tiếng nàng sột soạt. Thứ gì đó rơi như mưa xuống từ trên cao, chạm vào làn da tôi mềm mại, bột hay là bụi.
“Bên tay trái cậu có một cái thang. Tớ đang ở trong vựa cỏ khô.”
Một ánh đèn tỏa sáng từ trên cao. Cái bóng nhảy nhót như hồn ma của ngọn lửa trải đều khắp kho thóc.
“Nhanh lên không có người thấy ánh đèn bây giờ.”
Tôi nhận ra cái thang tựa vào căn gác xép cách chỗ tôi đang đứng hơn mười bước chân. Trông nó có vẻ không chắc chắn lắm nhưng vẫn đủ cứng cáp. Tôi trèo mười bậc lên đền đầu cầu thang rồi bò vào sàn gác xép, lớp rơm khô dưới hai tay hai chân tôi kêu lạo xạo. Mặt đất dưới kia tưởng chừng như quá xa xôi.
Nằm trên một cái thùng thưa cũ bằng gỗ là chiếc đèn dầu nhỏ nhuốm bẩn bập bùng cháy trong góc xa. Libby vội vã đến bên cạnh đó, tựa lưng vào tường, đầu nàng chỉ quay sang vừa đủ để nhìn tôi. Tôi không thể thực sự nhìn thấy nàng; những cái bóng dính chặt vào nàng như một tấm chăn dày, tỏa sáng sau lưng nàng là ngọn đèn dầu. Nhưng ôi, sao tôi muốn nhìn thấy nàng đến thế. Làn da tôi nhức nhối bởi tôi cần được ngắm nàng.
“Nhanh lên, tớ tắt đèn đây.”
Tôi đứng dậy dợm bước về phía nàng, đang đi được nửa đường thì nàng tắt đèn. Ngay cả trong bóng tối bao trùm, tôi vẫn có thể nghe thấy tiếng nàng thở và tôi đi theo âm thanh đó. Tôi ngồi xuống đủ gần để cảm nhận được hơi ấm từ cơ thể nàng.
Quá gần, tôi nghĩ. Nàng sẽ dịch người ra xa mất.
Nhưng nàng không làm thế.
Tôi cố kiềm chế khao khát muốn tới gần hơn.
“Cậu đã ở Camden.” Nàng lặng lẽ nói. “Tớ thấy cậu ở đó.”
“Cậu cũng ở đó.” Nói câu này ngu ngốc thật, nhưng nó vừa bật ra. Tôi thấy căng thẳng, ngu ngốc vì tôi chưa bao giờ căng thẳng thế - khi ở bên mẹ hay cha, cô Carter hay bất kỳ ai khác đều không - thế nhưng giờ đây tôi chắc chắn thấy căng thẳng. Và một phần trong tôi thấy mừng khi cha không ở đây để thấy tôi. Tôi không chắc ông sẽ làm gì với người khiến tôi căng thẳng. Tôi có vài ý tưởng và thấy run rẩy.
“Cậu lạnh à?”
“Một chút.” Tôi đáp, dù tôi chẳng hề lạnh.
Nàng đang đắp một tấm chăn trên đôi chân mình, nàng trải góc chăn ra phủ lên chân tôi. Tấm chăn có mùi mốc, cũ kỹ và có thể đã bẩn thỉu vì bị bỏ không suốt bao năm trên gác xép nhưng thực ra tôi chẳng quan tâm, điều gì đó ở Libby bên cạnh tôi khiến mọi thứ đều ổn thỏa.
Đôi mắt tôi bắt đầu quen dần với bóng tối, chìm trong ánh trăng, sắc đen lộn xộn bên cạnh biến tôi thành cái bóng của nàng, ban đầu hẵng chưa rõ hình thù nhưng rồi ngày một rõ hơn. Nàng có đôi mắt đen. Một vết bầm tím nữa trên thái dương nàng. Một vết thứ ba quanh cổ nàng như thể ai đó đã bóp cổ nàng. Vài vết nữa trên cánh tay phải, vết nữa trên…
Nàng lảng tránh ánh mắt tôi, cúi đầu xuống.
“Xin lỗi, tớ không cố ý làm cậu khó chịu.”
“Không sao. Tớ cũng sẽ nhìn chằm chằm nếu thấy thôi.”
“Có đau không?”
“Có. Đau khủng khiếp, nhưng giờ nó đỡ rồi.”
Mặt dây chuyền của Libby lấp lánh trong ánh sáng lờ mờ trên sợi dây chuyền vàng đeo quanh cổ nàng. “Là do cậu gặp tai nạn hay có ai đó làm thế với cậu?” Đây không phải việc của tôi và lẽ ra tôi không nên hỏi, nhưng tôi muốn biết. Tôi muốn nàng nói đó là một tai nạn vì ý tưởng có kẻ nào đó làm thế với nàng thật khủng khiếp, là một chuyện tôi không muốn nghĩ đến.
“Chúng ta có thể đừng nói về chuyện này được không? Giờ tớ đã quên nó rồi. Tớ thà tập trung vào nơi tớ sắp đến, chứ không phải nơi tớ đã đến.”
“Được rồi.” Tôi có thể làm được, tôi muốn làm thế.
Tôi lại nhớ đến thanh kẹo Snickers bèn lấy nó ra từ trong túi, chìa ra cho nàng. “Có đói không?”
Nàng gật đầu, nhận lấy thanh kẹo rồi bóc lớp giấy gói. “Bẻ nửa nhé?”
Tôi chưa kịp trả lời nàng đã bẻ thanh kẹo ở giữa, một nửa cho vào miệng mình, một nửa đưa lên môi tôi. Tôi ăn xong ngay tắp lự và đây có thể là thanh kẹo ngọt ngào nhất tôi từng được ăn. Nàng liếm vị sô cô la trên các đầu ngón tay và mỉm cười. Nụ cười của nàng khiến tôi quên béng luôn thanh kẹo.
Nàng tựa lưng vào tường. “Mấy cô y tá ở Camden sợ cậu lắm đấy, có biết không?”
“Tại sao họ lại sợ tớ thế? “
“Bác sĩ Oglesby bảo với họ rằng cậu là đứa nguy hiểm. Ông ấy bảo cậu có thể đã giết chết cha mẹ mình. Ông nói có mấy xác chết trong nhà cậu khi họ tìm thấy cậu. Ba cái xác cả thảy.”
Tôi tự hỏi ông ta kể họ nghe lúc nào. Tôi nghĩ đó là ngày y tá Gilman không còn mỉm cười với tôi nữa.
“Tớ không giết cha mẹ tớ.”
“Thế còn những người khác họ phát hiện trong nhà cậu? Cậu có giết họ không?”
Nàng hỏi câu này thẳng thừng, không chút sợ hãi, như thể đang hỏi tôi ăn tối chưa hay màu sắc ưa thích của tôi là gì. Điều này nói gì về con người nàng? Cô gái này tôi chưa hề quen biết, nhưng tôi cảm thấy như đã quen biết nàng lâu rồi, và nàng đang ngồi kế bên tôi. Điều gì đã khiến cô gái không biết sợ thằng bé có xác chết giấu dưới tầng hầm nhỉ?
“Những kẻ ấy chẳng có việc gì trong nhà tớ.” Tôi nói với nàng. “Mọi hành động đều có hậu quả.”
Dưới tấm chăn, bàn tay nàng tìm tay tôi. Những ngón tay nàng đan vừa khéo vào những ngón tay tôi. “Chắc chắn rồi.”