Poole
Ngày 5 - 9:07 tối
“Lẽ ra tôi nên chuyển đi, nhưng chỉ là tôi không thể ép mình làm thế. Đây là ngôi nhà bố mẹ để lại cho tôi, là nơi tôi đã lớn lên.” Bà vợ góa của Derrick Hillbum, Robin Hillbum, ngước nhìn lên từ cốc trà đang cầm trên tay, hất đầu về phía những vết gạch trên cửa nhà bếp. “Là của tôi cả đấy, khi tôi hẵng còn là một đứa bé con. Từng vết gạch là từng tháng kể từ khi tôi biết đứng cho đến khi gần mười bốn tuổi - khi tôi không còn bé để chơi cái trò này nữa thì mới thôi.”
Poole ngồi đối diện bà ta trên chiếc bàn formica. Hai tay anh khum khum quanh cốc trà vẫn còn chưa uống. Vào lúc anh rời Phòng Cảnh sát Charleston đã quá tám giờ lâu rồi. Anh cân nhắc về phòng khách sạn ngủ qua đêm rồi khỏe khoắn thức dậy đón bình minh, nhưng anh biết mình sẽ không ngủ nổi, đặc biệt là sau khi Nash đã gọi kể cho anh nghe về xác của Vincent Weidner trong căn hộ của Porter.
Robin Hillbum tuổi ngoại năm mươi, ít nhất bà ta phải thừa đến hai mươi hai cân, mặc bộ đồ thể thao màu xám. Mái tóc rối tung của bà ta được buộc túm về sau thành đuôi ngựa và bà ta không trang điểm. Khi anh gõ cửa nhà bà ta sau chín giờ một lúc, bà ta nhìn chằm chằm thẻ của anh từ phía bên kia cửa, cách nhau một sợi xích. Khi anh nói lý do tại sao đứng trên ngưỡng cửa nhà bà ta, anh nghĩ bà ta sẽ đóng sầm cửa lại, nhưng thay vào đó bà ta lại thở dài rồi mời anh vào. “Cứ hai năm một lần, một người trong số các anh lại ghé qua. Có vẻ đêm nay sẽ là một trong những đêm không bình yên đó.”
Bà ta dẫn anh qua một phòng khách chật chội đến nhà bếp, bản thân căn nhà này đúng là một chiếc hộp thời gian với tấm thảm bờm xờm và giấy dán tường, mấy món đồ lặt vặt cùng đồ đạc nội thất đầy bụi. Trên ti vi một nhà truyền giáo lải nhải về sự thất bại của an sinh xã hội và Internet đang nuôi lớn bọn trẻ ra làm sao.
Robin nhấp một ngụm trà, chùi khóe miệng bằng mu bàn tay. “Khi Derrick… khi anh ấy mất… tất cả những gì tôi muốn làm là bỏ chạy, chạy khỏi cái nơi này càng xa càng tốt. Tôi đến ở nhà em gái tôi tại St. Louis trong vài tuần nhưng rồi sau một thời gian, tôi lại thấy nhớ nhà. Tôi quay về và Derrick thì không còn, tất cả mọi đồ đạc của anh ấy đều được gói ghém. Tất cả những thứ khác nhắc tôi nhớ về ngôi nhà - những gì tôi nhớ nhung - thì đều vẫn còn ở đây. Sau vài ngày, tôi ổn định mọi thứ trở lại. Như một tấm chăn cũ hay một cái ghế quen thuộc. Tôi không thể hình dung mình sống ở bất kỳ nơi nào khác. Tôi vẫn trông thấy nhiều thứ nhắc tôi nhớ Derrick vẫn ở quanh đây, nhưng nơi này là nhà của tôi từ lâu trước khi tôi gặp anh ấy, và tôi biết nó sẽ tiếp tục là nhà của tôi.”
Chẳng có cách nào tế nhị để hỏi câu này nên Poole nói thẳng luôn. “Bà đã tìm thấy ông ấy à?”
Robin gật đầu. “Tôi đi mua sắm tại cửa hàng tạp hóa và khi về nhà, tôi hét gọi anh ấy ra giúp tôi dỡ đồ xuống. Xe của anh ấy nằm trên lối xe vào nhà nên tôi biết anh ấy có nhà. Nhưng vào giây phút tôi bước qua cánh cửa đó, tôi đã chắc chắn có chuyện không ổn. Đầu tiên tôi kiểm tra trên gác, rồi đến các phòng tắm, tìm cả lối cửa sau nữa. Nhất thời tôi không nghĩ đến chuyện kiểm tra tầng hầm. Chẳng có gì dưới đó hết ngoài đồ giặt là và anh ấy hay tránh né xuống đó như tránh hủi nhưng sau khi đã kiểm tra mọi nơi khác và không tìm ra anh ấy, tôi đã xuống dưới đó.” Bà ta ngừng lại rồi thổi cốc trà. “Khi lần đầu tiên trông thấy anh ấy, tôi cảm thấy như không thực. Cảm thấy như thể đang xem một cảnh phim nào đó. Anh ấy treo cổ mình trên những chiếc rui xà hoàn toàn cứng đơ, chẳng có thứ gì chuyển động. Tôi không giải thích được, nhưng ý nghĩ đầu tiên nổ bùng trong đầu tôi đó là anh ấy kiếm được dây thừng ở đâu nhỉ? Tôi đã không biết. Hóa ra là tờ hóa đơn nằm trong túi áo anh ấy, anh ấy đã mua nó vào buổi sáng.” Bà ta xua xua tay. “Có một giọng nói trong đầu tôi - anh ấy không làm thế, một kẻ khác đã làm thế, đặc biệt sau khi đọc lời nhắn. Nhưng sau đó tôi biết anh ấy đã làm thế, chính tờ biên lai chết tiệt đó đã thuyết phục tôi.”
“Có thể ai đó cố tình ngụy tạo tờ hóa đơn thì sao?”
“Không. Chẳng có cơ hội nào hết.”
“Làm sao bà chắc chắn vậy?”
Robin thở dài. “Derrick rất hay làm trò với mấy cái hóa đơn, anh ấy thích cuộn chúng lại. Tôi toàn thấy chúng như thế trong túi áo anh ấy suốt, trăm lần như một. Cái hóa đơn này cũng bị cuộn lại y nguyên mấy cái trước.”
Một người đồng đội sẽ biết. Đồng đội hiểu nhau còn hơn cả những cặp vợ chồng yêu nhau say đắm nhất.
Poole xua ý nghĩ này ra khỏi đầu. “Ông ấy có hay nhắc đến cái tên Rose Finicky với bà không?”
Bà ta lắc đầu.
“Còn Vincent Weidner?”
“Không.”
“Thế còn Thanh tra Freddy Welderman hay Ezra Stocks?”
“Tôi nghĩ mình nhớ một cái tên như Ezra. Anh ấy chưa bao giờ nói đến bất kỳ ai tên là Freddy.”
“Anson Bishop thì sao?”
Bà ta nhấp thêm một ngụm trà nữa. “Tôi biết cái tên này trên ti vi nhưng Derrick đã mất rất lâu trước khi tất cả những chuyện này xuất hiện.”
“Thế còn gã buôn ma túy tên là Weasel?” Bà ta lại lắc đầu.
“Ông ta có thảo luận chút gì về công việc của mình với bà không?”
“Chỉ về chuyện anh ấy không thích nó lắm và đang nghĩ đến sự thay đổi thôi. Anh ấy nói về nó rất nhiều nhưng chỉ là nói thế thôi. Anh ấy làm trong ngành thực thi pháp luật với mong muốn giúp đỡ mọi người. Derrick là một linh hồn nhân hậu như thế. Giống như mọi thằng nhóc khác, anh ấy lớn lên nuôi mộng làm cảnh sát, nhưng khi sa chân vào thế giới này rồi, anh ấy mới nhận ra nó chẳng hề giống trên ti vi. Tôi hình dung anh hiểu ý tôi. Anh ấy trải qua hết ca làm việc này tới ca làm việc khác phải đối mặt với những điều xấu xa nhất của con người, việc ấy đã vắt kiệt anh ấy. Cả hai chúng tôi đều lớn lên cùng Kinh Thánh, và anh ấy nghĩ rằng mình có thể giúp đỡ mọi người. Sau vài năm làm công việc này, anh ấy đã hiểu điều đó không đúng. Thay vì ánh sáng, những gì anh ấy nhìn thấy lại chỉ là bóng tối. Bóng tối đã nuốt chửng anh ấy. Derrick bị trầm cảm. Rõ ràng, nó nặng hơn so với tôi hình dung.”
“Ông ấy có làm việc cùng đồng đội không?”
“Ai cơ? Anh ấy có hai người.”
“Sam Porter.”
“Có phải anh ta bị bắn không?”
Poole gật đầu.
“Trong thời gian làm nhiệm vụ ngoài đó, hai người khăng khít với nhau lắm. Như anh em vậy. Khi Sam bị bắn, Derrick hoảng sợ lắm. Giờ nghĩ lại tôi thấy đó chính là sự khởi đầu cho vết trượt của anh ấy. Anh ấy tự oán trách bản thân. Tôi đoán đồng đội nào cũng thế cả thôi. Anh ấy hơi sa đà vào rượu chè một thời gian sau khi Sam bỏ đi. Thật may mắn anh ấy không nghiện nó. Giả sử nếu anh ấy nghiện, hẳn anh ấy sẽ không còn gắn bó quá lâu với công việc này như thế nữa. Tôi có thể cho anh biết một chuyện - Sam là người đồng đội duy nhất anh ấy từng đưa về nhà mình ăn tối. Tôi nghĩ anh ấy chưa từng quá thân thiết với ai sau tất cả những chuyện đó. Sau khi Sam bỏ đi, anh ấy dành nhiều thời gian ở nhà hơn, tôi chắc chắn điều đó.”
“Derrick có đi du lịch không?”
Robin gật đầu. “Anh ấy cùng Sam có đi vài chuyến thâu đêm vì vụ này vụ kia. Anh ấy chẳng bao giờ nói là những vụ gì. Tôi cũng không hỏi. Tôi cho rằng anh ấy sẽ nói với tôi nếu anh ấy muốn.”
“Bà có biết họ đi đâu không?”
Bà ta lắc đầu. “Họ lái xe đi, nhưng không đi quá xa.”
Poole liếc nhìn quanh căn bếp, vào những ngăn tủ chật chội. “Bà nói rằng sau khi Derrick chết, bà sống với người em gái trong vài tuần và trong khi bà đi vắng, ai đó đã đến sắp xếp lại các đồ đạc của ông ấy?”
Bà ta gật đầu. “Vài anh chàng trong cùng lực lượng. Họ cho hết tất cả mọi thứ vào thùng rồi cất trong garage. Tất cả vẫn còn ở ngoài đó. Anh cứ việc xem qua chúng nếu anh thích. Chỉ làm cho tôi một việc thôi - bất cứ thứ gì mà anh không muốn, cứ vứt nó ra ngoài đường ấy. Tôi nghĩ đã đến lúc tôi tự giải phóng mình khỏi mấy thứ ấy rồi.”